02103 847 407 | phutho@nso.gov.vn

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 01 năm 2025

03/02/2025 08:35

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản

1.1. Sản xuất nông nghiệp

a. Trồng trọt:

Tháng 01/2025, các địa phương trong tỉnh tập trung thu hoạch cây trồng vụ Đông để đảm bảo tiến độ gieo trồng vụ Xuân năm 2025. Tính đến hết ngày 20/01/2025, toàn tỉnh đã hoàn tất thu hoạch các cây trồng chính như ngô, khoai lang và rau màu; tiến độ gieo trồng cây vụ Xuân đạt 7.451,1 ha, trong đó diện tích lúa ước đạt 7.123,0 ha, chiếm 95,6%, tăng gần 97% so với cùng thời điểm năm trước.

b. Chăn nuôi:

Trong kỳ, ngành chăn nuôi đẩy mạnh hướng dẫn quy trình chăn nuôi an toàn sinh học. Đồng thời, khuyến cáo biện pháp phòng chống rét, dịch bệnh để đảm bảo nguồn cung thực phẩm dịp Tết. Tháng 01/2025, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng cao, đáp ứng nguồn cung thực phẩm cho dịp Tết Cổ truyền. Tổng sản lượng thịt hơi ước đạt 14.636 tấn, tăng 14,67% so với cùng kỳ; trong đó thịt lợn đạt 9.568 tấn, tăng 15,77%; sản lượng thịt gia cầm đạt 4.455 tấn, tăng 13,50%. Sản lượng sữa bò tươi đạt 5,2 nghìn tấn, tăng 0,38%; sản lượng trứng gia cầm đạt 73,6 triệu quả, tăng 3,50%.

1.2. Sản xuất lâm nghiệp

Ước tính tháng 01/2025, toàn tỉnh đã trồng được 3 ha rừng sản xuất tại huyện Lập Thạch; sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 3.529,8 m³, tăng 4,18%; sản lượng củi khai thác đạt 2.564 Ste tăng 0,02% so cùng kỳ.

1.3. Sản xuất thủy sản

Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1.944,5 tấn, tăng 0,42% (+8,1 tấn). Trong đó, sản lượng cá nuôi trồng ước đạt 1.943,9 tấn, tăng 0,42%; sản lượng thủy sản khác ước đạt 0,6 tấn, tăng 3,23%.

2. Sản xuất công nghiệp

Tháng 01/2025, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, các doanh nghiệp đã chủ động triển khai kế hoạch từ đầu năm. Tuy nhiên, do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Ất Tỵ kéo dài, số ngày sản xuất giảm 5-7 ngày, khiến sản lượng nhiều ngành công nghiệp giảm so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Tháng 01/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) ước giảm 20,53% so với tháng trước và giảm 6,97% so với cùng kỳ.

- So với tháng trước, chỉ số IIP của ngành khai khoáng giữ ổn định; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 20,75%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,25%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,85%.

- So với cùng kỳ, chỉ số IIP của ngành khai khoáng giảm 61,96%[1]; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,18%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 11,37%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 21,69%.

Sản lượng sản xuất một số sản phẩm: Tháng 01/2025, ngoài sản lượng thức ăn chăn nuôi và giày thể thao các loại tăng so với cùng kỳ năm trước, sản lượng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu còn lại đều giảm; trong đó, giảm nhiều nhất là sản phẩm máy tính xách tay với mức giảm 28,53%.

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 01/2025, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 0,40% so với cùng kỳ.

Chỉ số tiêu thụ: Tháng 01/2025, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 24,54% so với tháng trước và giảm 13,83% so với cùng kỳ. So với tháng trước.

Chỉ số tồn kho: Tháng 01/2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho giảm 5,0% so với tháng trước và giảm 33,51% so với cùng kỳ.

3. Đầu tư

3.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước

Năm 2025, Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách Nhà nước tỉnh được giao theo Quyết định 1943/QĐ-UBND ngày 24/12/2024 là 6.898,4 tỷ đồng, thấp hơn 869,3 tỷ đồng so với dự toán giao đầu năm 2024. Cụ thể: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh là 3.095,8 tỷ đồng; cấp huyện và xã là 2.652,6 tỷ đồng (trong đó, nguồn nguyên tắc và tiêu chí là 1.177,6 tỷ đồng và nguồn thu tiền sử dụng đất là 1.475,0 tỷ đồng).

Ước tính vốn đầu tư ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý thực hiện tháng 01/2025 đạt 412,8 tỷ đồng, bằng 5,98% vốn kế hoạch năm 2025; giảm 35,26% so với tháng trước và giảm 9,96% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do kỳ nghỉ Tết kéo dài và nhiều công trình mới đang trong giai đoạn chuẩn bị. Về cơ cấu, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 175,2 tỷ đồng, cấp huyện 117,4 tỷ đồng và cấp xã 120,3 tỷ đồng.

3.2. Tình hình thu hút đầu tư

Ngay từ tháng đầu năm, tỉnh Vĩnh Phúc ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trong hoạt động đầu tư, đặc biệt là các dự án trong nước (DDI). Theo số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, đến ngày 15/01/2025, toàn tỉnh đã thu hút được 03 dự án DDI (01 dự án cấp mới, 02 dự án điều chỉnh vốn). Tổng vốn đăng ký đạt 160,22 tỷ đồng tăng gấp 10 lần so với cùng kỳ.

Khu vực FDI trong tháng 01/2025 có 07 dự án được cấp phép, gồm 01 dự án mới và 06 dự án điều chỉnh vốn. Tổng vốn đăng ký đạt 25,52 triệu USD, bằng 36,74% so với cùng kỳ. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực ưu tiên phát triển với 07 dự án đầu tư, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển tỉnh theo hướng công nghiệp hiện đại.

4. Thương mại, dịch vụ

Tháng 01/2025, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục diễn ra sôi động, nhờ các chương trình xúc tiến, bình ổn giá và kích cầu tiêu dùng nhân dịp Tết Nguyên đán. Nhu cầu mua sắm, sử dụng dịch vụ của người dân gia tăng, góp phần thúc đẩy doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, mặc dù một số hoạt động kinh doanh tạm dừng trong kỳ nghỉ lễ.

4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 01/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.447,3 tỷ đồng, giảm 0,06% so với tháng trước nhưng tăng 9,80% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, doanh thu từ cả bốn nhóm ngành hàng đều tăng trưởng so với cùng kỳ, cụ thể:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 01/2025 đạt 6.013,2 tỷ đồng, chiếm 80,74% tổng mức, tăng 0,56% so với tháng trước và tăng 10,09% so với cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 01/2025 đạt 587,1 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 10,56% so với cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành tháng 01/2025 đạt 15,6 tỷ đồng, giảm 4,57% so với tháng trước nhưng tăng 15,74% so với cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ khác tháng 01/2025 đạt 831,4 tỷ đồng, giảm 4,64% so với tháng trước nhưng tăng 7,11% so với cùng kỳ. Nhu cầu sử dụng các dịch vụ giải trí, làm đẹp, sửa chữa nhà cửa tăng mạnh trước Tết và sự phát triển của thương mại điện tử thúc đẩy góp phần vào tăng trưởng doanh thu.

4.2. Vận tải hành khách và hàng hoá

Tháng 01/2025, nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán, tổng doanh thu ngành vận tải kho bãi ước đạt 721,1 tỷ đồng, giảm 6,18% so với tháng trước nhưng tăng 6,51% so với cùng kỳ.

Vận tải hành khách: Doanh thu vận tải hành khách tháng 01/2025 ước đạt 136,1 tỷ đồng, tăng 8,24% so với tháng trước và 67,85% so với cùng kỳ. Tổng số hành khách vận chuyển trong tháng đạt 4,3 triệu lượt, luân chuyển đạt 234,7 triệu HK.km. Nhu cầu di chuyển tăng cao trong dịp Tết cùng với việc mở rộng mạng lưới xe buýt, xe khách và hoàn thiện các tuyến đường trọng điểm đã góp phần thúc đẩy doanh thu.

Vận tải hàng hóa: Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 01/2025 ước đạt 492,4 tỷ đồng, giảm 10,56% so với tháng trước và giảm 7,79% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải đường bộ đạt 364,0 tỷ đồng, vận tải đường thủy đạt 128,4 tỷ đồng. Tổng khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 2,9 triệu tấn; luân chuyển đạt 324,0 triệu tấn.km, giảm nhẹ so với cùng kỳ. Nguyên nhân do kỳ nghỉ Tết kéo dài, nhiều doanh nghiệp tạm dừng hoạt động hoặc giảm công suất.

Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát:

Tháng 01/2025, doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ và bưu chính chuyển phát ước đạt 92,5 tỷ đồng, tăng 0,32% so với tháng trước và tăng mạnh 49,48% so với cùng kỳ. Tỷ trọng doanh thu từ lĩnh vực này tiếp tục có xu hướng gia tăng nhờ vào sự phát triển mạnh của thương mại điện tử, nhu cầu lưu kho và giao hàng tăng cao dịp cuối năm, cùng với việc trung tâm Logistic ICD Vĩnh Phúc phát huy hiệu quả khai thác.

5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

5.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước

Dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2025 tỉnh Vĩnh Phúc được xây dựng nhằm đảm bảo an toàn, bền vững và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Tỉnh chú trọng tăng cường huy động, quản lý, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính. Đồng thời, siết chặt kỷ cương tài chính và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, môi trường, quốc phòng và an ninh. Kế hoạch thu NSNN năm 2025 là 27.026 tỷ, trong đó thu nội địa 22.026 tỷ đồng; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 5.000 tỷ đồng. Dự toán chi cân đối ngân sách địa phương là 20.182,3 tỷ đồng. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 5.748,3 tỷ đồng, chi thường xuyên là 10.325,1 tỷ đồng.

Hầu hết doanh nghiệp đang hoàn thiện hồ sơ quyết toán thuế năm 2024, dẫn đến thu ngân sách tháng 01/2025 giảm so với cùng kỳ. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 20/01/2025 thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 1.122,7 tỷ đồng, bằng 69,13% so với cùng kỳ. Tổng chi NSNN đạt 1.309,8 tỷ đồng, tăng 78,01% so với cùng kỳ, chủ yếu là các khoản chi ngân sách năm 2024 được kéo dài thực hiện chi trong tháng 01/2025.

5.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, do đó việc đẩy mạnh các động lực thúc đẩy tăng trưởng như tín dụng, vốn đầu tư,... là rất cần thiết. Ngành Ngân hàng xây dựng mục tiêu tăng trưởng cho năm 2025 với huy động vốn tăng 10-12%, tín dụng tăng 11-13% (cao hơn 1% so với kế hoạch năm 2024), đồng thời duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn (dưới 3%).

Tổng nguồn vốn huy động dự kiến đến 31/01/2025 ước đạt 140 nghìn tỷ đồng, tăng 0,26% so với cuối năm 2024. Lượng tiền nhàn rỗi trong ngắn hạn gia tăng trong bối cảnh các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản và vàng có nhiều biến động, tiền gửi ngân hàng tiếp tục là kênh lưu trữ tài sản an toàn và đáng tin cậy của người dân, tác động gia tăng ở cả 2 nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tiền gửi các tổ chức kinh tế với mức tăng lần lượt là 0,27% và 0,25% so với cuối năm 2024.

Tổng dư nợ cho vay đến 31/01/2025 ước đạt 144.000 tỷ đồng, tăng 0,51% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, ước đạt 107,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 74,44% tổng dư nợ, tăng 0,67%; dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 36,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,56%, tăng 0,05% so với cuối năm 2024. Cơ cấu dư nợ tiếp tục tập trung vào các hoạt động sản xuất, dịch vụ và đầu tư phát triển, trong đó dư nợ khu vực hộ gia đình, tư nhân, cá thể chiếm 59,82% tổng dư nợ và dư nợ khu vực doanh nghiệp chiếm 39,89% tổng dư nợ.

Nợ xấu toàn địa bàn ước đến 31/01/2025 là 1,2 nghìn tỷ đồng; chiếm tỷ lệ 0,85% trên tổng dư nợ.

5.3. Bảo hiểm

Tháng 01/2025, Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh đã xây dựng dự toán, kế hoạch thu, chỉ tiêu phấn đấu giảm nợ BHXH, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp cho BHXH huyện, thành phố. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, tuyên truyền về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đến nhân dân, tạo sự lan tỏa sâu rộng, nhất là đối với nhóm đối tượng là nông dân, người lao động tự do. Ước tính đến 31/01/2025, có 264.142 người tham gia BHXH, chiếm 43,52% lực lượng lao động (bao gồm: BHXH bắt buộc: 265.458 người; BHXH tự nguyện: 25.691 người); tham gia BH thất nghiệp: 230.017 người, chiếm 37,89% lực lượng lao động; tham gia BHYT: 1.148.487 người, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 94,81% dân số.

Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại ước tính đến 31/01/2025 đạt 588,96 tỷ đồng, tăng 29,78% so với cùng kỳ năm trước. Công tác chi trả, nhất là trả lương hưu và trợ cấp BHXH được thực hiện đồng bộ, nhanh gọn và an toàn đến tận tay đối tượng. Qua đó, trong tháng một BHXH tỉnh đã giải quyết hưởng BHXH hàng tháng cho 62 người; giải quyết hưởng BHXH một lần cho 832 người; giải quyết ốm đau, thai sản, dưỡng sức cho 9.664 lượt người; lập danh sách chi trả cho 620 lượt người hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

6. Chỉ số giá tiêu dùng

Trong tháng Một năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,84% so với tháng trước, chủ yếu do nhu cầu mua sắm cao trong dịp Tết Nguyên đán và việc áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Nghị quyết số 20/2024/NQ-HĐND. So với cùng kỳ năm 2024, CPI tăng 1,55%.

So với tháng trước, chỉ số CPI tăng 0,84%, trong đó khu vực thành thị tăng 0,77%, khu vực nông thôn tăng 0,88%. Có 8 nhóm hàng tăng giá, 2 nhóm giảm giá và 1 nhóm không thay đổi. Trong đó: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,23%, đóng góp 0,80 điểm phần trăm, là nhóm có mức đóng góp cao nhất do áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Nghị quyết số 20/2024/NQ-HĐND; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,02%, đóng góp 0,68 điểm phần trăm, trong đó thực phẩm tăng 0,26%, giá lương thực giảm 1,49%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,16%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào CPI chung, chủ yếu do giá nhà ở thuê tăng và giá dầu hỏa tăng 3,28%.

So với cùng kỳ năm trước, CPI tăng 1,55%, với 7 nhóm hàng tăng và 4 nhóm giảm. Trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,77%, đóng góp 1,59 điểm phần trăm, trong đó thực phẩm tăng 5,37%, ăn uống ngoài gia đình tăng 1,48%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,71%, đóng góp 0,84 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thuê nhà và vật liệu xây dựng tăng; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,28%, đóng góp 0,80 điểm phần trăm, do áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Nghị quyết số 20/2024/NQ-HĐND; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,89%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm, chủ yếu do tăng giá dịch vụ cá nhân và đồ trang sức theo xu hướng giá vàng. Ngược chiều, nhóm giáo dục giảm 25,19%, làm CPI giảm 1,63 điểm phần trăm, do chính sách hỗ trợ học phí của tỉnh theo Nghị quyết số 11/2024/NQ-HĐND; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 5,76%, làm CPI giảm 0,41 điểm phần trăm, do các chương trình giảm giá kích cầu tiêu dùng; nhóm giao thông giảm 0,11%, làm CPI giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá xăng dầu trong nước giảm theo thị trường thế giới.

Chỉ số giá tháng 01/2025 so cùng kỳ (%) - Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 01/2025 tăng 1,00% so với tháng trước; tăng 32,02% so với cùng kỳ năm 2024. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,35% so với tháng trước và tăng 4,59% so với cùng kỳ năm trước.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động việc làm

Tính từ ngày 15/12/2024 đến 14/01/2025, số lao động thôi việc, mất việc là 1.167 người, giảm 440 người so với tháng trước nhưng tăng 447 người so với cùng kỳ. Trong kỳ, không có lao động nghỉ giãn việc, giảm 20 người so với tháng 12/2024 (trong khi tháng 01/2024 có 1.952 lao động nghỉ giãn việc) cho thấy sự ổn định hơn của thị trường lao động trong giai đoạn đầu năm.

Chỉ số sử dụng lao động trong lĩnh vực công nghiệp tháng 01/2025 tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 0,40% so với cùng kỳ, phản ánh tín hiệu tích cực về nhu cầu lao động của doanh nghiệp.

Công tác hỗ trợ lao động tiếp tục được triển khai thông qua các chương trình tư vấn việc làm, đào tạo nâng cao tay nghề và kết nối cung - cầu lao động. Tính đến ngày 15/01/2025, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 1.007 lao động, giảm 54,08% so cùng kỳ. Trong đó: giải quyết 156 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 315 việc làm trong khu vực công nghiệp - xây dựng; 521 việc làm khu vực dịch vụ; 15 người đi xuất khẩu lao động.

2. Giáo dục, đào tạo

Trong tháng 01/2025, nhiều trường học trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức các lễ hội hướng đến việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc. Các hoạt động như "Ngày hội Bánh chưng xanh" được triển khai rộng rãi, tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm gói bánh chưng cùng giáo viên và phụ huynh. Những chương trình này không chỉ giúp các em hiểu biết sâu sắc hơn về phong tục tập quán truyền thống mà còn tăng cường tình cảm gia đình và cộng đồng.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 24/2024/TT-BGDĐT vào ngày 24/12/2024, quy định về Quy chế thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông từ năm 2025. Theo đó, kỳ thi sẽ được tổ chức thành 3 buổi thi, gồm: 1 buổi thi môn Ngữ văn, 1 buổi thi môn Toán và 1 buổi thi bài thi tự chọn. Các thí sinh sẽ được sắp xếp theo tổ hợp bài thi tự chọn để tối ưu phòng thi, điểm thi. So với những năm trước, số buổi thi giảm từ 4 xuống còn 3, số môn thi giảm từ 6 xuống còn 4, qua đó giảm áp lực và chi phí nhưng vẫn đảm bảo chất lượng kỳ thi.

3. Y tế

Các ngành chức năng của tỉnh đã thực hiện tốt hoạt động phòng, chống dịch bệnh. Chủ động tiếp nhận thông tin để kịp thời triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; giám sát chặt chẽ các trường hợp mắc, nghi ngờ mắc các bệnh truyền nhiễm, không để dịch lớn xảy ra trên địa bàn. Các ca bệnh truyền nhiễm đã phát hiện từ ngày 01/12/2024 đến 31/12/2024 gồm: Tay chân miệng 07 ca (giảm 03 ca so với tháng trước), Thủy đậu 21 ca (tăng 16 ca), Sởi 09 ca (tăng 07 ca), Bệnh do vi rút Adeno 05 ca (tăng 03 ca), Ho gà 01 ca … Các ca bệnh truyền nhiễm trong tháng chưa ghi nhận trường hợp tử vong.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Để đảm bảo VSATTP trong dịp Tết Nguyên Đán Ất Tỵ phục vụ nhân dân đón Tết, vui Xuân an toàn Ban chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 252/KH-BCĐLNATTP ngày 27/12/2024 của Ban chỉ đạo về Triển khai công tác đảm bảo an toàn thực phẩm Tết Nguyên đán Ất Tỵ và mùa Lễ hội Xuân 2025. Cụ thể, từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/01/2025, các đoàn thanh, kiểm tra liên ngành đã tiến hành kiểm tra ở 178 cơ sở sản xuất thực phẩm, kinh doanh thực phẩm và kinh doanh dịch vụ ăn uống. Kết quả, 178 cơ sở đều đạt quy định về an toàn thực phẩm. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh chưa phát hiện ngộ độc thực phẩm.

 4. Văn hóa, thể thao

Trong tháng 01/2025, tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức nhiều sự kiện văn hóa đặc sắc, chuẩn bị chào đón Tết Nguyên đán Ất Tỵ. Tối ngày 31/12/2024, Trung tâm Văn hóa tỉnh đã tổ chức chương trình nghệ thuật "Chào năm mới 2025" tại sảnh Nhà hát tỉnh, thành phố Vĩnh Yên, thu hút đông đảo người dân và du khách tham dự. Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao mừng Đảng, mừng Xuân cũng được triển khai rộng rãi, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.

Ngày 01/10/2024, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức họp về kế hoạch tổ chức Đại hội Thể dục - Thể thao (TDTT) các cấp lần thứ VII, dự kiến diễn ra từ năm 2025 đến 2026, nhằm đánh giá phong trào thể dục thể thao quần chúng và lựa chọn vận động viên tham gia Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Theo kế hoạch, dự kiến Đại hội cấp xã tổ chức trong thời gian từ 1/7 đến 31/8/2025, lựa chọn xã Cao Phong, huyện Sông Lô và phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên tổ chức Đại hội điểm; Đại hội cấp huyện, ngành tổ chức từ 1/9 đến 31/12/2025, lựa chọn huyện Vĩnh Tường tổ chức Đại hội điểm; Đại hội TDTT tỉnh lần thứ VII tổ chức trong thời gian từ tháng 3 - 4/2026, tổ chức thi đấu từ 15 môn thể thao trở lên, trong đó có bộ môn Pickleball lần đầu tiên đưa vào thi đấu.

5. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy nổ và bảo vệ môi trường.

Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 74 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (giảm 05 vụ so với tháng trước) làm 07 người chết và 11 người bị thương, thiệt hại tài sản 2.985,73 triệu đồng, đã điều tra làm rõ 64/74 vụ (đạt 86,48%), bắt giữ 100 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 982,8 triệu đồng.

Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/01/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 28 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 16 người chết và 24 người bị thương (so với tháng trước tăng 01 vụ, tăng 03 người chết, tăng 02 người bị thương).

Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/01/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 13 vụ cháy, nổ (giảm 04 vụ so với tháng trước) với số tiền thiệt hại là trên 19,10 triệu đồng.

Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/01/2025, toàn tỉnh đã phát hiện 62 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 58 vụ với số tiền xử phạt là 187,33 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm tăng 48 vụ (tăng 342,86%); số vụ xử phạt tăng 46 vụ (tăng 383,33%); số tiền xử phạt giảm 1.034,42 triệu đồng (giảm 84,67%)./.