Báo cáo kinh tế xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2026
- 13/08/2026 14:14
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ tháng 7 và 7 tháng năm 2026Tháng 7 năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Sản xuất nông nghiệp bảo đảm tiến độ thời vụ; công nghiệp tăng trưởng khá; thương mại, dịch vụ phát triển; chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát; thu ngân sách, tín dụng và thu hút đầu tư đạt nhiều kết quả tích cực; các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm, đời sống nhân dân cơ bản ổn định.Nông nghiệp ổn định, sản xuất công nghiệp tăng mạnhSản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc cây trồng vụ mùa, chăn nuôi duy trì ổn định, dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi được kiểm soát. Đến ngày 20/7, diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa ước đạt 104,9 nghìn ha, tăng 1,9% so với cùng kỳ; sản lượng thủy sản nuôi trồng 7 tháng đạt gần 44 nghìn tấn, tăng 4,7%.Công nghiệp tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 7 tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 7 tháng tăng 24,3%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 25,18%. Nhiều ngành chủ lực như sản xuất linh kiện điện tử, xe có động cơ, thiết bị điện, giấy và sản phẩm từ giấy duy trì mức tăng trưởng cao.Thu hút đầu tư, doanh nghiệp và ngân sách đạt kết quả tích cựcTính đến ngày 15/7/2026, tỉnh thu hút 67 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 1,352 tỷ USD, tăng 89,5% so với cùng kỳ; thu hút 95 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 33.069 tỷ đồng.Đến ngày 20/7, toàn tỉnh có 2.943 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 21,1% về số lượng và tăng 37,8% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước.Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 36,5 nghìn tỷ đồng, tăng 19,1%; tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt khoảng 344,9 nghìn tỷ đồng, dư nợ tín dụng đạt 399 nghìn tỷ đồng, chất lượng tín dụng tiếp tục được kiểm soát tốt.Thương mại, dịch vụ tiếp tục tăng trưởngHoạt động thương mại, dịch vụ duy trì đà tăng tích cực. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7 ước đạt 13.782,5 tỷ đồng, tăng 19,3% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng đạt 91.227,2 tỷ đồng, tăng 15,3%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7 tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 4,54% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh mặt bằng giá cơ bản được kiểm soát.Các lĩnh vực văn hóa - xã hội được quan tâmNgành giáo dục tích cực chuẩn bị cho năm học mới; công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả; không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm trong tháng. Các hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi; công tác bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trường tiếp tục được tăng cường.Nhìn chung, tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực, tạo nền tảng thuận lợi để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của năm 2026.
Báo cáo kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2026
- 13/08/2026 14:02
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cựcTrong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều biến động, căng thẳng địa chính trị gia tăng, giá nguyên vật liệu đầu vào còn ở mức cao và sức mua thị trường phục hồi chậm, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ 6 tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì ổn định và đạt nhiều kết quả tích cực trên hầu hết các lĩnh vực.Điểm sáng nổi bật là tăng trưởng kinh tế tiếp tục đạt mức cao. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 10,18% so với cùng kỳ năm trước, đứng thứ nhất khu vực Trung du và miền núi phía Bắc và thứ 7/34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Quy mô GRDP theo giá hiện hành ước đạt 215,3 nghìn tỷ đồng, tăng 24,7 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 14,89%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế.Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì ổn định. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân đạt 169,2 nghìn ha, giảm 0,8%; sản lượng lương thực có hạt đạt khoảng 692 nghìn tấn, tăng 0,6%; trong đó sản lượng lúa đạt 503,6 nghìn tấn, tăng 0,9%. Chăn nuôi phát triển khá khi tổng đàn lợn đạt 1,57 triệu con, tăng 3,8%; đàn gia cầm đạt trên 37,6 triệu con, tăng 2,15%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 798,8 nghìn m³, tăng 6,1%; sản lượng thủy sản đạt 40,9 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ.Lĩnh vực công nghiệp tiếp tục là điểm nhấn của tăng trưởng kinh tế. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm tăng 25,14%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 25,79%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng cao như máy tính xách tay đạt 18,9 triệu sản phẩm, tăng 43,9%; xe máy đạt 905 nghìn chiếc, tăng 9,9%; điện sản xuất đạt 4.719 triệu kWh, tăng 19,2%. Tuy nhiên, một số ngành như sản xuất ô tô, dệt may và chế biến gỗ vẫn gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ phục hồi chậm.Hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục tăng trưởng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm đạt 77.174 tỷ đồng, tăng 14,2% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 56.619 tỷ đồng, tăng 15,6%; doanh thu lưu trú, ăn uống đạt 9.224 tỷ đồng, tăng 10,5%; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 479 tỷ đồng, tăng 10,5%. Hoạt động vận tải duy trì ổn định với 67,8 triệu tấn hàng hóa được vận chuyển, tăng 17,1%, và 39,6 triệu lượt hành khách, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước.Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đến ngày 15/6 đạt 32,2 nghìn tỷ đồng, tăng 23,1% so với cùng kỳ; thu nội địa đạt 29,1 nghìn tỷ đồng, tăng 26,7%. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 69.444 tỷ đồng, tăng 14,2%, trong đó vốn ngoài Nhà nước tăng 16%, vốn FDI tăng 16,1%. Thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm sáng với 48 dự án FDI, tổng vốn đăng ký 1,352 tỷ USD, tăng 2,5 lần so với cùng kỳ, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo. Toàn tỉnh có 2.628 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 11,7%, với tổng vốn đăng ký 28,8 nghìn tỷ đồng.Công tác điều hành giá được thực hiện hiệu quả, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước.Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 36.759 lao động, đạt 71,5% kế hoạch năm; có 2.966 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Công tác an sinh xã hội được triển khai kịp thời với hàng trăm tỷ đồng hỗ trợ người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và hộ nghèo. Chất lượng giáo dục tiếp tục được giữ vững, tỉnh có 229 học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, xếp thứ 3/34 tỉnh, thành phố. Công tác y tế được tăng cường, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, toàn tỉnh ghi nhận 16 ca sốt xuất huyết, 133 ca nghi sởi và không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm.Bên cạnh những kết quả đạt được, tỉnh vẫn đối mặt với một số khó khăn như diễn biến thời tiết cực đoan, thiên tai gây thiệt hại trên 53,7 tỷ đồng, một số ngành sản xuất còn khó khăn về tiêu thụ sản phẩm, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và giải thể vẫn ở mức cao.Nhìn chung, 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, nhiều chỉ tiêu chủ yếu đạt mức tăng cao so với cùng kỳ, tạo nền tảng quan trọng để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
Báo cáo kinh tế xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026
- 13/08/2026 13:09
Trong 5 tháng đầu năm 2026, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn do chi phí sản xuất ở mức cao và sức mua thị trường phục hồi chậm, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ vẫn tiếp tục duy trì sự ổn định và gặt hái được nhiều kết quả khởi sắc trên nhiều lĩnh vực nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành.1. Sản xuất Nông, Lâm nghiệp và Thủy sảnTrồng trọt: Tính đến ngày 20/5/2026, diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ xuân ước đạt 131,1 nghìn ha (giảm 1% so với cùng kỳ). Trong đó, diện tích lúa ước đạt 80 nghìn ha (giảm 0,5%), diện tích ngô ước đạt 22,6 nghìn ha (giảm 0,9%). Tình hình sâu bệnh rải rác đã được kiểm soát kịp thời, không làm ảnh hưởng đến năng suất.Chăn nuôi: Phát triển ổn định và không có dịch bệnh lớn xảy ra. So với cùng thời điểm năm trước, đàn lợn tăng 3,7% (đạt 1.586,7 nghìn con), đàn gia cầm tăng 3,8% (đạt 37,9 triệu con); trong khi đàn trâu giảm 8,5% và đàn bò giảm 4,9%.Lâm nghiệp & Thủy sản: Sản lượng gỗ khai thác 5 tháng ước đạt 626,9 nghìn $m^3$, tăng 5,8%. Nuôi trồng thủy sản phát triển khá với sản lượng 5 tháng ước đạt 31,2 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ.2. Sản xuất Công nghiệp tăng trưởng mạnh mẽChỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn ngành trong 5 tháng đầu năm 2026 ước tính tăng 24,69% so với cùng kỳ năm trước.Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chính với mức tăng mạnh 25,63%. Một số sản phẩm chủ yếu tăng cao như: Máy tính xách tay (tăng 47,2%), dịch vụ sản xuất linh kiện điện tử (tăng 33,3%), bia các loại (tăng 22%), xi măng (tăng 21,9%), xe máy (tăng 14,6%).Số lượng lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm tháng 5/2026 tăng 10,6% so với cùng kỳ.3. Đầu tư, Đăng ký Doanh nghiệp và Ngân sáchVốn đầu tư: Tổng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 5 tháng ước đạt 8.132,3 tỷ đồng, tăng 2,9% so với cùng kỳ.Thu hút đầu tư: Dòng vốn FDI trở thành điểm sáng nổi bật khi tỉnh đã cấp phép cho 15 dự án mới với tổng vốn đăng ký đạt 307,2 triệu USD, gấp 3,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Khu vực đầu tư trong nước (DDI) thu hút được 36 dự án với tổng vốn 12.421 tỷ đồng.Phát triển doanh nghiệp: Toàn tỉnh có 2.201 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (tăng 43,5%) và 577 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Tuy nhiên, cũng có 1.730 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và 373 doanh nghiệp giải thể.Thu - Chi ngân sách: Tính đến ngày 20/5/2026, tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 28,1 nghìn tỷ đồng (tăng 26,8% so với cùng kỳ); tổng chi ngân sách đạt 36,6 nghìn tỷ đồng (tăng 2,2%).Hoạt động ngân hàng: Đến cuối tháng 5/2026, tổng nguồn vốn huy động ước đạt 335,8 nghìn tỷ đồng (tăng 3,1%); tổng dư nợ cho vay ước đạt 388,6 nghìn tỷ đồng (tăng 5,5% so với cuối năm trước). Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát tốt ở mức 0,65%.4. Thương mại, Dịch vụ, Giá cả và Vận tảiThương mại & Tiêu dùng: Thị trường ổn định, nguồn cung dồi dào. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng ước đạt 63.841,7 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ.Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): Được kiểm soát tốt, bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước.Vận tải: Hoạt động thông suốt, đáp ứng tốt nhu cầu lưu thông. 5 tháng đầu năm, vận tải hành khách đạt 33,2 triệu lượt khách (tăng 8%), vận tải hàng hóa đạt 54,4 triệu tấn (tăng 13,3%).5. Các Vấn đề Xã hội, Dịch bệnh và An toàn Giao thôngGiáo dục & Văn hóa: Các trường học duy trì ổn định việc dạy và học, hoàn thành chương trình học kỳ II. Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa - Du lịch Đất Tổ năm 2026 tổ chức thành công rực rỡ, thu hút khoảng 6,5 triệu lượt khách.Y tế: Công tác giám sát dịch tễ được tăng cường. Trong 4 tháng đầu năm, ghi nhận 494 ca tay chân miệng, 90 ca sốt phát ban nghi sởi, 14 ca sốt xuất huyết và 4 ca ho gà. Không xảy ra ngộ độc thực phẩm lớn.An toàn giao thông: Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/5/2026, toàn tỉnh xảy ra 293 vụ tai nạn, va chạm giao thông, làm 186 người chết và 164 người bị thương. Riêng trong tháng (15/4 - 14/5/2026), số vụ tai nạn và số người chết, người bị thương đều giảm so với cùng kỳ.Thiên tai & Môi trường: Trong tháng 5 xảy ra 4 đợt thiên tai (mưa dông, lốc, mưa đá) gây thiệt hại ước tính trên 15,17 tỷ đồng. Lực lượng chức năng cũng đã phát hiện và xử lý 40 vụ vi phạm môi trường với số tiền phạt hơn 1,5 tỷ đồng.
Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 4 và 4 tháng năm 2026
- 13/08/2026 09:29
Trong tháng 4/2026, kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục chịu tác động của biến động giá xăng dầu, khí đốt làm gia tăng chi phí đầu vào của nền kinh tế. Song, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và việc triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành, tình hình sản xuất, kinh doanh cơ bản ổn định, nhiều lĩnh vực duy trì đà tăng trưởng khá so với cùng kỳ.1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh vụ chiêm xuân. Tính đến ngày 20/4/2026, diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 130,8 nghìn ha, giảm 1,2% so với cùng kỳ; trong đó diện tích lúa đạt 79,9 nghìn ha, giảm 0,6%, ngô đạt 22,5 nghìn ha, giảm 1,3%. Một số cây trồng giảm do điều kiện thời tiết diễn biến bất lợi và chuyển đổi cơ cấu cây trồng.Chăn nuôi duy trì ổn định, dịch bệnh được kiểm soát. Tổng đàn trâu đạt 155,4 nghìn con (giảm 4,6%), đàn bò 242,9 nghìn con (giảm 3,6%); trong khi đàn lợn đạt 1.584,5 nghìn con (tăng 3,2%), đàn gia cầm đạt 37,9 triệu con (tăng 4,2%). Xu hướng chuyển dịch sang chăn nuôi gia cầm và lợn tiếp tục rõ nét.Lâm nghiệp triển khai theo kế hoạch, diện tích rừng trồng mới 4 tháng đạt 8.144,9 ha, giảm 14,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 454,7 nghìn m³, tăng 5,3%. Công tác bảo vệ rừng tiếp tục được tăng cường, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng do thời tiết nắng nóng.Thủy sản duy trì tăng trưởng ổn định, sản lượng nuôi trồng tháng 4 đạt gần 6 nghìn tấn (tăng 4,2%); lũy kế 4 tháng đạt 25,1 nghìn tấn, tăng 4,7%. Nuôi cá lồng tiếp tục phát triển, góp phần nâng cao giá trị sản xuất.2. Sản xuất công nghiệpSản xuất công nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4 tăng 9,8% so với tháng trước và tăng 26,57% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng, IIP tăng 26,25%.Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 27,38%, tiếp tục giữ vai trò chủ lực; sản xuất và phân phối điện tăng 4,62%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 19,78%; khai khoáng tăng nhẹ 2,26%.Nhiều ngành công nghiệp tăng cao như sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính; sản xuất đồ uống; sản phẩm khoáng phi kim loại; sửa chữa, lắp đặt máy móc. Một số sản phẩm chủ lực tăng mạnh như: máy tính xách tay tăng 46,3%, xi măng tăng 26,7%, gạch lát tăng 27,3%, xe máy tăng 17,3%.Lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tăng 10,4% so với cùng kỳ, trong đó khu vực FDI tăng 14,4%, tiếp tục là khu vực dẫn dắt tăng trưởng.3. Đầu tư phát triểnĐầu tư công tiếp tục là động lực quan trọng, nhưng thu hút đầu tư ngoài ngân sách suy giảm, cần có giải pháp cải thiện môi trường đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp. Tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 4 tháng đạt 6.289,6 tỷ đồng, tăng 5,6% so với cùng kỳ; trong đó vốn cấp tỉnh đạt 4.170,4 tỷ đồng (tăng 3,9%), vốn cấp xã tăng 8,9%. Nhiều dự án hạ tầng giao thông, đô thị và y tế được đẩy nhanh tiến độ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng.Thu hút đầu tư còn gặp khó khăn. Đến 20/4/2026, số dự án DDI cấp mới giảm mạnh cả về số lượng và vốn đăng ký; khu vực FDI cũng giảm về số dự án, cho thấy xu hướng thận trọng của nhà đầu tư.4. Đăng ký doanh nghiệpMôi trường kinh doanh có dấu hiệu cải thiện với số doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh, Tính đến 20/4/2026, toàn tỉnh có 1.789 doanh nghiệp thành lập mới với vốn đăng ký 15,5 nghìn tỷ đồng, tăng 50,1% về số doanh nghiệp và 28,5% về vốn.Có 513 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 5,3%). Tuy nhiên, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (1.580 doanh nghiệp) và giải thể (303 doanh nghiệp) vẫn ở mức cao.5. Thu, chi ngân sách và hoạt động ngân hàngThu ngân sách tăng trưởng tích cực, hệ thống ngân hàng vận hành ổn định, hỗ trợ tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tổng thu ngân sách đến 20/4/2026 đạt 23,4 nghìn tỷ đồng, tăng 34,6%; thu nội địa tăng 39,7%, chủ yếu từ khu vực ngoài Nhà nước, FDI và thu từ đất.Tổng chi ngân sách đạt 32 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6%; trong đó chi đầu tư phát triển tăng 17,2%, chi thường xuyên tăng 7,2%.Hoạt động ngân hàng ổn định, tổng nguồn vốn huy động đạt 332,7 nghìn tỷ đồng (tăng 2,2%); dư nợ tín dụng đạt 382,2 nghìn tỷ đồng (tăng 3,7%). Tín dụng tập trung vào thương mại - dịch vụ và công nghiệp - xây dựng. Nợ xấu kiểm soát ở mức 0,64%.6. Thương mại, dịch vụ và giá cảTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 4 đạt 13.084,6 tỷ đồng, tăng 16,1%; lũy kế 4 tháng đạt 50.387 tỷ đồng, tăng 13,1%.Doanh thu tăng mạnh ở các nhóm: vàng bạc đá quý, xăng dầu, lương thực thực phẩm, may mặc.Vận tải duy trì tăng trưởng khá, 4 tháng vận chuyển hành khách đạt 26,8 triệu lượt (tăng 9%), hàng hóa đạt 42,6 triệu tấn (tăng 11,8%).CPI tháng 4 tăng 1,13% so với tháng trước; bình quân 4 tháng tăng 3,76%. Giá tăng chủ yếu ở nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng, giao thông và hàng ăn.Nhận định: Thương mại, dịch vụ tăng trưởng tích cực nhờ nhu cầu tiêu dùng và du lịch lễ hội; tuy nhiên áp lực lạm phát vẫn hiện hữu do chi phí đầu vào tăng.7. Văn hóa – xã hội và an sinhGiáo dục duy trì ổn định, đảm bảo tiến độ năm học; các hoạt động giáo dục truyền thống được đẩy mạnh.Y tế ghi nhận một số bệnh truyền nhiễm gia tăng như tay chân miệng, sốt phát ban; tỷ lệ tiêm chủng còn thấp, cần tiếp tục cải thiện.Hoạt động văn hóa, lễ hội diễn ra sôi nổi, đặc biệt dịp Giỗ Tổ Hùng Vương; thể thao đạt nhiều thành tích.Tai nạn giao thông 4 tháng giảm về số vụ và số người bị thương, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro. Thiên tai và cháy nổ gây thiệt hại nhất định, công tác quản lý môi trường tiếp tục được tăng cường.Nhìn chung, Kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 của tỉnh Phú Thọ duy trì ổn định và đạt mức tăng trưởng khá. Công nghiệp và dịch vụ tiếp tục là động lực chính; thu ngân sách tăng cao; đầu tư công tiếp tục phát huy hiệu quả.
Báo cáo Tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Phú Thọ Quý I năm 2026
- 08/04/2026 10:02
Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp và áp lực từ giá nhiên liệu trong nước tăng cao , kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ Quý I năm 2026 vẫn duy trì được sự ổn định và đạt được những kết quả tăng trưởng khá nhờ các giải pháp ứng phó linh hoạt. Các chỉ số vĩ mô cơ bản được kiểm soát, tạo đà thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển cả năm.1. Sản xuất Nông, Lâm nghiệp và Thủy sảnHoạt động sản xuất diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng và vật nuôi phát triển.Trồng trọt: Tính đến ngày 20/3/2026, tổng diện tích gieo trồng cây vụ xuân ước đạt 127,9 nghìn ha, giảm 0,9% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích lúa chiêm xuân đạt 79,9 nghìn ha (giảm 0,6%). Đối với vụ đông 2025 - 2026, năng suất ngô đạt 50,19 tạ/ha (tăng 4,6%) và khoai lang đạt 95,27 tạ/ha (tăng 1,3%).Chăn nuôi: Tại thời điểm cuối tháng 3/2026, tổng đàn gia cầm ước đạt trên 36,8 triệu con (tăng 4,3%); đàn lợn đạt 1.620 nghìn con (tăng 3,2%). Ngược lại, đàn trâu giảm 4,8% và đàn bò giảm 2,5%. Tính chung Quý I/2026, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 85,1 nghìn tấn, tăng 2,6%.Lâm nghiệp & Thủy sản: Quý I/2026, sản lượng gỗ khai thác đạt 304,5 nghìn m3, tăng 4,34%. Tổng sản lượng thủy sản Quý I ước đạt 20,8 nghìn tấn, tăng 4,6%, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 19,1 nghìn tấn (tăng 4,8%).2. Sản xuất Công nghiệpDù chịu ảnh hưởng từ giá xăng dầu, ngành công nghiệp vẫn duy trì đà tăng trưởng và đóng vai trò động lực chính.Chỉ số sản xuất (IIP): Quý I/2026, IIP toàn ngành công nghiệp tăng 25,56% so với cùng kỳ. Riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26,26%.Sản phẩm chủ lực Quý I/2026: Gạch lát đạt 40,9 triệu m2 (tăng 44,1%) ; máy tính xách tay đạt 8 triệu sản phẩm (tăng 35,7%) ; xe máy các loại đạt 465,6 nghìn chiếc (tăng 17,6%) ; bia hơi và bia đóng lon đạt 9,3 triệu lít (tăng 16,9%).Tiêu thụ và tồn kho: Chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo Quý I/2026 giảm mạnh 21,3%. Tại thời điểm tháng 3/2026, chỉ số tồn kho tăng 11,5% so với cùng kỳ.3. Thương mại, Dịch vụ và Vận tảiBán lẻ và dịch vụ: Tính chung Quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 36.932,7 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ đạt 27.431,1 tỷ đồng, tăng 13,2%. Đáng chú ý, nhóm đá quý, kim loại quý Quý I tăng gấp hơn 4,4 lần.Du lịch: Doanh thu dịch vụ lữ hành Quý I/2026 đạt 158,5 tỷ đồng, tăng 15,8%.Vận tải: Quý I/2026, doanh thu vận tải ước đạt 5.384,4 tỷ đồng, tăng 13%. Sản lượng hành khách vận chuyển đạt 20,5 triệu lượt (tăng 10,3%) và sản lượng hàng hóa vận chuyển đạt 32,7 triệu tấn (tăng 15,7%).4. Thu, chi Ngân sách và Đầu tưNgân sách Nhà nước: Tính đến ngày 18/3/2026, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 15,9 nghìn tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách đến cùng thời điểm đạt 23,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,9%.Vốn đầu tư: Quý I/2026, vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt 29,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6% so với Quý I/2025. Trong đó, vốn ngoài Nhà nước tăng 14,7% và vốn FDI tăng 11,4%.Doanh nghiệp: Tính đến ngày 20/3/2026, toàn tỉnh có 1.262 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 72,8% so với cùng kỳ.5. Chỉ số giá (CPI)CPI bình quân: Quý I/2026 tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước.Biến động nhóm hàng: Trong Quý I, nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 6,46%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,96%.Vàng và Đô la Mỹ: Chỉ số giá Vàng bình quân Quý I tăng 79,93%; chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 3,3%.6. Các lĩnh vực xã hộiLao động: Quý I/2026 toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 10.831 người. Số lao động đang làm việc tại thời điểm hiện nay là trên 1.854,6 nghìn người.An sinh xã hội: Trong Quý I, tổng kinh phí hỗ trợ người có công đạt 479,72 tỷ đồng, tăng 3,1%. Ngân hàng Chính sách xã hội đã giải ngân vay vốn trên 1.464,05 tỷ đồng tính đến ngày 28/02/2026.Giáo dục: Năm học 2025-2026, tỉnh có 229 học sinh đạt giải quốc gia, xếp thứ 3 toàn quốc.Y tế: Tính đến hết tháng 02/2026, toàn tỉnh ghi nhận 9 ca sốt xuất huyết và 41 ca nghi sởi.An toàn giao thông: Quý I/2026 (từ 15/12/2025 đến 14/3/2026), toàn tỉnh xảy ra 167 vụ tai nạn, làm 107 người chết và 100 người bị thương. So với cùng kỳ, số vụ tai nạn giảm 26 vụĐánh giá chung: Kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ Quý I/2026 đạt tăng trưởng khá trong bối cảnh nhiều thách thức, đặc biệt là sự bứt phá của ngành công nghiệp chế biến và thu hút đầu tư doanh nghiệp mới.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và 02 tháng đầu năm 2026
- 08/04/2026 09:58
Trong tháng 02/2026, nhân dân trên địa bàn tỉnh đón Tết cổ truyền dân tộc trong không khí vui tươi, an toàn, lành mạnh và tiết kiệm. Các hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng dịp Tết; công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, an toàn thực phẩm được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Ngay sau kỳ nghỉ Tết, các ngành, địa phương tập trung triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, bảo đảm tiến độ sản xuất, đầu tư và các hoạt động dân sinh.1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng vụ chiêm xuân đúng khung lịch thời vụ, chú trọng phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi. Tính đến ngày 20/02/2026, toàn tỉnh gieo trồng 86,7 nghìn ha cây hàng năm, tăng 0,73% so với cùng kỳ; trong đó diện tích lúa đạt 69,1 nghìn ha, tăng 2,2%.Chăn nuôi giảm so với cùng kỳ do xuất chuồng phục vụ nhu cầu Tết: đàn trâu đạt 156,9 nghìn con (giảm 3,8%), đàn bò 240,2 nghìn con (giảm 2,2%), đàn lợn 1.480,5 nghìn con (giảm 7,4%), đàn gia cầm 31,87 triệu con (giảm 9%).Lâm nghiệp triển khai trồng rừng theo kế hoạch; diện tích rừng trồng mới 2 tháng đạt 1.073 ha, giảm 18,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 163,1 nghìn m³, tăng 2,2%.Thủy sản duy trì tăng trưởng; sản lượng nuôi trồng tháng 02 đạt 6,1 nghìn tấn, tăng 5,2%; lũy kế 2 tháng đạt 12,7 nghìn tấn, tăng 4,8%.2. Sản xuất công nghiệpDo ảnh hưởng số ngày nghỉ Tết, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 02 giảm 26,7% so với tháng trước; tuy nhiên so với cùng kỳ tăng 32,47%. Tính chung 2 tháng, IIP tăng 27,4%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 32,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 36,33%.Nhiều ngành tăng cao so với cùng kỳ như: công nghiệp chế biến, chế tạo khác; sửa chữa, lắp đặt máy móc; sản xuất khoáng phi kim loại; sản xuất điện tử, máy vi tính; chế biến thực phẩm; sản xuất kim loại.Một số sản phẩm chủ yếu tăng mạnh: gạch lát tăng 65%; xi măng tăng 56,2%; máy tính xách tay tăng 51,7%; linh kiện điện tử tăng 45,6%; điện sản xuất tăng 41,5%; thép tăng 23,2%.Số lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tăng 12,5% so với cùng kỳ; khu vực FDI tăng 17,6%, tiếp tục là động lực chính của tăng trưởng công nghiệp.3. Đầu tư phát triểnVốn đầu tư công được giải ngân kịp thời, thúc đẩy tiến độ các công trình trọng điểm. Tổng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 2 tháng đạt 3.014 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ.Nhiều dự án hạ tầng giao thông liên kết vùng, cao tốc và phát triển đô thị đạt giá trị thực hiện khá.Thu hút đầu tư tiếp tục khởi sắc. Đến 20/02/2026, tỉnh cấp mới 10 dự án DDI với vốn đăng ký 2.461 tỷ đồng; 5 dự án FDI mới với vốn đăng ký 64,6 triệu USD; nhiều dự án điều chỉnh tăng vốn, cho thấy xu hướng mở rộng sản xuất và tái đầu tư.4. Đăng ký doanh nghiệpĐến 20/02/2026, toàn tỉnh có 819 doanh nghiệp thành lập mới, vốn đăng ký 6.931 tỷ đồng, gấp 2,2 lần về số doanh nghiệp và 2,3 lần về vốn so với cùng kỳ. Doanh nghiệp mới tập trung ở lĩnh vực bất động sản, công nghiệp chế biến chế tạo, thương mại và xây dựng.Có 384 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 6,6%). Tuy nhiên, số doanh nghiệp tạm ngừng, giải thể còn cao (1.469 doanh nghiệp, tăng 11,8%), đòi hỏi tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp.5. Thu, chi ngân sách và hoạt động ngân hàngTổng thu ngân sách Nhà nước đến 20/02/2026 đạt 11.725 tỷ đồng, tăng 7,1%; thu nội địa tăng 8,3%, nổi bật là thu từ khu vực ngoài Nhà nước tăng 60% và thu tiền sử dụng đất tăng 31,5%.Tổng chi ngân sách đạt 17.234 tỷ đồng, tăng 32,6%; trong đó chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên được bảo đảm theo dự toán, ưu tiên giáo dục, quốc phòng, an ninh.Hoạt động ngân hàng ổn định. Tổng nguồn vốn huy động đạt 325.295 tỷ đồng; dư nợ cho vay đạt 375.877 tỷ đồng, tăng 2% so với cuối năm 2025. Tín dụng tập trung vào thương mại – dịch vụ và công nghiệp – xây dựng. Nợ xấu kiểm soát ở mức 0,6% tổng dư nợ.6. Thương mại, dịch vụ và giá cảTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 02 đạt 11,2 nghìn tỷ đồng, tăng 4,8% so với cùng kỳ; lũy kế 2 tháng đạt 23,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8%. Doanh thu bán lẻ tăng ở tất cả các nhóm hàng; tăng mạnh ở đá quý, kim loại quý, lương thực thực phẩm, may mặc và ô tô.Doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành duy trì tăng trưởng; vận tải hàng hóa và hành khách tăng lần lượt 9,1% và 6,8% sau 2 tháng.CPI tháng 02 tăng 1,55% so với tháng trước và tăng 3,32% so với cùng kỳ; bình quân 2 tháng tăng 2,57%. Giá tăng chủ yếu ở nhóm hàng ăn, nhà ở, vật liệu xây dựng và giao thông. Chỉ số giá vàng tăng 80,32%, USD tăng 3,26% so với cùng kỳ.7. Văn hóa – xã hội và an sinhGiáo dục ổn định nền nếp sau Tết; tăng cường phòng chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn trường học.Y tế ghi nhận một số ca sốt phát ban nghi sởi, tay chân miệng tăng so với cùng kỳ; không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Công tác tiêm chủng duy trì theo kế hoạch.Hoạt động văn hóa, lễ hội diễn ra sôi nổi, bảo đảm an toàn, góp phần gìn giữ giá trị truyền thống. Ngành thể thao tích cực chuẩn bị cho các sự kiện lớn năm 2026.Từ 15/12/2025 đến 14/02/2026, tai nạn giao thông giảm cả về số vụ, số người chết và bị thương so với cùng kỳ; công tác xử lý vi phạm được tăng cường. Cháy nổ và vi phạm môi trường được phát hiện, xử lý kịp thời.Nhìn chung, kinh tế - xã hội tháng 02/2026 của tỉnh Phú Thọ duy trì ổn định; sản xuất công nghiệp và thu hút đầu tư tăng trưởng khá; thương mại, dịch vụ sôi động; thu ngân sách đạt tiến độ; các lĩnh vực văn hóa – xã hội được bảo đảm. Đây là tiền đề quan trọng để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ tháng 1 năm 2026
- 06/02/2026 14:21
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chăm sóc, thu hoạch cây vụ đông và chuẩn bị điều kiện gieo trồng vụ xuân theo đúng khung thời vụ. Diện tích gieo trồng khoai lang vụ đông đạt 2,69 nghìn ha; ngô vụ đông đạt 14,95 nghìn ha.Chăn nuôi phát triển ổn định, bảo đảm nguồn cung thực phẩm dịp Tết Nguyên đán. Tổng đàn trâu 158,5 nghìn con (giảm 3,1%); đàn bò 245,2 nghìn con (tăng 0,6%); đàn lợn 1,6 triệu con (tăng 8%); đàn gia cầm 37,7 triệu con (tăng 11,9%). Dịch bệnh trên vật nuôi được kiểm soát, không phát sinh ổ dịch lớn.Hoạt động lâm nghiệp duy trì tích cực, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 223 ha, tăng 152,8% so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác đạt 90,5 nghìn m³, tăng 7,4%. Nuôi trồng thủy sản phát triển khá, sản lượng đạt 6,53 nghìn tấn, tăng 4,5%.2. Sản xuất công nghiệpHoạt động sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng, các doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất, đảm bảo việc làm và hoàn thành đơn hàng trước kỳ nghỉ lễ. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 01/2026 tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 49,2% so với cùng kỳ năm trước.Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 49,17%; sản xuất và phân phối điện tăng 55,74%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 40,95%; khai khoáng tăng 29,69%.Một số sản phẩm chủ lực tăng mạnh như máy tính xách tay, gạch lát, điện sản xuất, linh kiện điện tử, xi măng, xe máy. Lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tăng 14,4%, phản ánh xu hướng mở rộng sản xuất.3. Đầu tư và phát triển doanh nghiệpVốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý đạt 1.522,2 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ; trong đó vốn cấp tỉnh 1.000,4 tỷ đồng, vốn cấp xã 521,8 tỷ đồng. Nhiều dự án hạ tầng giao thông, đô thị, y tế và giáo dục được đẩy nhanh tiến độ.Công tác thu hút đầu tư có tín hiệu tích cực với 5 dự án DDI cấp mới tổng vốn 1.806,2 tỷ đồng và 2 dự án FDI tổng vốn 9,8 triệu USD. Toàn tỉnh có 397 doanh nghiệp thành lập mới, tăng gấp 2,4 lần về số lượng; 320 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.4. Thu, chi ngân sách và hoạt động ngân hàngTổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 5.923 tỷ đồng, tăng 45,4% so với cùng kỳ; thu nội địa đạt 5.592 tỷ đồng, tăng 51,2%, chủ yếu từ khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và các khoản thu về đất.Tổng chi ngân sách đạt 2.380 tỷ đồng, đảm bảo kịp thời nhiệm vụ chi thường xuyên, quốc phòng – an ninh và an sinh xã hội.Hoạt động ngân hàng ổn định; tổng nguồn vốn huy động đạt 327,6 nghìn tỷ đồng, tăng 0,6%; dư nợ cho vay đạt 371,7 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9%; tỷ lệ nợ xấu kiểm soát ở mức 0,42%.5. Thương mại, dịch vụ và giá cả thị trườngThị trường hàng hóa dịp Tết diễn ra sôi động, nguồn cung dồi dào, công tác quản lý thị trường và bình ổn giá được tăng cường. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 12.828,3 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ.Trong đó, doanh thu bán lẻ đạt 9.325,1 tỷ đồng; lưu trú, ăn uống đạt 1.549,5 tỷ đồng; dịch vụ lữ hành và dịch vụ khác tăng khá. Hầu hết nhóm hàng tiêu dùng thiết yếu ghi nhận mức tăng trưởng tích cực.Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,13% so với tháng trước và tăng 1,81% so với cùng kỳ, cho thấy mặt bằng giá cơ bản ổn định. Giá vàng tăng cao; tỷ giá đô la Mỹ biến động nhẹ.6. Vận tảiHoạt động vận tải đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và lưu thông hàng hóa trong dịp cao điểm. Hành khách vận chuyển đạt 6,6 triệu lượt, tăng 7,5%; hàng hóa vận chuyển đạt 10,5 triệu tấn, tăng 10%. Doanh thu vận tải đạt 1.762,5 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ.7. Văn hóa – xã hội và trật tự an toànCác lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao được duy trì; công tác phòng, chống dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân được tăng cường.Tình hình an ninh trật tự cơ bản ổn định. Trong kỳ xảy ra 72 vụ tai nạn giao thông, làm 46 người chết và 48 người bị thương. Lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm.
Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 12 và năm 2025
- 05/01/2026 09:19
Năm 2025, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro do căng thẳng địa chính trị, lạm phát kéo dài và tăng trưởng toàn cầu có xu hướng chậm lại; trong nước đồng thời triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Phú Thọ vẫn duy trì được sự ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực trong phát triển kinh tế – xã hội.1. Tăng trưởng và cơ cấu kinh tếTổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025 theo giá so sánh năm 2010 ước tăng 10,52% so với năm 2024; thuộc nhóm tăng trưởng cao của cả nước và đứng đầu vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Trong đó, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 16,13% so với năm 2024, đóng góp 7,72 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Quy mô GRDP theo giá hiện hành ước đạt 412,4 nghìn tỷ đồng, tăng 55,5 nghìn tỷ đồng so với năm 2024. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa; tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm 48,8%, riêng công nghiệp chiếm 42,3% GRDP.2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông nghiệp năm 2025 nhìn chung ổn định, lâm nghiệp và thủy sản tăng khá so với năm 2024.Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 303,6 nghìn ha, giảm 0,7% so với năm 2024; trong đó diện tích lúa đạt 147,2 nghìn ha, giảm 0,9%; diện tích ngô đạt 55,9 nghìn ha, giảm 0,9%.Sản lượng lương thực có hạt đạt 1.138,9 nghìn tấn, tăng 2,5% so với năm 2024; trong đó thóc đạt 863,9 nghìn tấn (+2,7%), ngô đạt 275 nghìn tấn (+2,1%).Tổng đàn vật nuôi tại thời điểm 31/12/2025: trâu 162,1 nghìn con (-2,3% so với 31/12/2024); bò 247,2 nghìn con (-2,5%); lợn 1.557,2 nghìn con (-5,1%); gia cầm 37,6 triệu con (+3,9%).Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 471 nghìn tấn, tăng 1,1% so với năm 2024.Sản lượng thủy sản đạt 83,4 nghìn tấn, tăng 4,7% so với năm 2024.Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 19,9 nghìn ha, tăng 1,7% so với năm 2024; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.666,1 nghìn m³, tăng 9,8%.3. Sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2025 tăng 26,4% so với năm 2024. Trong đó: khai khoáng tăng 29,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 27,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 23,9%.Một số sản phẩm chủ lực tăng mạnh so với năm 2024: máy tính xách tay tăng 74,9%; xi măng tăng 36,1%; sắt thép tăng 35,5%; máy điều hòa không khí tăng 31,1%. Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp bình quân năm tăng 3,22% so với năm 2024.4. Thương mại, dịch vụ và vận tảiTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 đạt 198.940,2 tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2024.Doanh thu bán lẻ đạt 156.612 tỷ đồng, tăng 16,3%.Doanh thu lưu trú, ăn uống đạt 19.434,1 tỷ đồng, tăng 18,5%.Doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 984,1 tỷ đồng, tăng 37,3%.Hoạt động vận tải tăng khá so với năm 2024: vận chuyển hành khách đạt 73,6 triệu lượt, tăng 18,1%; luân chuyển đạt 4.310,6 triệu lượt.km, tăng 20,6%. Vận chuyển hàng hóa đạt 119,5 triệu tấn, tăng 6,3%; luân chuyển đạt 11.965,4 triệu tấn.km, tăng 5,2%.5. Ổn định kinh tế vĩ mô, tài chính – ngân sách và đầu tưChỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 tăng 2,84% so với năm 2024; CPI tháng 12/2025 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 3,0% so với tháng 12/2024.Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 58.501 tỷ đồng, tăng 24,5% so với năm 2024; chi ngân sách đạt 89.417 tỷ đồng, tăng 35%.Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện đạt 151,6 nghìn tỷ đồng, tăng 16,4% so với năm 2024; trong đó vốn ngoài Nhà nước tăng 12,6%, vốn FDI tăng 22,4%, vốn Nhà nước tăng 19,4%. Thu hút FDI đạt 57 dự án mới với tổng vốn đăng ký 749,4 triệu USD, tăng 57,8% so với năm 2024.6. Lĩnh vực xã hộiNăm 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 61.842 người, đạt 120,2% kế hoạch năm và tăng so với năm 2024. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT đạt 99,72%, xếp thứ 5/34 tỉnh, thành phố.Về y tế, đến hết tháng 11/2025 ghi nhận 983 trường hợp sốt phát ban nghi sởi (tăng so với cùng kỳ 2024), 232 trường hợp sốt xuất huyết (giảm so với cùng kỳ). Tai nạn giao thông trong kỳ ghi nhận 758 vụ, 408 người chết và 553 người bị thương, đều giảm so với cùng kỳ năm trước.Kết luậnBức tranh kinh tế – xã hội tỉnh Phú Thọ năm 2025 cho thấy xu hướng ổn định vĩ mô, tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực và an sinh xã hội được bảo đảm, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tiếp theo.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025
- 02/12/2025 08:28
TÓM TẮT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 11 NĂM 2025Tháng 11/2025, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh duy trì ổn định, các ngành tiếp tục triển khai nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm. Sản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng cây vụ đông và phòng chống dịch bệnh; công nghiệp tăng trưởng khá ở nhóm ngành chủ lực; thương mại, dịch vụ sôi động theo nhu cầu mua sắm dịp cuối năm. Công tác đầu tư công, thu hút doanh nghiệp, quản lý thu – chi ngân sách và các lĩnh vực xã hội được triển khai tích cực.1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnTiến độ gieo trồng vụ đông chịu ảnh hưởng của thời tiết, một số diện tích giảm so cùng kỳ: ngô đạt 13,4 nghìn ha (96,1%), rau các loại 12,3 nghìn ha (97,6%), khoai lang 2.213 ha (93%). Chăn nuôi cơ bản ổn định, riêng đàn lợn tiếp tục phục hồi sau ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi. Đến cuối tháng 11, đàn trâu, bò và lợn đều giảm so cùng kỳ, trong khi đàn gia cầm tăng 3,8%.Lâm nghiệp thực hiện đúng tiến độ, diện tích rừng trồng mới 11 tháng đạt 19.409,6 ha, tăng 2,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.574,1 nghìn m³, tăng 10,1%. Thủy sản phục hồi mạnh: tháng 11/2025 đạt 8,1 nghìn tấn, tăng 15,9%; lũy kế 11 tháng đạt 69,5 nghìn tấn, tăng 5%, chủ yếu do khắc phục thiệt hại bão Yagi của năm trước.2. Sản xuất công nghiệpSản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng, nhất là khối chế biến, chế tạo. Chỉ số IIP tháng 11 tăng 1,67% so tháng trước và tăng 27,15% so cùng kỳ. Nhiều ngành tăng mạnh như sản xuất hóa chất, thiết bị điện, kim loại, điện tử, máy vi tính. Một số ngành giảm do nhu cầu thị trường yếu: sản xuất ô tô, thiết bị điện, đồ uống, dệt may.Lũy kế 11 tháng, IIP toàn ngành tăng 27,39%; riêng chế biến, chế tạo tăng 28,79%. Các sản phẩm chủ lực tăng cao: laptop tăng 78,5%, điều hòa tăng 40,9%, thép tăng 37,1%, xi măng tăng 34,6%, linh kiện điện tử tăng 30,2%. Lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tháng 11 tăng 8,5% so cùng kỳ.3. Đầu tưTiến độ giải ngân được các đơn vị tập trung đẩy mạnh. Vốn đầu tư công 11 tháng ước đạt 75,7% kế hoạch năm, tăng 14,1% so cùng kỳ; trong đó cấp tỉnh tăng 19,4%.Nhiều dự án trọng điểm ghi nhận giá trị thực hiện khá: cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu, các dự án kết nối vùng, cải tạo hạ tầng giao thông, các tuyến đường liên huyện và dự án khu đô thị.Công tác thu hút đầu tư đạt kết quả tích cực. Đến 20/11/2025, tỉnh thu hút 180 dự án DDI với tổng vốn 51,3 nghìn tỷ đồng (gấp 4,7 lần cùng kỳ). Khu vực FDI có 54 dự án mới với tổng vốn 732,1 triệu USD (gấp 2,6 lần), chủ yếu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan.4. Tình hình doanh nghiệp11 tháng năm 2025 có 4.323 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 53,3%), vốn đăng ký 39.463 tỷ đồng (tăng 40,6%). Một số ngành tăng mạnh như vận tải kho bãi, kinh doanh bất động sản, bán lẻ ô tô – xe máy, tài chính – ngân hàng.918 doanh nghiệp quay lại hoạt động (tăng 23,6%), trong khi số doanh nghiệp tạm ngừng và giải thể đều tăng, cho thấy môi trường kinh doanh vẫn còn khó khăn.5. Thu, chi ngân sách và hoạt động ngân hàngThu ngân sách đạt 51.280 tỷ đồng, tăng 34,3%; thu nội địa tăng 40%, đóng góp lớn từ đất đai và khối doanh nghiệp FDI.Chi ngân sách đạt 83.254 tỷ đồng, tăng 39,1%; trong đó chi thường xuyên tăng mạnh 50,7%, tập trung cho giáo dục – đào tạo, quản lý hành chính và quốc phòng.Hoạt động ngân hàng ổn định, tín dụng tăng trưởng tích cực. Huy động vốn đạt 312.764 tỷ đồng (tăng 12,4%); dư nợ cho vay đạt 355.857 tỷ đồng (tăng 17,8%). Nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,44%.6. Thương mại, dịch vụ và giá cảTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 11 tháng đạt 177.443 tỷ đồng, tăng 15,3%. Riêng tháng 11 tăng 19,4%, với nhiều nhóm hàng tăng mạnh như gỗ – VLXD, đồ dùng gia đình, may mặc, phương tiện đi lại, vàng.Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng nhẹ 0,03%; tăng 2,9% so tháng 12/2024 và tăng 3,13% so cùng kỳ. CPI được kiểm soát tốt; giá xăng dầu và thực phẩm tăng, song giá điện, gas và nhóm nhà ở giảm.Vận tải tiếp tục khởi sắc: doanh thu tháng 11 đạt 1.760 tỷ đồng, tăng 11,7%; sản lượng hành khách tăng 24,6%.7. Một số lĩnh vực xã hộiGiáo dục: tổ chức nhiều hoạt động tri ân Ngày Nhà giáo Việt Nam; ngành Giáo dục tỉnh được nhận nhiều phần thưởng cấp Trung ương và của tỉnh.Y tế: ghi nhận 854 ca sốt phát ban nghi sởi, 560 ca tay chân miệng; 198 ca sốt xuất huyết giảm so cùng kỳ. Tỷ lệ tiêm chủng duy trì khá; 96,7% cơ sở đạt chuẩn an toàn thực phẩm.Văn hóa – thể thao: tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn; thể thao thành tích cao đạt 29 huy chương tại 8 giải quốc gia.An toàn giao thông: từ 15/10–14/11 xảy ra 77 vụ tai nạn, làm 44 người chết và 47 người bị thương; giảm so cùng kỳ 11 tháng.Cháy nổ và môi trường: tháng 11 ghi nhận 29 vụ cháy; lực lượng chức năng xử lý 104 vụ vi phạm môi trường./.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025
- 04/11/2025 13:55
Tháng 10/2025, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn về thị trường tài chính, tín dụng và giá nguyên vật liệu đầu vào, song nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, nền kinh tế vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực.1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp cơ bản đảm bảo tiến độ thời vụ; diện tích lúa mùa thu hoạch đạt 60,9 nghìn ha, bằng 102,2% cùng kỳ. Một số cây trồng vụ đông như ngô, khoai, rau màu bị chậm tiến độ do mưa bão. Chăn nuôi lợn gặp khó vì dịch tả lợn Châu Phi, song đang dần phục hồi; đàn gia cầm tăng 3,3%, đàn lợn giảm 9,6%. Lâm nghiệp đạt kết quả khả quan: trồng mới gần 19 nghìn ha rừng, tăng 2,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1,23 triệu m³, tăng 10,7%. Thủy sản chịu ảnh hưởng thiên tai nhưng sản lượng vẫn tăng 4,6% so với cùng kỳ.2. Công nghiệp Ngành công nghiệp tiếp tục là điểm sáng với chỉ số sản xuất (IIP) 10 tháng tăng 26,9%. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng mạnh 28,8%, đóng góp chủ lực cho tăng trưởng. Một số sản phẩm tăng cao: máy tính xách tay tăng 80,5%, máy điều hòa tăng 40,7%, xi măng tăng 34,2%, giày thể thao tăng 16,2%. Lao động công nghiệp tăng 5,4% so với cùng kỳ.3. Đầu tư Tổng vốn đầu tư công 10 tháng ước đạt 19.357 tỷ đồng, tăng 17,3%; nhiều dự án hạ tầng trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ. Tỉnh thu hút 164 dự án DDI mới (49,1 nghìn tỷ đồng) và 45 dự án FDI (404,1 triệu USD).4. Thu – chi ngân sách và hoạt động ngân hàng Tổng thu ngân sách đạt 47.091 tỷ đồng, tăng 34,8%; trong đó thu nội địa tăng 40%. Chi ngân sách đạt 79.039 tỷ đồng, tăng 46,2%. Hệ thống ngân hàng huy động vốn 307,2 nghìn tỷ đồng (tăng 10,4%) và cho vay 347,5 nghìn tỷ đồng (tăng 15%); nợ xấu chỉ chiếm 0,46% tổng dư nợ, phản ánh tín dụng an toàn.5. Thương mại, dịch vụ và giá cả Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tháng 10 đạt 17.591 tỷ đồng, tăng 15,3%; tính chung 10 tháng đạt 161.729 tỷ đồng, tăng 14,4%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng 0,08% so tháng trước và 2,97% so cùng kỳ; giá vàng tăng mạnh 16,77%, USD giảm 0,46%.6. Vận tải, xuất nhập khẩu Doanh thu vận tải tháng 10 đạt 1.709 tỷ đồng, tăng 9,6%; xuất khẩu hàng hóa ước đạt 16,2 tỷ USD, nhập khẩu 12,9 tỷ USD – tiếp tục duy trì thặng dư thương mại.7. Văn hóa – xã hội Giáo dục chuẩn bị kế hoạch giai đoạn mới; y tế tăng cường phòng chống dịch mùa, tỷ lệ tiêm chủng đạt trên 70%. Thể thao thành tích cao giành 40 huy chương các loại trong nước và quốc tế. Tình hình an ninh – trật tự cơ bản ổn định; tai nạn giao thông giảm trên cả ba tiêu chí.8. Thiên tai – môi trường Ảnh hưởng bão số 10 và 11 gây thiệt hại hơn 1,2 nghìn tỷ đồng, làm hư hại hơn 4.700 nhà, 4.200 ha lúa, 5.100 ha hoa màu. Trong tháng xảy ra 23 vụ cháy, thiệt hại khoảng 1,6 tỷ đồng; vi phạm môi trường giảm so cùng kỳ.