Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025
- 02/12/2025 08:28
TÓM TẮT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 11 NĂM 2025Tháng 11/2025, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh duy trì ổn định, các ngành tiếp tục triển khai nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm. Sản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng cây vụ đông và phòng chống dịch bệnh; công nghiệp tăng trưởng khá ở nhóm ngành chủ lực; thương mại, dịch vụ sôi động theo nhu cầu mua sắm dịp cuối năm. Công tác đầu tư công, thu hút doanh nghiệp, quản lý thu – chi ngân sách và các lĩnh vực xã hội được triển khai tích cực.1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnTiến độ gieo trồng vụ đông chịu ảnh hưởng của thời tiết, một số diện tích giảm so cùng kỳ: ngô đạt 13,4 nghìn ha (96,1%), rau các loại 12,3 nghìn ha (97,6%), khoai lang 2.213 ha (93%). Chăn nuôi cơ bản ổn định, riêng đàn lợn tiếp tục phục hồi sau ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi. Đến cuối tháng 11, đàn trâu, bò và lợn đều giảm so cùng kỳ, trong khi đàn gia cầm tăng 3,8%.Lâm nghiệp thực hiện đúng tiến độ, diện tích rừng trồng mới 11 tháng đạt 19.409,6 ha, tăng 2,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.574,1 nghìn m³, tăng 10,1%. Thủy sản phục hồi mạnh: tháng 11/2025 đạt 8,1 nghìn tấn, tăng 15,9%; lũy kế 11 tháng đạt 69,5 nghìn tấn, tăng 5%, chủ yếu do khắc phục thiệt hại bão Yagi của năm trước.2. Sản xuất công nghiệpSản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng, nhất là khối chế biến, chế tạo. Chỉ số IIP tháng 11 tăng 1,67% so tháng trước và tăng 27,15% so cùng kỳ. Nhiều ngành tăng mạnh như sản xuất hóa chất, thiết bị điện, kim loại, điện tử, máy vi tính. Một số ngành giảm do nhu cầu thị trường yếu: sản xuất ô tô, thiết bị điện, đồ uống, dệt may.Lũy kế 11 tháng, IIP toàn ngành tăng 27,39%; riêng chế biến, chế tạo tăng 28,79%. Các sản phẩm chủ lực tăng cao: laptop tăng 78,5%, điều hòa tăng 40,9%, thép tăng 37,1%, xi măng tăng 34,6%, linh kiện điện tử tăng 30,2%. Lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tháng 11 tăng 8,5% so cùng kỳ.3. Đầu tưTiến độ giải ngân được các đơn vị tập trung đẩy mạnh. Vốn đầu tư công 11 tháng ước đạt 75,7% kế hoạch năm, tăng 14,1% so cùng kỳ; trong đó cấp tỉnh tăng 19,4%.Nhiều dự án trọng điểm ghi nhận giá trị thực hiện khá: cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu, các dự án kết nối vùng, cải tạo hạ tầng giao thông, các tuyến đường liên huyện và dự án khu đô thị.Công tác thu hút đầu tư đạt kết quả tích cực. Đến 20/11/2025, tỉnh thu hút 180 dự án DDI với tổng vốn 51,3 nghìn tỷ đồng (gấp 4,7 lần cùng kỳ). Khu vực FDI có 54 dự án mới với tổng vốn 732,1 triệu USD (gấp 2,6 lần), chủ yếu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan.4. Tình hình doanh nghiệp11 tháng năm 2025 có 4.323 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 53,3%), vốn đăng ký 39.463 tỷ đồng (tăng 40,6%). Một số ngành tăng mạnh như vận tải kho bãi, kinh doanh bất động sản, bán lẻ ô tô – xe máy, tài chính – ngân hàng.918 doanh nghiệp quay lại hoạt động (tăng 23,6%), trong khi số doanh nghiệp tạm ngừng và giải thể đều tăng, cho thấy môi trường kinh doanh vẫn còn khó khăn.5. Thu, chi ngân sách và hoạt động ngân hàngThu ngân sách đạt 51.280 tỷ đồng, tăng 34,3%; thu nội địa tăng 40%, đóng góp lớn từ đất đai và khối doanh nghiệp FDI.Chi ngân sách đạt 83.254 tỷ đồng, tăng 39,1%; trong đó chi thường xuyên tăng mạnh 50,7%, tập trung cho giáo dục – đào tạo, quản lý hành chính và quốc phòng.Hoạt động ngân hàng ổn định, tín dụng tăng trưởng tích cực. Huy động vốn đạt 312.764 tỷ đồng (tăng 12,4%); dư nợ cho vay đạt 355.857 tỷ đồng (tăng 17,8%). Nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,44%.6. Thương mại, dịch vụ và giá cảTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 11 tháng đạt 177.443 tỷ đồng, tăng 15,3%. Riêng tháng 11 tăng 19,4%, với nhiều nhóm hàng tăng mạnh như gỗ – VLXD, đồ dùng gia đình, may mặc, phương tiện đi lại, vàng.Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng nhẹ 0,03%; tăng 2,9% so tháng 12/2024 và tăng 3,13% so cùng kỳ. CPI được kiểm soát tốt; giá xăng dầu và thực phẩm tăng, song giá điện, gas và nhóm nhà ở giảm.Vận tải tiếp tục khởi sắc: doanh thu tháng 11 đạt 1.760 tỷ đồng, tăng 11,7%; sản lượng hành khách tăng 24,6%.7. Một số lĩnh vực xã hộiGiáo dục: tổ chức nhiều hoạt động tri ân Ngày Nhà giáo Việt Nam; ngành Giáo dục tỉnh được nhận nhiều phần thưởng cấp Trung ương và của tỉnh.Y tế: ghi nhận 854 ca sốt phát ban nghi sởi, 560 ca tay chân miệng; 198 ca sốt xuất huyết giảm so cùng kỳ. Tỷ lệ tiêm chủng duy trì khá; 96,7% cơ sở đạt chuẩn an toàn thực phẩm.Văn hóa – thể thao: tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn; thể thao thành tích cao đạt 29 huy chương tại 8 giải quốc gia.An toàn giao thông: từ 15/10–14/11 xảy ra 77 vụ tai nạn, làm 44 người chết và 47 người bị thương; giảm so cùng kỳ 11 tháng.Cháy nổ và môi trường: tháng 11 ghi nhận 29 vụ cháy; lực lượng chức năng xử lý 104 vụ vi phạm môi trường./.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025
- 04/11/2025 13:55
Tháng 10/2025, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn về thị trường tài chính, tín dụng và giá nguyên vật liệu đầu vào, song nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, nền kinh tế vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực.1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp cơ bản đảm bảo tiến độ thời vụ; diện tích lúa mùa thu hoạch đạt 60,9 nghìn ha, bằng 102,2% cùng kỳ. Một số cây trồng vụ đông như ngô, khoai, rau màu bị chậm tiến độ do mưa bão. Chăn nuôi lợn gặp khó vì dịch tả lợn Châu Phi, song đang dần phục hồi; đàn gia cầm tăng 3,3%, đàn lợn giảm 9,6%. Lâm nghiệp đạt kết quả khả quan: trồng mới gần 19 nghìn ha rừng, tăng 2,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1,23 triệu m³, tăng 10,7%. Thủy sản chịu ảnh hưởng thiên tai nhưng sản lượng vẫn tăng 4,6% so với cùng kỳ.2. Công nghiệp Ngành công nghiệp tiếp tục là điểm sáng với chỉ số sản xuất (IIP) 10 tháng tăng 26,9%. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng mạnh 28,8%, đóng góp chủ lực cho tăng trưởng. Một số sản phẩm tăng cao: máy tính xách tay tăng 80,5%, máy điều hòa tăng 40,7%, xi măng tăng 34,2%, giày thể thao tăng 16,2%. Lao động công nghiệp tăng 5,4% so với cùng kỳ.3. Đầu tư Tổng vốn đầu tư công 10 tháng ước đạt 19.357 tỷ đồng, tăng 17,3%; nhiều dự án hạ tầng trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ. Tỉnh thu hút 164 dự án DDI mới (49,1 nghìn tỷ đồng) và 45 dự án FDI (404,1 triệu USD).4. Thu – chi ngân sách và hoạt động ngân hàng Tổng thu ngân sách đạt 47.091 tỷ đồng, tăng 34,8%; trong đó thu nội địa tăng 40%. Chi ngân sách đạt 79.039 tỷ đồng, tăng 46,2%. Hệ thống ngân hàng huy động vốn 307,2 nghìn tỷ đồng (tăng 10,4%) và cho vay 347,5 nghìn tỷ đồng (tăng 15%); nợ xấu chỉ chiếm 0,46% tổng dư nợ, phản ánh tín dụng an toàn.5. Thương mại, dịch vụ và giá cả Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tháng 10 đạt 17.591 tỷ đồng, tăng 15,3%; tính chung 10 tháng đạt 161.729 tỷ đồng, tăng 14,4%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng 0,08% so tháng trước và 2,97% so cùng kỳ; giá vàng tăng mạnh 16,77%, USD giảm 0,46%.6. Vận tải, xuất nhập khẩu Doanh thu vận tải tháng 10 đạt 1.709 tỷ đồng, tăng 9,6%; xuất khẩu hàng hóa ước đạt 16,2 tỷ USD, nhập khẩu 12,9 tỷ USD – tiếp tục duy trì thặng dư thương mại.7. Văn hóa – xã hội Giáo dục chuẩn bị kế hoạch giai đoạn mới; y tế tăng cường phòng chống dịch mùa, tỷ lệ tiêm chủng đạt trên 70%. Thể thao thành tích cao giành 40 huy chương các loại trong nước và quốc tế. Tình hình an ninh – trật tự cơ bản ổn định; tai nạn giao thông giảm trên cả ba tiêu chí.8. Thiên tai – môi trường Ảnh hưởng bão số 10 và 11 gây thiệt hại hơn 1,2 nghìn tỷ đồng, làm hư hại hơn 4.700 nhà, 4.200 ha lúa, 5.100 ha hoa màu. Trong tháng xảy ra 23 vụ cháy, thiệt hại khoảng 1,6 tỷ đồng; vi phạm môi trường giảm so cùng kỳ.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2025
- 03/10/2025 11:31
Trong bối cảnh thế giới biến động, tăng trưởng toàn cầu chững lại, trong nước đẩy mạnh hoàn thiện thể chế và sắp xếp bộ máy hành chính. Nhờ chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, kinh tế - xã hội Phú Thọ 9 tháng năm 2025 vẫn ổn định, đạt nhiều kết quả tích cực. GRDP ước tăng 10,22%, công nghiệp tiếp tục là động lực chính với nhiều ngành chế biến, chế tạo tăng trưởng cao. I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế GRDP 9 tháng 2025 ước tăng 10,22% so với cùng kỳ. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,12% (đóng góp 0,34 điểm %); công nghiệp và xây dựng tăng 15,6% (đóng góp 7,37 điểm %); dịch vụ tăng 8,11% (đóng góp 2,23 điểm %); thuế sản phẩm tăng 1,96%. Ngành chế biến, chế tạo tăng 17,69%, đóng góp 6,24 điểm % vào tăng trưởng chung. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản cơ bản ổn định, đảm bảo khung lịch thời vụ và an ninh lương thực, song dịch tả lợn Châu Phi từ quý III gây thiệt hại lớn ngành chăn nuôi. Trồng trọt: Diện tích gieo trồng ước 304,1 nghìn ha, giảm 0,5%; lúa 147 nghìn ha (-1%); ngô 56 nghìn ha (-0,9%); rau 38 nghìn ha (-1,1%). Cây lâu năm giảm: chè 14,5 nghìn ha (-1,5%), cam 3,7 nghìn ha (-1,2%), bưởi 11,9 nghìn ha (-1,2%). Nhờ điều kiện thuận lợi, sản lượng lương thực có hạt đạt 843,7 nghìn tấn (+1,7%), trong đó lúa 626,6 nghìn tấn (+1,9%), ngô 217,1 nghìn tấn (+1,1%). Cây khác tăng: khoai lang 42,3 nghìn tấn (+4,9%), đậu tương 1,5 nghìn tấn (+5,3%), rau 601 nghìn tấn (+1,5%). Chè 161 nghìn tấn (+2,4%), cam 47,5 nghìn tấn (+1%), bưởi 41,5 nghìn tấn (+4,2%). Chăn nuôi: Đầu năm thuận lợi, nhưng dịch tả lợn làm tổng đàn giảm: trâu 162,8 nghìn con (-4,5%), bò 253 nghìn con (-4,6%), lợn 1.441,9 nghìn con (-12,6%). Gia cầm tăng 37,3 triệu con (+2,6%), trong đó gà 33,2 triệu con (+3,8%). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 370,2 nghìn tấn (+2%), gồm lợn 235,5 nghìn tấn (+1%), gia cầm 98,5 nghìn tấn (+4%). Trứng gia cầm 1.226,9 triệu quả (+4,6%). Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới 18,5 nghìn ha (+2,4%); gỗ khai thác 1.080,8 nghìn m³ (+6%); củi 312,1 nghìn ster (+4,8%). 9 tháng xảy ra 19 vụ cháy rừng (55,6 ha) và 24 vụ chặt phá (4,1 ha). Thủy sản: Sản lượng đạt 60,6 nghìn tấn (+4,1%), trong đó nuôi trồng 55,2 nghìn tấn (+4,2%), tăng nhờ đầu tư giống, thức ăn, kỹ thuật và phát triển hợp tác xã thủy sản. 3. Sản xuất công nghiệp Sản xuất công nghiệp giữ vai trò chủ lực tăng trưởng. 9 tháng 2025, chỉ số IIP tăng 27,7% so với cùng kỳ 2024, trong đó chế biến chế tạo tăng 29,4%. Tháng 9/2025, IIP tăng 1,05% so với tháng trước và tăng 37,34% so với cùng kỳ, riêng chế biến chế tạo tăng 43,61%. Quý III/2025, IIP tăng 30,74% so với quý III/2024, nổi bật ở thiết bị điện (+78,52%), sửa chữa & lắp đặt máy móc (+74,66%), điện tử, máy tính & quang học (+52,89%). Ngành điện tử, máy tính và quang học chiếm 40% quy mô toàn ngành, tăng 41,45% so với cùng kỳ, sản lượng laptop tăng 87,1%. Ngành khoáng phi kim loại tăng 16,45%, chế biến gỗ tăng 42,5%. Một số ngành giảm so cùng kỳ: phương tiện vận tải khác (-0,9%), trang phục (-0,6%); sản xuất ô tô tăng nhẹ 2,7% nhưng sản lượng ô tô các loại đạt 28,3 nghìn chiếc, giảm 0,1%. Các sản phẩm chủ lực so với cùng kỳ: laptop 22,1 triệu chiếc (+87,1%), điều hòa 42,6 nghìn sp (+40,5%), xi măng 2,5 triệu tấn (+38,8%), thép 540,2 nghìn tấn (+37,6%), giày thể thao 13,7 triệu đôi (+20%), điện thương phẩm 9.265,7 triệu kWh (+10,5%), phân supe 342,8 nghìn tấn (+8,1%)… Tiêu thụ chế biến, chế tạo 9 tháng tăng 19,2% so với cùng kỳ, nhiều ngành tăng cao: thực phẩm (+84,52%), hóa chất (+46,63%), gỗ (+46,18%), cao su – nhựa (+38,24%). Ngược lại, dệt giảm 35,76%, vận tải khác giảm 12,31%, ô tô giảm 4,58%. Chỉ số tồn kho tháng 9/2025 chỉ tăng 7,4% so với cùng kỳ, nhiều ngành tồn kho giảm như gỗ (-34,97%), trang phục (-40,25%). Lao động trong doanh nghiệp công nghiệp 9 tháng 2025 tăng 3% so với cùng kỳ, khu vực ngoài quốc doanh tăng 6,8%, FDI +2,5%, Nhà nước +2,5%. Ngành khai khoáng giảm 5,7%, chế biến chế tạo tăng 3,1%, sản xuất và phân phối điện tăng 2,4%. 4. Thương mại, dịch vụ Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2025 diễn ra sôi động, thị trường hàng hóa phong phú, giá cả ổn định, các dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và vận tải tiếp tục tăng trưởng, góp phần thúc đẩy tiêu dùng và nâng cao đời sống dân cư. Tháng 9/2025, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 17.019,5 tỷ đồng, tăng 12,3% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hoá đạt 13.440,7 tỷ đồng, tăng 12,8%. Tính chung 9 tháng, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 144.003,3 tỷ đồng, tăng 14,3% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hoá đạt 112.715,9 tỷ đồng, tăng 14,9%, dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 14.424,9 tỷ đồng, tăng 19,4%, dịch vụ lữ hành và các dịch vụ khác đạt 16.862,5 tỷ đồng, tăng 6,8%. Doanh thu bán lẻ một số nhóm hàng chủ yếu 9 tháng tăng so với cùng kỳ như: lương thực, thực phẩm đạt 30.395 tỷ đồng, tăng 9,9%; gỗ và vật liệu xây dựng 23.483,1 tỷ đồng, tăng 26,2%; xăng dầu các loại 13.338,6 tỷ đồng, tăng 9,4%; hàng may mặc 8.182,6 tỷ đồng, tăng 18,8%; phương tiện đi lại trừ ô tô con 6.607,7 tỷ đồng, tăng 6,4%; ô tô các loại 6.505,7 tỷ đồng, tăng 13,7%. Doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 12.894,4 tỷ đồng, tăng 19,3%; dịch vụ lưu trú 1.530,5 tỷ đồng, tăng 20,1%; dịch vụ lữ hành 746 tỷ đồng, tăng 28%. Riêng trong tháng 9, một số nhóm hàng có xu hướng giảm so với cùng kỳ như ô tô 636,8 tỷ đồng, giảm 25,9% và phương tiện đi lại khác 808,2 tỷ đồng, giảm 0,5%. Hoạt động vận tải duy trì ổn định, doanh thu 9 tháng ước đạt 14.874,4 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ, trong đó vận tải hàng hóa 10.327,8 tỷ đồng, tăng 7,8%. Sản lượng hàng hóa vận chuyển đạt 88 triệu tấn, tăng 6,2%; hàng hóa luân chuyển 8.823,2 triệu tấn.km, tăng 5,3%; hành khách vận chuyển 54,7 triệu lượt, tăng 16%; hành khách luân chuyển 3.226,8 triệu lượt.km, tăng 19,4%. Riêng tháng 9, sản lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 9,9 triệu tấn, tăng 23,4%; luân chuyển 1.009,4 triệu tấn.km, tăng 22,8%; hành khách vận chuyển 5,8 triệu lượt, tăng 29,1%; hành khách luân chuyển 339,7 triệu lượt.km, tăng 30,6% so với cùng kỳ. II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ 1. Thu, chi ngân sách Nhà nước Tính đến ngày 18/9/2025, tổng thu ngân sách đạt 41.130 tỷ đồng, tăng 34,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nội địa 36.108 tỷ đồng, tăng 38,99%, chủ yếu từ thu nhà đất 12.393 tỷ đồng, thu doanh nghiệp FDI 10.346 tỷ đồng, khu vực công thương nghiệp ngoài Nhà nước 5.078 tỷ đồng; thu từ xuất nhập khẩu 4.790 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách đạt 66.476 tỷ đồng, tăng 36,64% so với cùng kỳ, gồm chi đầu tư phát triển 24.253 tỷ đồng, chi thường xuyên 42.014 tỷ đồng, trong đó chi sự nghiệp giáo dục – đào tạo 11.647 tỷ đồng, quản lý hành chính 8.920 tỷ đồng, quốc phòng 7.935 tỷ đồng. 2. Hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng ổn định lãi suất, hỗ trợ khách hàng; lãi suất huy động bình quân 2,7% – 5,5%/năm, lãi suất cho vay 6,0% – 8,2%/năm. Đến 30/9/2025, tổng vốn huy động đạt 303.640 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cuối năm 2024, trong đó tiền gửi dân cư 235.559 tỷ đồng (+22,2%), tiền gửi thanh toán 66.714 tỷ đồng (-21,2%). Tổng dư nợ cho vay đạt 336.260 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cuối năm 2024, trong đó dư nợ ngắn hạn 223.976 tỷ đồng (+11,5%), trung và dài hạn 112.284 tỷ đồng (+11%). Xét theo ngành kinh tế, thương mại và dịch vụ chiếm cao nhất với 232.805 tỷ đồng (+15,1%), công nghiệp và xây dựng 74.706 tỷ đồng (+7,6%), trong khi nông, lâm, thủy sản giảm còn 28.749 tỷ đồng (-5,4%). Nợ xấu 1.550 tỷ đồng, chiếm 0,46% tổng dư nợ, trong tầm kiểm soát. 3. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn 9 tháng đạt 104 nghìn tỷ đồng, tăng 19,8% so với cùng kỳ, trong đó vốn ngoài Nhà nước 54,3 nghìn tỷ đồng (+15,8%), vốn FDI 25,2 nghìn tỷ đồng (+26,7%), vốn Nhà nước 24,5 nghìn tỷ đồng (+22,4%). Riêng vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý đạt 17,1 nghìn tỷ đồng (+19,9%), bằng 59,1% kế hoạch năm, trong đó vốn ngân sách cấp tỉnh 11,7 nghìn tỷ đồng (+27%), cấp xã 5,4 nghìn tỷ đồng (+6,9%). Công tác giải ngân vốn đầu tư công đạt 74,4% kế hoạch Thủ tướng giao, góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm. Hoạt động thu hút đầu tư khởi sắc, đến 20/9/2025, tỉnh thu hút 153 dự án DDI mới với tổng vốn 44.720,2 tỷ đồng (gấp 4,8 lần cùng kỳ) và 39 dự án FDI mới với tổng vốn 128,8 triệu USD, giảm 51% so với cùng kỳ, trong đó Trung Quốc chiếm 20 dự án với 79,6 triệu USD. 4. Hoạt động của doanh nghiệp Tính đến 22/9/2025, toàn tỉnh có 3.540 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với vốn đăng ký 31,6 nghìn tỷ đồng, tăng 59,1% về số DN và 57,2% về vốn, bình quân 9 tỷ đồng/DN, giảm 1,9% so với cùng kỳ, tạo việc làm cho 20,8 nghìn lao động (-15,2%). Trong đó có 1.507 DN thương mại (+84,5%), 668 DN công nghiệp chế biến, chế tạo (+51,9%), gồm 21 DN FDI (75% so với cùng kỳ). Ngoài ra có 763 DN quay trở lại hoạt động (+22,1%), nâng tổng số DN thành lập mới và quay lại hoạt động lên 4.303 DN (+51%); trong khi có 509 DN giải thể (+86,5%) và 1.968 DN tạm ngừng hoạt động (+25,8%). Điều tra xu hướng SXKD quý III/2025 cho thấy 31,5% DN đánh giá tốt hơn quý II, 42,9% ổn định, 25,6% khó khăn; dự báo quý IV có 34,7% DN kỳ vọng tốt hơn, 44,5% ổn định, 20,8% khó khăn. Về đơn hàng quý III so với quý II có 71,3% DN giữ ổn định và tăng, 28,7% giảm; dự báo quý IV có 55,6% DN tăng và giữ ổn định, 44,4% giảm. Đơn hàng xuất khẩu quý III có 74,1% DN giữ ổn định và tăng, 25,9% giảm; dự báo quý IV có 79,3% DN giữ ổn định và tăng, 20,7% giảm. Về lao động quý III có 80,3% DN giữ ổn định và tăng, 19,7% giảm; dự báo quý IV có 90,9% DN ổn định và tăng, 9,1% giảm. Về khối lượng sản xuất quý III có 71,3% DN giữ ổn định và tăng, 28,7% giảm; dự báo quý IV có 80,3% DN giữ ổn định và tăng, 19,7% giảm. 5. Chỉ số giá Công tác bình ổn giá được thực hiện hiệu quả, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng năm 2025 tăng 2,77% so với cùng kỳ. CPI tháng 9/2025 tăng 0,42% so với tháng trước, tăng 2,77% so với tháng 12 năm trước (sau 9 tháng) và tăng 3,16% so với tháng cùng kỳ (sau 12 tháng). Bình quân quý III/2025, CPI tăng 2,99% so với cùng kỳ, trong đó: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,63%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,84%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 3,35%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,03%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,57%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,75%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,56%;… Sau 9 tháng, CPI bình quân tăng 2,77% so với cùng kỳ, các nhóm hàng chủ yếu tác động làm tăng CPI gồm: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,54%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,11%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 5,59%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,68%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,58%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,47%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,46%;... Chỉ số giá Vàng bình quân 9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 42,72%; chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 4,08%. III. MỘT SỐ LĨNH VỰC XÃ HỘI Chín tháng năm 2025, tình hình xã hội và đời sống dân cư cơ bản ổn định, thị trường lao động có nhiều tín hiệu tích cực, việc làm tăng, an sinh xã hội bảo đảm, giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, du lịch tiếp tục phát triển; trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, thiên tai và vi phạm môi trường được kiểm soát. 1. Lao động, việc làm: Tháng 9/2025, lao động thôi việc hơn 1,6 nghìn người, chủ yếu ở khu vực FDI, trong khi lao động có việc làm tăng thêm trên 3,6 nghìn người (+7,2% so tháng trước). Chỉ số sử dụng lao động DN công nghiệp tăng 1,8% so tháng trước và 4,3% so cùng kỳ. Toàn tỉnh có trên 1.852,2 nghìn lao động, chiếm 50,1% dân số. Chín tháng, Trung tâm giới thiệu việc làm tư vấn cho 45.938 lượt người, giới thiệu trong nước 7.994 người, đưa đi làm việc ở nước ngoài 5.630 người. 2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội: Sau sáp nhập, tỉnh tạo điều kiện sinh hoạt, làm việc cho cán bộ công chức. Công tác chi trả, hỗ trợ chính sách được thực hiện kịp thời, trong quý III thăm hỏi, hỗ trợ người có công 462,78 tỷ đồng (+28,7%), lũy kế 9 tháng đạt 1.400,13 tỷ đồng; hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo hơn 6,5 tấn gạo dịp Tết. Quý III hỗ trợ 138 nghìn đối tượng bảo trợ xã hội 421,33 tỷ đồng (+97,9%), 9 tháng đạt 980,75 tỷ đồng (+49,6%). Tín dụng chính sách giải ngân 3.584,2 tỷ đồng, chủ yếu cho vay việc làm 1.181,3 tỷ, hộ nghèo 244,35 tỷ, cận nghèo 248,13 tỷ, SXKD vùng khó khăn 302,33 tỷ. 3. Giáo dục – đào tạo: Sau sáp nhập, tỉnh có 2.376 cơ sở giáo dục, đứng thứ 3 cả nước. Ngành giáo dục hoàn thành tuyển sinh đầu cấp, tổ chức thành công kỳ thi THPT quốc gia 2025, kết quả xếp thứ 5/34 tỉnh, thành phố. Khoảng 80% trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia, trên 90% phòng học kiên cố, chất lượng phổ cập giáo dục được giữ vững và nâng cao. 4. Y tế: Từ đầu năm đến 8/2025 ghi nhận 819 ca sốt phát ban nghi sởi (576 ca dương tính), 395 ca tay chân miệng (+70 ca), 78 ca sốt xuất huyết, phát sinh 11 ổ dịch trong tháng 8. Công tác giám sát dịch tễ, tiêm vắc xin được triển khai kịp thời. Kiểm tra an toàn thực phẩm 9.989 cơ sở, 96,7% đạt chuẩn; 9 tháng có 1 vụ ngộ độc với 3 người mắc, không tử vong. 5. Văn hóa, thể thao, du lịch: Nhiều hoạt động kỷ niệm ngày lễ lớn được tổ chức. Thể thao thành tích cao duy trì 489 VĐV, tham gia 21 giải quốc gia giành 159 huy chương (60 HCV, 45 HCB, 54 HCĐ), 3 giải quốc tế giành 8 huy chương. Tỉnh đăng cai 5 giải quốc tế và 3 giải quốc gia thành công. 6. Tai nạn giao thông: Quý III/2025 xảy ra 181 vụ, làm 81 người chết, 146 người bị thương. Riêng từ 15/8–14/9 xảy ra 63 vụ, làm 24 người chết, 58 người bị thương. 9 tháng (15/12/2024–14/9/2025) xảy ra 552 vụ, giảm 131 vụ so cùng kỳ, làm 297 người chết (-21) và 411 người bị thương (-113). 7. Thiên tai: Đến 26/9/2025 xảy ra 21 đợt thiên tai tại 105 xã, làm 6 người chết, 3 người bị thương, gây thiệt hại 2.458,32 ha lúa, 2.463,07 ha hoa màu, 355,06 ha cây lâm nghiệp, chết 55 gia súc và 16.606 gia cầm, 1.700 ngôi nhà bị hư hỏng; tổng thiệt hại khoảng 296,8 tỷ đồng. 8. Cháy nổ, môi trường: Từ 26/6–25/9/2025 xảy ra 48 vụ cháy làm 1 người bị thương, thiệt hại 1.022,8 triệu đồng; tính từ 26/12/2024 đến 25/9/2025 có 117 vụ cháy, 1 vụ nổ, làm 4 người bị thương, thiệt hại 4.879 triệu đồng. Về môi trường, từ 26/8–25/9/2025 phát hiện 156 vụ vi phạm, xử phạt 1.158,1 triệu đồng; lũy kế từ 26/12/2024 đến 25/9/2025 phát hiện 807 vụ (giảm 433 vụ), xử phạt 10.189,2 triệu đồng (giảm 3.541,73 triệu đồng)./.