Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2025
Trong bối cảnh thế giới biến động, tăng trưởng toàn cầu chững lại, trong nước đẩy mạnh hoàn thiện thể chế và sắp xếp bộ máy hành chính. Nhờ chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, kinh tế - xã hội Phú Thọ 9 tháng năm 2025 vẫn ổn định, đạt nhiều kết quả tích cực. GRDP ước tăng 10,22%, công nghiệp tiếp tục là động lực chính với nhiều ngành chế biến, chế tạo tăng trưởng cao.
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Tăng trưởng kinh tế
GRDP 9 tháng 2025 ước tăng 10,22% so với cùng kỳ. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,12% (đóng góp 0,34 điểm %); công nghiệp và xây dựng tăng 15,6% (đóng góp 7,37 điểm %); dịch vụ tăng 8,11% (đóng góp 2,23 điểm %); thuế sản phẩm tăng 1,96%. Ngành chế biến, chế tạo tăng 17,69%, đóng góp 6,24 điểm % vào tăng trưởng chung.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản cơ bản ổn định, đảm bảo khung lịch thời vụ và an ninh lương thực, song dịch tả lợn Châu Phi từ quý III gây thiệt hại lớn ngành chăn nuôi.
Trồng trọt: Diện tích gieo trồng ước 304,1 nghìn ha, giảm 0,5%; lúa 147 nghìn ha (-1%); ngô 56 nghìn ha (-0,9%); rau 38 nghìn ha (-1,1%). Cây lâu năm giảm: chè 14,5 nghìn ha (-1,5%), cam 3,7 nghìn ha (-1,2%), bưởi 11,9 nghìn ha (-1,2%). Nhờ điều kiện thuận lợi, sản lượng lương thực có hạt đạt 843,7 nghìn tấn (+1,7%), trong đó lúa 626,6 nghìn tấn (+1,9%), ngô 217,1 nghìn tấn (+1,1%). Cây khác tăng: khoai lang 42,3 nghìn tấn (+4,9%), đậu tương 1,5 nghìn tấn (+5,3%), rau 601 nghìn tấn (+1,5%). Chè 161 nghìn tấn (+2,4%), cam 47,5 nghìn tấn (+1%), bưởi 41,5 nghìn tấn (+4,2%).
Chăn nuôi: Đầu năm thuận lợi, nhưng dịch tả lợn làm tổng đàn giảm: trâu 162,8 nghìn con (-4,5%), bò 253 nghìn con (-4,6%), lợn 1.441,9 nghìn con (-12,6%). Gia cầm tăng 37,3 triệu con (+2,6%), trong đó gà 33,2 triệu con (+3,8%). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 370,2 nghìn tấn (+2%), gồm lợn 235,5 nghìn tấn (+1%), gia cầm 98,5 nghìn tấn (+4%). Trứng gia cầm 1.226,9 triệu quả (+4,6%).
Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới 18,5 nghìn ha (+2,4%); gỗ khai thác 1.080,8 nghìn m³ (+6%); củi 312,1 nghìn ster (+4,8%). 9 tháng xảy ra 19 vụ cháy rừng (55,6 ha) và 24 vụ chặt phá (4,1 ha).
Thủy sản: Sản lượng đạt 60,6 nghìn tấn (+4,1%), trong đó nuôi trồng 55,2 nghìn tấn (+4,2%), tăng nhờ đầu tư giống, thức ăn, kỹ thuật và phát triển hợp tác xã thủy sản.
3. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp giữ vai trò chủ lực tăng trưởng. 9 tháng 2025, chỉ số IIP tăng 27,7% so với cùng kỳ 2024, trong đó chế biến chế tạo tăng 29,4%. Tháng 9/2025, IIP tăng 1,05% so với tháng trước và tăng 37,34% so với cùng kỳ, riêng chế biến chế tạo tăng 43,61%. Quý III/2025, IIP tăng 30,74% so với quý III/2024, nổi bật ở thiết bị điện (+78,52%), sửa chữa & lắp đặt máy móc (+74,66%), điện tử, máy tính & quang học (+52,89%).
Ngành điện tử, máy tính và quang học chiếm 40% quy mô toàn ngành, tăng 41,45% so với cùng kỳ, sản lượng laptop tăng 87,1%. Ngành khoáng phi kim loại tăng 16,45%, chế biến gỗ tăng 42,5%. Một số ngành giảm so cùng kỳ: phương tiện vận tải khác (-0,9%), trang phục (-0,6%); sản xuất ô tô tăng nhẹ 2,7% nhưng sản lượng ô tô các loại đạt 28,3 nghìn chiếc, giảm 0,1%.
Các sản phẩm chủ lực so với cùng kỳ: laptop 22,1 triệu chiếc (+87,1%), điều hòa 42,6 nghìn sp (+40,5%), xi măng 2,5 triệu tấn (+38,8%), thép 540,2 nghìn tấn (+37,6%), giày thể thao 13,7 triệu đôi (+20%), điện thương phẩm 9.265,7 triệu kWh (+10,5%), phân supe 342,8 nghìn tấn (+8,1%)…
Tiêu thụ chế biến, chế tạo 9 tháng tăng 19,2% so với cùng kỳ, nhiều ngành tăng cao: thực phẩm (+84,52%), hóa chất (+46,63%), gỗ (+46,18%), cao su – nhựa (+38,24%). Ngược lại, dệt giảm 35,76%, vận tải khác giảm 12,31%, ô tô giảm 4,58%. Chỉ số tồn kho tháng 9/2025 chỉ tăng 7,4% so với cùng kỳ, nhiều ngành tồn kho giảm như gỗ (-34,97%), trang phục (-40,25%).
Lao động trong doanh nghiệp công nghiệp 9 tháng 2025 tăng 3% so với cùng kỳ, khu vực ngoài quốc doanh tăng 6,8%, FDI +2,5%, Nhà nước +2,5%. Ngành khai khoáng giảm 5,7%, chế biến chế tạo tăng 3,1%, sản xuất và phân phối điện tăng 2,4%.
4. Thương mại, dịch vụ
Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2025 diễn ra sôi động, thị trường hàng hóa phong phú, giá cả ổn định, các dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và vận tải tiếp tục tăng trưởng, góp phần thúc đẩy tiêu dùng và nâng cao đời sống dân cư.
Tháng 9/2025, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 17.019,5 tỷ đồng, tăng 12,3% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hoá đạt 13.440,7 tỷ đồng, tăng 12,8%. Tính chung 9 tháng, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 144.003,3 tỷ đồng, tăng 14,3% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hoá đạt 112.715,9 tỷ đồng, tăng 14,9%, dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 14.424,9 tỷ đồng, tăng 19,4%, dịch vụ lữ hành và các dịch vụ khác đạt 16.862,5 tỷ đồng, tăng 6,8%.
Doanh thu bán lẻ một số nhóm hàng chủ yếu 9 tháng tăng so với cùng kỳ như: lương thực, thực phẩm đạt 30.395 tỷ đồng, tăng 9,9%; gỗ và vật liệu xây dựng 23.483,1 tỷ đồng, tăng 26,2%; xăng dầu các loại 13.338,6 tỷ đồng, tăng 9,4%; hàng may mặc 8.182,6 tỷ đồng, tăng 18,8%; phương tiện đi lại trừ ô tô con 6.607,7 tỷ đồng, tăng 6,4%; ô tô các loại 6.505,7 tỷ đồng, tăng 13,7%. Doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 12.894,4 tỷ đồng, tăng 19,3%; dịch vụ lưu trú 1.530,5 tỷ đồng, tăng 20,1%; dịch vụ lữ hành 746 tỷ đồng, tăng 28%. Riêng trong tháng 9, một số nhóm hàng có xu hướng giảm so với cùng kỳ như ô tô 636,8 tỷ đồng, giảm 25,9% và phương tiện đi lại khác 808,2 tỷ đồng, giảm 0,5%.
Hoạt động vận tải duy trì ổn định, doanh thu 9 tháng ước đạt 14.874,4 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ, trong đó vận tải hàng hóa 10.327,8 tỷ đồng, tăng 7,8%. Sản lượng hàng hóa vận chuyển đạt 88 triệu tấn, tăng 6,2%; hàng hóa luân chuyển 8.823,2 triệu tấn.km, tăng 5,3%; hành khách vận chuyển 54,7 triệu lượt, tăng 16%; hành khách luân chuyển 3.226,8 triệu lượt.km, tăng 19,4%. Riêng tháng 9, sản lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 9,9 triệu tấn, tăng 23,4%; luân chuyển 1.009,4 triệu tấn.km, tăng 22,8%; hành khách vận chuyển 5,8 triệu lượt, tăng 29,1%; hành khách luân chuyển 339,7 triệu lượt.km, tăng 30,6% so với cùng kỳ.
II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
1. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tính đến ngày 18/9/2025, tổng thu ngân sách đạt 41.130 tỷ đồng, tăng 34,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nội địa 36.108 tỷ đồng, tăng 38,99%, chủ yếu từ thu nhà đất 12.393 tỷ đồng, thu doanh nghiệp FDI 10.346 tỷ đồng, khu vực công thương nghiệp ngoài Nhà nước 5.078 tỷ đồng; thu từ xuất nhập khẩu 4.790 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách đạt 66.476 tỷ đồng, tăng 36,64% so với cùng kỳ, gồm chi đầu tư phát triển 24.253 tỷ đồng, chi thường xuyên 42.014 tỷ đồng, trong đó chi sự nghiệp giáo dục – đào tạo 11.647 tỷ đồng, quản lý hành chính 8.920 tỷ đồng, quốc phòng 7.935 tỷ đồng.
2. Hoạt động ngân hàng
Hoạt động ngân hàng ổn định lãi suất, hỗ trợ khách hàng; lãi suất huy động bình quân 2,7% – 5,5%/năm, lãi suất cho vay 6,0% – 8,2%/năm. Đến 30/9/2025, tổng vốn huy động đạt 303.640 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cuối năm 2024, trong đó tiền gửi dân cư 235.559 tỷ đồng (+22,2%), tiền gửi thanh toán 66.714 tỷ đồng (-21,2%). Tổng dư nợ cho vay đạt 336.260 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cuối năm 2024, trong đó dư nợ ngắn hạn 223.976 tỷ đồng (+11,5%), trung và dài hạn 112.284 tỷ đồng (+11%). Xét theo ngành kinh tế, thương mại và dịch vụ chiếm cao nhất với 232.805 tỷ đồng (+15,1%), công nghiệp và xây dựng 74.706 tỷ đồng (+7,6%), trong khi nông, lâm, thủy sản giảm còn 28.749 tỷ đồng (-5,4%). Nợ xấu 1.550 tỷ đồng, chiếm 0,46% tổng dư nợ, trong tầm kiểm soát.
3. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn 9 tháng đạt 104 nghìn tỷ đồng, tăng 19,8% so với cùng kỳ, trong đó vốn ngoài Nhà nước 54,3 nghìn tỷ đồng (+15,8%), vốn FDI 25,2 nghìn tỷ đồng (+26,7%), vốn Nhà nước 24,5 nghìn tỷ đồng (+22,4%). Riêng vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý đạt 17,1 nghìn tỷ đồng (+19,9%), bằng 59,1% kế hoạch năm, trong đó vốn ngân sách cấp tỉnh 11,7 nghìn tỷ đồng (+27%), cấp xã 5,4 nghìn tỷ đồng (+6,9%). Công tác giải ngân vốn đầu tư công đạt 74,4% kế hoạch Thủ tướng giao, góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm. Hoạt động thu hút đầu tư khởi sắc, đến 20/9/2025, tỉnh thu hút 153 dự án DDI mới với tổng vốn 44.720,2 tỷ đồng (gấp 4,8 lần cùng kỳ) và 39 dự án FDI mới với tổng vốn 128,8 triệu USD, giảm 51% so với cùng kỳ, trong đó Trung Quốc chiếm 20 dự án với 79,6 triệu USD.
4. Hoạt động của doanh nghiệp
Tính đến 22/9/2025, toàn tỉnh có 3.540 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với vốn đăng ký 31,6 nghìn tỷ đồng, tăng 59,1% về số DN và 57,2% về vốn, bình quân 9 tỷ đồng/DN, giảm 1,9% so với cùng kỳ, tạo việc làm cho 20,8 nghìn lao động (-15,2%). Trong đó có 1.507 DN thương mại (+84,5%), 668 DN công nghiệp chế biến, chế tạo (+51,9%), gồm 21 DN FDI (75% so với cùng kỳ). Ngoài ra có 763 DN quay trở lại hoạt động (+22,1%), nâng tổng số DN thành lập mới và quay lại hoạt động lên 4.303 DN (+51%); trong khi có 509 DN giải thể (+86,5%) và 1.968 DN tạm ngừng hoạt động (+25,8%). Điều tra xu hướng SXKD quý III/2025 cho thấy 31,5% DN đánh giá tốt hơn quý II, 42,9% ổn định, 25,6% khó khăn; dự báo quý IV có 34,7% DN kỳ vọng tốt hơn, 44,5% ổn định, 20,8% khó khăn. Về đơn hàng quý III so với quý II có 71,3% DN giữ ổn định và tăng, 28,7% giảm; dự báo quý IV có 55,6% DN tăng và giữ ổn định, 44,4% giảm. Đơn hàng xuất khẩu quý III có 74,1% DN giữ ổn định và tăng, 25,9% giảm; dự báo quý IV có 79,3% DN giữ ổn định và tăng, 20,7% giảm. Về lao động quý III có 80,3% DN giữ ổn định và tăng, 19,7% giảm; dự báo quý IV có 90,9% DN ổn định và tăng, 9,1% giảm. Về khối lượng sản xuất quý III có 71,3% DN giữ ổn định và tăng, 28,7% giảm; dự báo quý IV có 80,3% DN giữ ổn định và tăng, 19,7% giảm.
5. Chỉ số giá
Công tác bình ổn giá được thực hiện hiệu quả, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng năm 2025 tăng 2,77% so với cùng kỳ.
CPI tháng 9/2025 tăng 0,42% so với tháng trước, tăng 2,77% so với tháng 12 năm trước (sau 9 tháng) và tăng 3,16% so với tháng cùng kỳ (sau 12 tháng).
Bình quân quý III/2025, CPI tăng 2,99% so với cùng kỳ, trong đó: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,63%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,84%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 3,35%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,03%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,57%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,75%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,56%;…
Sau 9 tháng, CPI bình quân tăng 2,77% so với cùng kỳ, các nhóm hàng chủ yếu tác động làm tăng CPI gồm: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,54%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,11%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 5,59%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,68%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,58%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,47%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,46%;...
Chỉ số giá Vàng bình quân 9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 42,72%; chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 4,08%.
III. MỘT SỐ LĨNH VỰC XÃ HỘI
Chín tháng năm 2025, tình hình xã hội và đời sống dân cư cơ bản ổn định, thị trường lao động có nhiều tín hiệu tích cực, việc làm tăng, an sinh xã hội bảo đảm, giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, du lịch tiếp tục phát triển; trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, thiên tai và vi phạm môi trường được kiểm soát.
1. Lao động, việc làm: Tháng 9/2025, lao động thôi việc hơn 1,6 nghìn người, chủ yếu ở khu vực FDI, trong khi lao động có việc làm tăng thêm trên 3,6 nghìn người (+7,2% so tháng trước). Chỉ số sử dụng lao động DN công nghiệp tăng 1,8% so tháng trước và 4,3% so cùng kỳ. Toàn tỉnh có trên 1.852,2 nghìn lao động, chiếm 50,1% dân số. Chín tháng, Trung tâm giới thiệu việc làm tư vấn cho 45.938 lượt người, giới thiệu trong nước 7.994 người, đưa đi làm việc ở nước ngoài 5.630 người.
2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội: Sau sáp nhập, tỉnh tạo điều kiện sinh hoạt, làm việc cho cán bộ công chức. Công tác chi trả, hỗ trợ chính sách được thực hiện kịp thời, trong quý III thăm hỏi, hỗ trợ người có công 462,78 tỷ đồng (+28,7%), lũy kế 9 tháng đạt 1.400,13 tỷ đồng; hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo hơn 6,5 tấn gạo dịp Tết. Quý III hỗ trợ 138 nghìn đối tượng bảo trợ xã hội 421,33 tỷ đồng (+97,9%), 9 tháng đạt 980,75 tỷ đồng (+49,6%). Tín dụng chính sách giải ngân 3.584,2 tỷ đồng, chủ yếu cho vay việc làm 1.181,3 tỷ, hộ nghèo 244,35 tỷ, cận nghèo 248,13 tỷ, SXKD vùng khó khăn 302,33 tỷ.
3. Giáo dục – đào tạo: Sau sáp nhập, tỉnh có 2.376 cơ sở giáo dục, đứng thứ 3 cả nước. Ngành giáo dục hoàn thành tuyển sinh đầu cấp, tổ chức thành công kỳ thi THPT quốc gia 2025, kết quả xếp thứ 5/34 tỉnh, thành phố. Khoảng 80% trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia, trên 90% phòng học kiên cố, chất lượng phổ cập giáo dục được giữ vững và nâng cao.
4. Y tế: Từ đầu năm đến 8/2025 ghi nhận 819 ca sốt phát ban nghi sởi (576 ca dương tính), 395 ca tay chân miệng (+70 ca), 78 ca sốt xuất huyết, phát sinh 11 ổ dịch trong tháng 8. Công tác giám sát dịch tễ, tiêm vắc xin được triển khai kịp thời. Kiểm tra an toàn thực phẩm 9.989 cơ sở, 96,7% đạt chuẩn; 9 tháng có 1 vụ ngộ độc với 3 người mắc, không tử vong.
5. Văn hóa, thể thao, du lịch: Nhiều hoạt động kỷ niệm ngày lễ lớn được tổ chức. Thể thao thành tích cao duy trì 489 VĐV, tham gia 21 giải quốc gia giành 159 huy chương (60 HCV, 45 HCB, 54 HCĐ), 3 giải quốc tế giành 8 huy chương. Tỉnh đăng cai 5 giải quốc tế và 3 giải quốc gia thành công.
6. Tai nạn giao thông: Quý III/2025 xảy ra 181 vụ, làm 81 người chết, 146 người bị thương. Riêng từ 15/8–14/9 xảy ra 63 vụ, làm 24 người chết, 58 người bị thương. 9 tháng (15/12/2024–14/9/2025) xảy ra 552 vụ, giảm 131 vụ so cùng kỳ, làm 297 người chết (-21) và 411 người bị thương (-113).
7. Thiên tai: Đến 26/9/2025 xảy ra 21 đợt thiên tai tại 105 xã, làm 6 người chết, 3 người bị thương, gây thiệt hại 2.458,32 ha lúa, 2.463,07 ha hoa màu, 355,06 ha cây lâm nghiệp, chết 55 gia súc và 16.606 gia cầm, 1.700 ngôi nhà bị hư hỏng; tổng thiệt hại khoảng 296,8 tỷ đồng.
8. Cháy nổ, môi trường: Từ 26/6–25/9/2025 xảy ra 48 vụ cháy làm 1 người bị thương, thiệt hại 1.022,8 triệu đồng; tính từ 26/12/2024 đến 25/9/2025 có 117 vụ cháy, 1 vụ nổ, làm 4 người bị thương, thiệt hại 4.879 triệu đồng. Về môi trường, từ 26/8–25/9/2025 phát hiện 156 vụ vi phạm, xử phạt 1.158,1 triệu đồng; lũy kế từ 26/12/2024 đến 25/9/2025 phát hiện 807 vụ (giảm 433 vụ), xử phạt 10.189,2 triệu đồng (giảm 3.541,73 triệu đồng)./.
Tin khác