Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 02 năm 2025
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định. Bà con nông dân các địa phương cơ bản thu hoạch xong các loại cây trồng vụ đông và tập trung làm đất, gieo trồng cây vụ xuân đảm bảo khung thời vụ; công tác kiểm tra, giám sát tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được thực hiện hiệu quả; công tác trồng rừng và trồng cây lâm nghiệp phân tán trên địa bàn đạt kết quả tốt.
1.1. Sản xuất nông nghiệp
a. Trồng trọt
Tháng 02/2025, trên địa bàn xuất hiện không khí lạnh tăng cường và dự báo thời tiết có những diễn biến bất thường. Để đảm bảo sản xuất vụ xuân đạt kết quả tốt, các ngành chức năng đã tăng cường truyền thông, hướng dẫn bà con nông dân chủ động các biện pháp phòng chống rét cho mạ, lúa mới cấy; gieo mạ Xuân muộn đảm bảo tốt khung thời vụ và dự phòng nguồn giống gieo bổ sung khi có thiệt hại xảy ra. Tính đến 20/02/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng được 32.534,7 ha cây vụ xuân, đạt 87,46% kế hoạch và giảm 3,76% so với cùng kỳ năm 2024.
b. Chăn nuôi
Số lượng đầu con và sản lượng chăn nuôi trên địa bàn giảm đáng kể sau đợt thu hoạch phục vụ nhu cầu tiêu dùng dịp Tết.
Số lượng đàn gia súc, gia cầm ước tính đến hết tháng 02/2025: Đàn trâu có 13 nghìn con, giảm 18,81% so cùng thời điểm năm trước; đàn bò 78,8 nghìn con, giảm 12,98%, đàn bò sữa 18,1 nghìn con, tăng 200 con so với cùng kỳ; đàn lợn 445,5 nghìn con, tăng 3,48%; đàn gia cầm 11,7 nghìn con, tăng 3,36%.
Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng đạt 12.349,5 tấn, giảm 9,82% so cùng kỳ (trong đó thịt lợn giảm 9,91%; thịt gia cầm giảm 10,0%); trứng gia cầm đạt 76,5 triệu quả, tăng 4,65%. Lũy kế 02 tháng đầu năm, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 2,00%; trứng tăng 4,08% so cùng kỳ.
1.2. Sản xuất lâm nghiệp
Tháng 2/2025, ước tính toàn tỉnh trồng được 80,8 ha rừng trồng mới tập trung, tăng 5,48% và 106,5 nghìn cây lâm nghiệp phân tán, tăng 15,14% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác đạt 2.712,0 m3, tăng 4,47%; tính chung 02 tháng đầu năm đạt 6.241,8 m3, tăng 4,31% so với cùng kỳ.
1.3. Sản xuất thuỷ sản
Tháng 2/2025, sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định và phát triển; công tác phòng, chống dịch bệnh, chống rét cho đàn cá được các cơ sở nuôi trồng chủ động thực hiện. Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng toàn tỉnh ước đạt 1.880,2 tấn, tăng 4,07% (+73,6 tấn); lũy kế 02 tháng đầu năm, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 3.824,7 tấn, tăng 2,18% so với cùng kỳ.
2. Sản xuất công nghiệp
Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn đã ổn định trở lại ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Ất Tỵ. Nhiều doanh nghiệp đã tuyển dụng thêm lao động, tăng ca, đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành các đơn hàng còn tồn đọng. Kết quả sản xuất ghi nhận mức tăng trưởng so với tháng trước và so với cùng kỳ. Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 02/2025 của tỉnh tăng 1,46% so với tháng trước và tăng 33,34% so với cùng kỳ (tháng 02/2024 IIP giảm 5,01%). Ước tính 2 tháng đầu năm 2025, IIP toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tăng 12,19% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số sản xuất các ngành công nghiệp chủ lực:
So với cùng kỳ năm trước, nhiều ngành ghi nhận mức tăng cao: sản xuất kim loại (+98,61%), sản xuất ô tô (+104,50%), sản xuất xe máy (+58,22%) nhờ nhu cầu tiêu thụ gia tăng và doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất; sản xuất linh kiện điện tử (+20,39%) phục hồi tích cực khi các doanh nghiệp mở rộng quy mô để đáp ứng đơn hàng; ngành sản xuất trang phục (+19,90%) hưởng lợi từ sự phục hồi của thị trường xuất khẩu; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (+32,41%).
Sản phẩm sản xuất: Tháng 02/2025, các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đều ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ năm trước; trong đó, tăng mạnh nhất là sản phẩm xe ô tô các loại với mức tăng 116,26% (tháng 02/2024 sản phẩm xe ô tô các loại giảm 36,04% so với tháng 02/2023).
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 02/2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tiêu thụ ước giảm 2,39% so với tháng trước và tăng 49,30% so với cùng kỳ. So với tháng trước, một số ngành có mức tăng khá: Ngành sản xuất kim loại tăng 32,24%; ngành sản xuất xe có động cơ tăng 23,33%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 23,83%. Ngược lại, ngành có mức giảm mạnh là ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu và ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic với mức giảm lần lượt là 22,48% và 40,50%.
Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 02/2025, chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,82% so với tháng trước và giảm 18,74% so với cùng kỳ. So với tháng trước, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao: Ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 50,42%; ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 31,77%; ngành 30 sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 31,43%. Ngược lại, các ngành có chỉ số tồn kho giảm đáng kể: ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 57,56%; ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 22,62%; ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 38,39%.
3. Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp
3.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về đẩy mạnh giải ngân đầu tư công theo Công điện số 16/CĐ-TTg ngày 18/2/2025, cùng sự chỉ đạo quyết liệt, sự phối hợp chặt chẽ các cấp, các ngành, tiến độ thực hiện vốn đầu tư ngân sách nhà nước trong tháng 02/2025 đạt kết quả tích cực. Tổng vốn đầu tư thực hiện tháng 02/2025 ước đạt 524,98 tỷ đồng, tăng 12,80% so với tháng trước; tăng 42,01% so với cùng kỳ năm trước và bằng 7,31% kế hoạch năm.
Lũy kế hai tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 990,40 tỷ đồng, bằng 13,79% kế hoạch năm, tăng 19,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đầu tư ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 295,9 tỷ đồng, tăng 1,91% so với cùng kỳ, bằng 7,05% kế hoạch năm; vốn đầu tư ngân sách cấp huyện đạt 349,9 tỷ đồng, bằng 22,43% kế hoạch năm; vốn đầu tư ngân sách cấp xã đạt 344,6 tỷ đồng, bằng 24,23% kế hoạch năm.
3.2. Thu hút đầu tư trực tiếp
Theo số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, đến ngày 15/02/2025, toàn tỉnh đã thu hút được 03 dự án DDI (01 dự án cấp mới, 02 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 210,51 tỷ đồng, bằng 13,76% so với cùng kỳ và đạt 5,59% kế hoạch năm (3.000 tỷ đồng).
Khu vực FDI, tỉnh đã cấp giấy phép cho 11 dự án (03 dự án mới, 08 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 53,97 triệu USD, bằng 43,54% so với cùng kỳ và đạt 8,99% kế hoạch năm (600 triệu USD).
3.3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Tình hình đăng ký kinh doanh trong 2 tháng đầu năm có xu hướng tích cực với số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng khá.
Tính đến ngày 20/02/2025, toàn tỉnh có 191 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.068 tỷ đồng, tăng 11,05% về số doanh nghiệp, giảm 37,08% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Ước tính tạo thêm việc làm cho 1.236 lao động. Doanh nghiệp thành lập mới tập trung chủ yếu ở các ngành, lĩnh vực: ngành Bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác (65 doanh nghiệp với vốn đăng ký đạt 305 tỷ đồng); ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo (39 doanh nghiệp với vốn đăng ký 301 tỷ đồng); ngành Xây dựng (18 doanh nghiệp với vốn đăng ký 229 tỷ đồng) …
Lũy kế 2 tháng đầu năm, số lượng doanh nghiệp tham gia quay trở lại thị trường là 172 doanh nghiệp, tăng 18,62% so với cùng kỳ, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 2 tháng đầu năm lên 363 doanh nghiệp. Tuy nhiên, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giải thể vẫn có chiều hướng gia tăng với 709 doanh nghiệp, tăng 28,21% so với cùng kỳ; để duy trì đà tăng trưởng, tỉnh cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó khăn.
4. Thương mại, dịch vụ
4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tháng 02/2025, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn có phần chững lại sau dịp Tết Nguyên đán, nhưng vẫn ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Nguồn cung và giá cả các mặt hàng, dịch vụ trên địa bàn duy trì ổn định.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 02/2025 ước đạt 6.768,4 tỷ đồng, giảm 9,15% so với tháng trước và tăng 17,0% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm, tổng mức ước đạt 14.218,5 tỷ đồng, tăng 13,14% so với cùng kỳ.
Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 02/2025 ước đạt 5.373,8 tỷ đồng, giảm 10,54% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng các măt hàng thiết yếu sau Tết Nguyên đán suy giảm, giảm sâu ở ngành bán lẻ lương thực, thực phẩm và hàng may mặc với mức giảm lần lượt là -16,83% và -15,71%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, doanh thu bán lẻ hàng hóa vẫn tăng 15,78%.
Tính chung 02 tháng đầu năm, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 11.380,5 tỷ đồng, tăng 12,64% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 02/2025 ước đạt 576,0 tỷ đồng, giảm 1,88% so với tháng trước nhưng tăng 22,10% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu lưu trú đạt 60,78 tỷ đồng, tăng 2,63% so với tháng trước do lượng khách du xuân, tham gia lễ hội gia tăng; trong khi dịch vụ ăn uống giảm 2,39%, ước đạt 515,2 tỷ đồng do nhu cầu tổ chức lễ tiệc giảm sau Tết. Lũy kế 02 tháng, doanh thu lưu trú và ăn uống đạt 1.163,0 tỷ đồng, tăng 15,97% so với cùng kỳ.
Doanh thu du lịch lữ hành tháng 02/2025 cũng có tín hiệu tích cực, doanh thu đạt 13,8 tỷ đồng, tăng 2,31% so với tháng trước và tăng 14,11% so với cùng kỳ nhờ nhu cầu du lịch đầu năm gia tăng. Lũy kế 02 tháng đầu năm, doanh thu du lịch lữ hành đạt 27,36 tỷ đồng, tăng 6,92% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ khác đạt 804,8 tỷ đồng, giảm 4,52% so với tháng trước, tăng 22,01% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ khác đạt 1.647,7 tỷ đồng, tăng 14,76% so với cùng kỳ.
4.2. Vận tải hành khách và hàng hoá
Hoạt động vận tải duy trì ổn định với doanh thu toàn ngành đạt 705,4 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,36% so với tháng trước nhưng tăng 14,55% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm, doanh thu ngành vận tải ước đạt 1.413,3 tỷ đồng, tăng 9,32% so với cùng kỳ. Hoạt động của từng loại hình vận tải trong tháng 02/2025 như sau:
Vận tải hành khách: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 175,5 tỷ đồng, tăng mạnh 29,24% so với tháng trước và tăng 17,35% so với cùng kỳ do nhu cầu đi lễ hội, du xuân tăng cao, đồng thời việc mở rộng mạng lưới xe buýt, xe khách và số lượng taxi chất lượng cao trên địa bàn đã đáp ứng tốt nhu cầu di chuyển đa dạng của người dân.
Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 444,6 tỷ đồng, giảm 8,47% so với tháng trước do nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiêu dùng giảm sau Tết, nhưng vẫn tăng 8,38% so với cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt hơn 3,6 triệu tấn, luân chuyển đạt 378,57 triệu tấn.km.
Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: Doanh thu ước đạt 85,3 tỷ đồng, giảm 1,28% so với tháng trước nhưng tăng mạnh 52,28% so với cùng kỳ, tiếp tục xu hướng tăng trưởng nhờ sự phát triển của cảng cạn ICD Vĩnh Phúc.
5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
5.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước
Hai tháng đầu năm, các nguồn thu chính từ khu vực doanh nghiệp FDI, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước và thu hải quan đều ghi nhận kết quả khả quan. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến ngày 20/02/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 7.475,7 tỷ đồng, tăng 13,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa đạt 6.850,1 tỷ đồng, tăng 13,78%, chủ yếu nhờ vào mức tăng trưởng mạnh của thu từ khu vực doanh nghiệp FDI (5.189,5 tỷ đồng, tăng 15,09%), doanh nghiệp ngoài Nhà nước (619,9 tỷ đồng, tăng 45,40%). Hoạt động xuất, nhập khẩu gia tăng, đóng góp vào nguồn thu hải quan của tỉnh với 625,1 tỷ đồng, tăng 14,16% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 20/02/2025 đạt 3.113,6 tỷ đồng, tăng 11,62% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển (gồm cả tạm ứng) đạt 1.061,3 tỷ đồng, tăng 0,12%; chi thường xuyên đạt 2.040,3 tỷ đồng, tăng 18,87% so với cùng kỳ năm trước.
5.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng
Ngân hàng nhà nước (NHNN) tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế. Mặt bằng lãi suất trên địa bàn tiếp tục duy trì ổn định so với tháng trước, lãi suất huy động bằng VNĐ phổ biến từ 0,5-6,0%/năm đối với từng kỳ hạn; lãi suất cho vay trên địa bàn phổ biến từ 3,5-10,5%/năm đối với từng kỳ hạn và đối tượng.
Tổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 28/02/2025 đạt 136.000 tỷ đồng, giảm 2,95% so với cuối năm 2024. Chủ yếu huy động từ nguồn tiền gửi dân cư, ước đạt 95,5 nghìn tỷ đồng, tăng 3,97%, bù đắp cho sự thiếu hụt từ tiền gửi của các tổ chức kinh tế (ước đạt 40,5 nghìn tỷ đồng, giảm 16,19%) do doanh nghiệp không có nguồn tiền nhàn rỗi, tập trung cho hoạt động sản xuất kinh doanh, một số doanh nghiệp nước ngoài chuyển lợi nhuận về nước.
Tổng dư nợ cho vay dự kiến tại thời điểm 28/02/2025 đạt 146.000 tỷ đồng, tăng 1,61% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, ước đạt 108.000 tỷ đồng, tăng 1,23% so với cuối năm 2024, chiếm 73,97% tổng dư nợ. Cơ cấu dư nợ tập trung vào các hoạt động sản xuất, dịch vụ và đầu tư phát triển, trong đó dư nợ khu vực hộ gia đình, tư nhân, cá thể chiếm 60,66% tổng dư nợ và dư nợ khu vực doanh nghiệp chiếm 39,04% tổng dư nợ.
Nợ xấu toàn địa bàn ước tại thời điểm 28/02/2025 là 1.350 tỷ đồng; chiếm tỷ lệ 0,9% trên tổng dư nợ.
6. Chỉ số giá
Trong tháng, lượng hàng hoá dồi dào, phong phú, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chủ động về nguồn hàng, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh trước, trong và sau Tết không có biến động lớn về giá cả. CPI tiêu dùng (CPI) tháng 02/2025 giảm 0,02% so với tháng trước, tăng 1,09% so với cùng kỳ. Bình quân hai tháng đầu năm 2025, CPI tăng 1,09%.
So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm hàng tăng giá, 02 nhóm hàng giảm giá và 01 nhóm hàng không có biến động. Cụ thể: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,45% so với tháng trước; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,58%; nhóm giao thông tăng 0,35%, chủ yếu do giá xăng dầu tăng nhẹ; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,41% do giá hoa, cây cảnh tăng 30,07%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,08% do giá đồ trang sức tăng 4,65%. Ở chiều ngược lại, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 4,04%; nhóm rau xanh và thực phẩm chế biến giảm 10,98% do nguồn cung dồi dào, giá nhập vào giảm.
So với cùng kỳ năm trước, CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2025 tăng 1,09%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 07 nhóm tăng giá, 04 nhóm giảm giá. Cụ thể: nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,27%, tác động làm CPI chung tăng 0,80 điểm phần trăm do tỉnh áp dụng mức giá dịch vụ khám chữa bệnh mới theo Nghị quyết số 20/2024/NQ-HĐND; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,52%, tác động làm CPI chung tăng 0,81 điểm phần trăm, trong đó giá thịt lợn tăng 14,41%, thịt gia cầm tăng 3,65% do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán và rằm tháng Giêng tăng cao; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,71%, tác động làm CPI chung tăng 0,26 điểm phần trăm do giá điện sinh hoạt tăng 5,16% theo quyết định điều chỉnh giá của Bộ Công Thương; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 4,22%, tác động làm CPI chung tăng 0,38 điểm phần trăm. Ở chiều ngược lại, nhóm giáo dục giảm 25,19%, tác động làm CPI chung giảm 1,63 điểm phần trăm do tỉnh thực hiện chính sách hỗ trợ học phí theo Nghị quyết số 11/2024/NQ-HĐND; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 4,40%, tác động làm CPI chung giảm 0,31 điểm phần trăm do các cửa hàng thực hiện chương trình khuyến mại kích cầu tiêu dùng.
Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 02/2025, chỉ số giá vàng tăng 4,08% so với tháng trước, tăng 33,18% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,63% so với tháng trước; tăng 4,13% so với cùng kỳ năm trước.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động, giải quyết việc làm, an sinh xã hội
Lao động việc làm: Tính từ ngày 15/01/2024 đến 14/02/2025, số lao động thôi việc, mất việc là 450 người, giảm 717 người so với tháng trước, tăng 30 người so với cùng kỳ. Trong kỳ, không có lao động nghỉ giãn việc (tháng 02/2024 có 637 lao động nghỉ giãn việc) cho thấy sự ổn định hơn của thị trường lao động trong giai đoạn đầu năm. Chỉ số sử dụng lao động trong lĩnh vực công nghiệp tháng 02/2025 tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 1,95% so với cùng kỳ.
Giải quyết việc làm: Công tác hỗ trợ lao động tiếp tục được triển khai thông qua các chương trình tư vấn việc làm, đào tạo nâng cao tay nghề và kết nối cung - cầu lao động. Tính đến ngày 15/02/2025, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 2.643 lao động, giảm 34,06% so cùng kỳ. Trong đó: giải quyết 421 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 1.043 việc làm trong khu vực công nghiệp - xây dựng; 1.129 việc làm khu vực dịch vụ; 50 người đi xuất khẩu lao động.
An sinh xã hội: Trong dịp Tết Nguyên đán, lãnh đạo tỉnh cùng các tổ chức đoàn thể đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công với cách mạng, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội. Công tác thăm hỏi tặng quà được các cấp, các ngành tổ chức chu đáo, trang trọng, kịp thời, đúng đối tượng và đúng định mức. Theo báo cáo từ các Sở, ngành, các đoàn thăm hỏi đã trao tặng 121,3 nghìn suất quà với số tiền trên 64,3 tỷ đồng.
2. Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc sắc, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người dân. Đêm giao thừa (28/01/2025), chương trình nghệ thuật đặc biệt kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2025) và chào đón Tết Nguyên đán được tổ chức tại Quảng trường Hồ Chí Minh với chủ đề “Chào Xuân mới Ất Tỵ 2025 - Tiến vào kỷ nguyên mới”. Trên địa bàn tỉnh đã tổ chức hai điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại thành phố Vĩnh Yên và Phúc Yên. Ngày 02 và 03/02/2025 (tức mùng 5 và 6 tháng Giêng âm lịch), các chương trình nghệ thuật chào năm mới diễn ra tại nhiều địa phương, phục vụ nhân dân và du khách. Đồng thời, tại 9 huyện/thành phố, nhiều hoạt động văn hóa, giao lưu, gặp mặt, liên hoan văn nghệ quần chúng được tổ chức sôi nổi, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong dịp đầu xuân.
Bên cạnh các hoạt động văn hóa, phong trào thể thao trong tỉnh cũng diễn ra sôi nổi. Ngày 21/02/2025, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức khai mạc giải thể thao “Mừng Đảng - Mừng Xuân” Ất Tỵ 2025 nhằm chào mừng 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 79 năm Ngày Thể thao Việt Nam và 94 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Giải đấu diễn ra từ ngày 21-22/02/2025, thu hút hơn 300 vận động viên từ 25 đoàn thể thao thuộc các sở, ngành, cơ quan, đơn vị và 9 huyện, thành phố tham gia tranh tài ở các nội dung: cờ tướng, kéo co và Pickleball. Kết thúc giải, Ban Tổ chức trao các giải Nhất, Nhì, Ba cho từng bộ môn, trong đó bộ môn Pickleball có 08 giải Nhất, 08 giải Nhì và 16 giải Ba.
3. Y tế
Tình hình dịch bệnh: Trong tháng 2/2025, các ngành chức năng của tỉnh tiếp tục duy trì hoạt động phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo công tác trực phòng chống dịch, giám sát chặt chẽ các bệnh truyền nhiễm, sẵn sàng ứng phó với các tình huống y tế khẩn cấp. Đặc biệt, công tác phòng, chống dịch bệnh mùa đông - xuân được chú trọng nhằm ngăn chặn nguy cơ bùng phát dịch lớn. Từ ngày 01/01 đến 31/01/2025, tỉnh ghi nhận 07 ca tay chân miệng, 80 ca thủy đậu, 360 ca cúm, 03 ca sởi, 01 ca nhiễm vi rút Adeno và 01 ca ho gà. Các ca bệnh truyền nhiễm chưa ghi nhận trường hợp tử vong.
Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác truyền thông, giáo dục về an toàn thực phẩm được đẩy mạnh trên toàn tỉnh, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán và mùa lễ hội xuân 2025 theo chỉ đạo của Trung ương và tỉnh. Ngành Y tế chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm thông qua thanh tra, kiểm tra, tập huấn và giám sát ô nhiễm. Từ ngày 01/01 đến 31/01/2025, các đoàn kiểm tra liên ngành đã kiểm tra 666 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống. Trong đó, 643 cơ sở đạt yêu cầu (chiếm 96,54%), 23 cơ sở vi phạm (chiếm 3,46%). Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận trường hợp ngộ độc thực phẩm.
4. Giáo dục và đào tạo
Tháng 2/2025, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc triển khai nhiều hoạt động quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh. Sở Giáo dục và Đào tạo đã ban hành hướng dẫn xét công nhận tốt nghiệp THCS năm học 2024-2025. Việc xét công nhận diễn ra hai lần: lần thứ nhất ngay sau khi kết thúc năm học dành cho học sinh học hết lớp 9, lần thứ hai trước khai giảng năm học mới dành cho học sinh cần rèn luyện hoặc đánh giá lại trong kỳ nghỉ hè. Điều kiện xét công nhận gồm độ tuổi không quá 21, hoàn thành chương trình THCS và có đầy đủ hồ sơ theo quy định.
Công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh được đẩy mạnh thông qua các hoạt động tư vấn, trải nghiệm nghề nghiệp và phối hợp với các trường đại học, cao đẳng. 100% trường THCS, THPT trên địa bàn tỉnh thành lập Ban hướng nghiệp, giúp học sinh lựa chọn ngành học phù hợp với năng lực và nhu cầu thị trường lao động. Trước thực tế tỷ lệ phân luồng học sinh sau THCS của tỉnh đạt trên 30% (cao hơn mức bình quân cả nước 17,8%), Sở GD&ĐT đã đề xuất tăng số lượng tuyển sinh vào lớp 10 công lập. Theo đề xuất, dự kiến mỗi lớp 10 tăng thêm 5 học sinh, nâng sĩ số từ 40 lên 45 học sinh/lớp, giúp thêm 1.500-1.700 học sinh được vào trường công lập, nâng tỷ lệ tuyển sinh lên 73%.
5. Tình hình an ninh, trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường
Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Tháng 02/2025, toàn tỉnh xảy ra 42 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (giảm 32 vụ so với tháng trước) làm 01 người chết và 10 người bị thương, thiệt hại tài sản 4.972,15 triệu đồng, đã điều tra làm rõ 36/42 vụ (đạt 85,71%), bắt giữ 65 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 1.058,89 triệu đồng.
Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/2/2025, toàn tỉnh xảy ra 55 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 28 người chết và 48 người bị thương (so với cùng kỳ tăng 28 vụ, tăng 28 người chết, tăng 19 người bị thương).
Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/2/2025, toàn tỉnh xảy ra 20 vụ cháy, không có thiệt hại về người. Số tiền thiệt hại khoảng 20,6 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ cháy giảm 02 vụ, giá trị thiệt hại giảm 73,10 triệu đồng.
Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến 15/2/2025, toàn tỉnh phát hiện 84 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 87 vụ với số tiền xử phạt là 617,46 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 11 vụ, số vụ xử phạt tăng 14 vụ, số tiền xử phạt tăng 179,93 triệu đồng./.
Tin khác