02103 847 407 | phutho@nso.gov.vn

Thông cáo báo chí tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2024

27/06/2024 15:55

Sáu tháng đầu năm 2024, kinh tế thế giới tiếp tục xu hướng phục hồi. Tại thời điểm tháng 6/2024, các tổ chức quốc tế đều nhận định lạc quan hơn về tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2024 so với các dự báo đưa ra trước đó. Tuy nhiên, các nhân tố rủi ro về tình trạng gia tăng xung đột vũ trang tại một số quốc gia, lạm phát kéo dài ở các nền kinh tế phát triển, thiên tai xảy ra với tác động ngày càng nghiêm trọng... làm giảm triển vọng tăng trưởng trong thời gian tới. Trong nước, kinh tế tiếp tục duy trì đà phát triển tích cực ở hầu hết các lĩnh vực; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo. Trong bối cảnh đó, Vĩnh Phúc đã vượt qua khó khăn, từng bước phục hồi và phát triển. Kết quả sản xuất kinh doanh các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ tăng trưởng khá; các chỉ tiêu cân đối vĩ mô như thu ngân sách nhà nước, vốn đầu tư phát triển, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và kim ngạch xuất nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ; các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịp thời, hiệu quả. Kết quả cụ thể như sau:

I. CÁC CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh

1.1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn

Quý II năm 2024, kinh tế Vĩnh Phúc tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Tốc độ tăng trưởng GRDP ước tăng 7,64% so với cùng kỳ, trong đó khu vực công nghiệp xây dựng đã lấy lại mức tăng hai con số, ước đạt 10,23%, đóng góp 5,38 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP quý II. Tính chung 6 tháng đầu năm, GRDP tỉnh Vĩnh Phúc tăng 6,26% (đứng thứ 32/63 cả nước; đứng 9/11 vùng Đồng bằng sông Hồng). Trong đó, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,90%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,05%; khu vực dịch vụ tăng 5,98%; thuế sản phẩm (trừ trợ cấp sản phẩm) tăng 1,53%.

- Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản: Sáu tháng đầu năm 2024, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển ổn định, giá trị tăng thêm (GTTT) khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 1,90% so với cùng kỳ, đóng góp 0,12 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Trong nông nghiệp, sản lượng thu hoạch hầu hết các loại cây chính vụ đông xuân năm 2024 đạt kết quả tốt; chăn nuôi trên địa bàn ổn định, giá lợn hơi duy trì ở mức cao đem lại hiệu quả kinh tế, GTTT ngành nông nghiệp tăng 1,72%, đóng góp 0,10 điểm phần trăm. Ngành Lâm nghiệp và Thủy sản tăng lần lượt 3,34% và 3,85% so với cùng kỳ, do chiếm tỷ trọng nhỏ nên chỉ đóng góp 0,01 và 0,03 điểm phần trăm.

- Khu vực công nghiệp - xây dựng: Tăng trưởng khu vực công nghiệp – xây dựng 6 tháng đầu năm ước tăng 9,05%, đóng góp 4,54 điểm phần trăm vào mức tăng chung của nền kinh tế. Ngành công nghiệp đối mặt với áp lực từ giảm sút nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm lớn như ô tô và xe máy, nhưng ngành sản xuất linh kiện điện tử, ngành sản xuất thép, gạch ốp lát… đạt mức tăng trưởng khá, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GRDP.

Ngành công nghiệp: Sáu tháng đầu năm 2024, GTTT ngành công nghiệp tăng 9,22%, đóng góp 4,20 điểm phần trăm vào tăng trưởng của tỉnh (6 tháng đầu năm 2023 giảm 2,19%). Tình hình các ngành công nghiệp chủ lực:

+ Ngành sản xuất linh kiện điện tử tăng 14,39%, đóng góp 3,40 điểm phần trăm, do các đơn hàng từ những đối tác lớn như Google, Dell, Apple và Samsung vẫn được duy trì, thúc đẩy tăng trưởng;

+ Ngành kim loại và ngành khoáng phi kim loại tăng lần lượt 8,86% và 4,74%, đóng góp 0,10 và 0,08 điểm phần trăm, thị trường vật liệu xây dựng những tháng đầu năm khởi sắc nhờ nhu cầu xây dựng và sửa chữa gia tăng;

+ Ngành sản xuất xe máy mặc dù còn đối mặt với nhiều thách thức từ trong và ngoài nước, song vẫn có sự phục hồi, tăng 1,12% (quý I giảm 5,39%; quý II tăng 6,43%), đóng góp 0,09 điểm phần trăm;

+ Ngành sản xuất ô tô đã ghi nhận dấu hiệu tích cực trong quý II khi sản lượng tăng 33,39% (gần 2,5 nghìn xe) so với quý I, tuy nhiên vẫn giảm 1,27% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng, sản lượng xe ô tô sản xuất ước đạt 17.189 chiếc, giảm 7,93%. Tăng trưởng GTTT ngành sản xuất ô tô 6 tháng đầu năm ước giảm 8,05% (quý I giảm 16,65%; quý II giảm 1,82%) làm giảm 0,24 điểm phần trăm tăng trưởng GRDP chung.

Ngành xây dựng: Hoạt động xây dựng trong 6 tháng đầu năm 2024 vẫn duy trì được sự ổn định và tăng trưởng trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế. GTTT ngành xây dựng tăng 7,41% so với cùng kỳ, đóng góp 0,34 điểm phần trăm tăng trưởng GRDP của tỉnh.

- Tăng trưởng khu vực dịch vụ: Những tháng đầu năm 2024, nền kinh tế còn nhiều khó khăn, người tiêu dùng vẫn có chiều hướng giảm chi tiêu cho các dịch vụ không thiết yếu, hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ trên địa bàn có xu hướng chững lại, đặc biệt trong quý I. Bước sang quý II, nhờ sự phục hồi khá của sản xuất công nghiệp, cùng với các chính sách về kích cầu tiêu dùng, thu hút du lịch… đã thúc đẩy tăng trưởng các ngành thương mại, dịch vụ liên quan, góp phần duy trì GTTT khu vực dịch vụ tăng trưởng với mức tăng 5,98% (vẫn thấp hơn mức tăng 8,76% của cùng kỳ năm 2023). Đóng góp của một số ngành dịch vụ vào mức tăng tổng GTTT của toàn nền kinh tế 6 tháng đầu năm như sau: Ngành vận tải kho bãi tăng 21,93% so với cùng kỳ, đóng góp 0,39 điểm phần trăm; ngành bán buôn và bán lẻ tăng 5,35%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,09%, đóng góp 0,10 điểm phần trăm; ngành thông tin và truyền thông tăng 2,27%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 2,98%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm.

1.2. Quy mô, cơ cấu kinh tế

Quy mô GRDP tỉnh Vĩnh Phúc 6 tháng đầu năm 2024 theo giá hiện hành ước đạt 80,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3 nghìn tỷ đồng, tương đương tăng 8,53% so với 6 tháng đầu năm 2023.

Cơ cấu kinh tế trong GRDP có sự chuyển dịch nhẹ theo hướng tăng tỷ trọng GTTT cả 3 khu vực, giảm tỷ trọng thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm. Tỷ trọng GTTT khu vực công nghiệp, xây dựng trong GRDP tăng từ 48,36% trong 6 tháng đầu năm 2023 lên 48,91% ở 6 tháng đầu năm 2024; khu vực dịch vụ tăng từ 23,24% lên 23,72%; khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản giữ ổn định, chiếm 6,07%; tỷ trọng thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm từ 22,34% xuống còn 21,30%.

2. Tình hình sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực kinh tế

2.1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sáu tháng đầu năm 2024, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh nhìn chung ổn định. Thu hoạch vụ đông xuân đạt kết quả tốt, sản lượng các loại cây trồng chính đều tăng. Công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi, đàn cá được thực hiện hiệu quả; các sản phẩm chăn nuôi và thủy sản có sự tăng trưởng, đáp ứng được nguồn cung thực phẩm trên địa bàn.

Kết quả sản xuất vụ đông xuân năm 2024: Toàn tỉnh gieo trồng được 52,2 nghìn ha cây hằng năm, giảm 0,54% so cùng kỳ. Vụ đông xuân năm 2024 được đánh giá là vụ được mùa với năng suất và sản lượng các loại cây trồng chính đều tăng. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 216,5 nghìn tấn, tăng 1,31%, trong đó sản lượng lúa đạt 180,1 nghìn tấn, tăng 1,02% so với vụ đông xuân năm 2023.

Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 2,65%, trong đó thịt lợn hơi tăng 6,35%; trứng gia cầm tăng 7,62%; sữa bò tăng 3,09% so cùng kỳ.

Sản xuất lâm nghiệp và thủy sản ổn định. Tính chung 6 tháng, sản lượng gỗ khai thác đạt 22,7 nghìn m3, tăng 3,54%; sản lượng thủy sản ước đạt 11,98 nghìn tấn, tăng 3,22% so với cùng kỳ.

2.2. Sản xuất công nghiệp

Hoạt động sản xuất công nghiệp Vĩnh Phúc đã phục hồi trong nửa đầu năm 2024 với chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 9,89%. Tuy nhiên, trên nền so sánh thấp của năm 2023 (6 tháng đầu năm 2023 giảm 2,72%), cùng với đặc điểm ngành công nghiệp có tỷ trọng khu vực FDI cao, các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực gia công, đơn hàng phụ thuộc vào các đối tác lớn ở nước ngoài, tăng trưởng ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm được nhận định chưa thật sự ổn định và bền vững trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn diễn biến phức tạp.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, có 20/25 ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ; 05/25 ngành có chỉ số sản xuất giảm. Ngành sản xuất linh kiện điện tử tăng 14,01% so cùng kỳ tiếp tục giữ vai trò động lực quan trọng đối với nền kinh tế của tỉnh; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại và ngành sản xuất kim loại tăng lần lượt 12,49% và 9,66% do thị trường vật liệu xây dựng khởi sắc; ngành sản xuất xe máy đã có sự tăng trưởng trở lại, ước tăng 1,58%. Ngược chiều, ngành sản xuất ô tô giảm 5,46% do điều kiện kinh tế khó khăn dẫn đến giảm nhu cầu tiêu thụ xe hơi và người tiêu dùng có tâm lý chờ đợi chính sách giảm lệ phí trước bạ; ngành sản xuất trang phục giảm 8,61% do giảm đơn hàng từ các thị trường xuất khẩu.

2.3. Thương mại, dịch vụ

Tình hình giá cả thị trường 6 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn ổn định, lượng hàng hóa phong phú và lưu thông tốt, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sản xuất. Doanh thu các ngành thương mại, dịch vụ quý II/2024 ghi nhận mức tăng cao hơn so với quý I/2024, cho thấy thị trường bán lẻ và dịch vụ đã bắt đầu ổn định sau những tháng đầu năm có xu hướng giảm hoặc tăng thấp. Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 37,6 nghìn tỷ đồng, tăng 6,69% so với cùng kỳ.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 30,6 nghìn tỷ đồng tăng 5,88% so với cùng kỳ. Trong 12 nhóm ngành, có 8/12 nhóm ngành có doanh thu tăng so với cùng kỳ, tăng cao nhất là nhóm ngành đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 40,70%; hàng may mặc tăng 33,90%; vật phẩm, văn hóa giáo dục tăng 36,97%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con tăng 17,38%... Ngược chiều có 4/12 ngành hàng giảm so cùng kỳ: Nhóm hàng ô tô con giảm 12,81%; gỗ, vật liệu xây dựng giảm 8,57%; hàng hóa khác giảm 11,96%; xăng dầu các loại giảm 1,20%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 3,5 nghìn tỷ đồng, tăng 8,21% so với cùng kỳ, trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú tăng 12,08%, dịch vụ ăn uống tăng 6,42%, dịch vụ lữ hành tăng 39,45%. Doanh thu các ngành dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 3,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,46% so với cùng kỳ.

- Hoạt động vận tải: Sáu tháng đầu năm 2024, hoạt động kinh doanh vận tải kho bãi trên địa bàn tỉnh tăng khá. Ước tính doanh thu hoạt động vận tải đạt 4.052 tỷ đồng, tăng 31,48% so với cùng kỳ, trong đó, doanh thu vận tải hành khách tăng 67,85%; doanh thu vận tải hàng hóa tăng 21,34%.

II. CÁC CHỈ TIÊU VỀ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ

1. Thu, chi ngân sách

Tính đến 15/6/2024, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 14.451 tỷ đồng, tăng 5,42% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 12.360 tỷ đồng, tăng 8,61%, với thu thuế giá trị gia tăng đạt 2.101 tỷ đồng, tăng 61,07%. Thu hải quan đạt 2.079 tỷ đồng, giảm 10,02% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/6/2024 đạt 12.117 tỷ đồng, giảm 3,75% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển (bao gồm cả tạm ứng) đạt 6.599 tỷ đồng, giảm 13,06%; chi thường xuyên đạt 5.460 tỷ đồng, tăng 10,36% so với cùng kỳ.

2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm

- Hoạt động ngân hàng, tín dụng: Sáu tháng đầu năm 2024, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trên địa bàn giảm so với cuối năm 2023, lãi suất huy động bằng VNĐ phổ biến từ 0,2-6%/năm đối với từng kỳ hạn, lãi suất cho vay phổ biến từ 4-10,5%/năm đối với từng kỳ hạn và đối tượng.

Ước tính đến 30/6/2024, tổng dự nợ đạt 132 nghìn tỷ đồng, tăng 2,99% so với cuối năm 2023; tổng nguồn vốn huy động đạt 127 nghìn tỷ đồng, tăng 0,62% so với cuối năm 2023.

Nợ xấu ước tính tại thời điểm 30/6/2024 là 1.450 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,08%, mặc dù được kiểm soát ở mức an toàn <2% nhưng nợ xấu đang có xu hướng tăng so với cuối năm 2023.

- Bảo hiểm: Ước tính đến 30/6/2024, toàn tỉnh có 1.169.261 người tham gia bảo hiểm các loại. Trong đó, có 266.821 người tham gia BHXH, chiếm 44% lực lượng lao động, tăng 9,25% so với cùng kỳ; tham gia BH thất nghiệp có 220.319 người; tham gia BHYT có 1.149.588 người; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95% dân số. Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại đến hết tháng 6 năm 2024 ước đạt 3.401,6 tỷ đồng, đạt 48,5% kế hoạch giao và tăng 10,41% so với cùng kỳ năm 2023.

3. Hoạt động đầu tư

Sáu tháng đầu năm 2024, kết quả thu hút vốn đầu tư cũng như tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn có nhiều khởi sắc, đặc biệt nguồn vốn ngân sách, có tác động lan toả tới sự hồi phục, phát triển của các lĩnh vực khác trong nền kinh tế của tỉnh.

- Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội: Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn 6 tháng đầu năm ước đạt 23,2 nghìn tỷ đồng, tăng 8,03% so với cùng kỳ, tăng ở cả 3 khu vực: Khu vực Nhà nước ước đạt 4,7 nghìn tỷ đồng, tăng 30,69%, trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước ước đạt 3,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,30%; Khu vực ngoài Nhà nước ước đạt 10,9 nghìn tỷ đồng, tăng 5,69%; Khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 7,6 nghìn tỷ đồng, tăng 0,52% so với cùng kỳ.

- Tình hình thu hút đầu tư: Tính đến ngày 15/6/2024, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 44 dự án FDI (23 dự án cấp mới, 21 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 435,80 triệu USD, tăng 28,47% so với cùng kỳ, vượt 8,95% kế hoạch giao đầu năm (400 triệu USD). Nguồn vốn đăng ký tập trung chủ yếu ở lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo với 345,80 triệu USD cho 41 dự án. Thị trường đối tác đầu tư truyền thống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc tiếp tục được duy trì, trong đó Hàn Quốc là quốc gia đầu tư lớn nhất với 226,10 triệu USD chiếm 51,88% tổng vốn đăng ký.

Sáu tháng đầu năm, tỉnh đã thu hút được 16 dự án DDI (10 dự án cấp mới, 6 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 2.380,53 tỷ đồng, bằng 43,28% kế hoạch giao đầu năm (5.500 tỷ đồng).

4. Hoạt động của doanh nghiệp

Sáu tháng đầu năm 2024, việc phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh gặp khó khăn: Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tăng cao so với cùng kỳ.

Tính đến ngày 15/6/2024, toàn tỉnh có 625 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 16,89%; số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 680 doanh nghiệp, tăng 25,46%, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể 77 doanh nghiệp, tăng 26,23% so với cùng kỳ.

5. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa

Sáu tháng đầu năm, hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn đạt tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp chủ yếu từ nhóm ngành máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện và nhóm máy móc, thiết bị và phụ tùng.

Theo số liệu báo cáo của Chi cục Hải quan tỉnh Vĩnh Phúc, tính đến ngày 15/6/2024 kim ngạch xuất khẩu ước đạt 8.497,3 triệu USD, tăng 28,60% so với cùng kỳ; Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 8.467,9 triệu USD, tăng 30,09% so cùng kỳ. Nhóm hàng điện tử và linh kiện điện tử chiếm chủ yếu trong cơ cấu kim ngành xuất, nhập khẩu hàng hóa tại Hải quan Vĩnh Phúc, với tỷ lệ 55,76% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 33,78% và 61,49% tổng kim ngạch nhập khẩu, tăng 49,28% so với cùng kỳ.

6. Chỉ số giá

- Chỉ số giá tiêu dùng: Giá thịt lợn tăng do thiếu hụt nguồn cung sau đợt dịch tả lợn châu Phi tại các địa phương lân cận vào cuối năm 2023; giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT ngày 17/11/2023 của Bộ Y tế; giá xăng dầu tăng; điện, nước sinh hoạt tăng do thời tiết nắng nóng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm 2024 tăng 2,54% so với bình quân cùng kỳ năm 2023.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, ghi nhận 9 nhóm hàng tăng giá và 2 nhóm hàng giảm giá. Một số nhóm hàng tăng trong 6 tháng: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,22% so với cùng kỳ; nhóm thuốc và dụng cụ y tế tăng 6,17%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,40 %; nhóm giáo dục tăng 5,49%... Hai nhóm có chỉ số giảm là nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 6,45%; nhóm bưu chính, viễn thông giảm 2,92% so với cùng kỳ.

- Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Bình quân 6 tháng, chỉ số giá vàng tăng 27,65%, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 6,29% so cùng kỳ.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội

Sáu tháng đầu năm 2024, cùng với sự phục hồi và phát triển kinh tế, thị trường lao động việc làm có nhiều khởi sắc; các chính sách hỗ trợ, giải quyết việc làm được thực hiện theo hướng linh hoạt, hiệu quả; chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo... tiếp tục được quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng, góp phần ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

- Ước tính 6 tháng đầu năm 2024: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên có 613,0 nghìn người, tăng 1,56% (tăng 9,4 nghìn người) so với cùng kỳ; Lao động đang làm việc là 602,7 nghìn người, tăng 2,09% (tăng 12,4 nghìn người); Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ ước đạt 36,2%.

- Giải quyết việc làm: Sáu tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 13.700 lao động, tăng 11,2% so với cùng kỳ, đạt 81% kế hoạch năm 2024.

- Công tác bảo đảm an sinh xã hội: Các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, chính sách ưu đãi đối với người có công, chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Trong kỳ, toàn tỉnh đã chi 44.802,1 triệu đồng hỗ trợ các hộ nghèo, cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn. Số tiền trợ cấp trong 6 tháng đầu năm 2024 cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng là 282.867 triệu đồng.

2. Giáo dục

m học 2023-2024, chất lượng giáo dục mũi nhọn của tỉnh tiếp tục được nâng cao: Kết quả k

ỳ thi chọn học sinh giỏi Quốc gia THPT, tỉnh Vĩnh Phúc có

89/98 em học sinh đạt giải, đạt tỷ lệ 90,82%, đứng vị trí thứ 5 so với các tỉnh thành trong cả nước về số lượng học sinh đạt giải và thứ 5 về số lượng giải Nhất, đặc biệt có tới 9 học sinh thuộc 5 môn thi lọt vào vòng 2 chọn đội tuyển dự thi quốc tế (tăng 6 học sinh so với năm học trước).

Trong kỳ, ngành Giáo dục đã tổ chức thành công kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT với 19.096 học sinh đăng ký dự thi. Công tác chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia đã cơ bản hoàn tất, tỉnh Vĩnh Phúc đã bố trí 30 điểm thi và dự kiến 706 phòng thi (676 phòng thi chính thức; 30 phòng thi dự phòng) tại các huyện, thành phố với 15.563 thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT, tăng 1.470 thí sinh so với kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023.

3. Y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm

Công tác phòng bệnh và khám chữa bệnh cho Nhân dân: Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xuất hiện 04 ổ dịch sốt xuất huyết tại 03 huyện, thành phố; các ổ dịch ngay sau khi được phát hiện, đã kịp thời được khống chế, không để dịch lan rộng.

 Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm, với tổng số 450 người mắc, không có trường hợp tử vong.

4. Tình hình tai nạn giao thông, cháy nổ và bảo vệ môi trường

- Tai nạn giao thông: Tính đến ngày 15/6/2024, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 153 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 67 người chết, 120 người bị thương.

 - Cháy nổ: Toàn tỉnh xảy ra 75 vụ cháy làm chết 03 người, bị thương 01 người, ước thiệt hại trên 435,6 triệu đồng và 4,4 ha rừng.

- Công tác bảo vệ môi trường: Toàn tỉnh đã phát hiện 585 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 546 vụ với số tiền xử phạt là 5.052,47 triệu đồng.

- Tình hình thiên tai: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 đợt mưa lớn, giông lốc trên diện rộng làm bị thương 01 người; sập 12 nhà, 364 nhà bị hư hại; ngập úng 406,88 ha lúa, 358,84 hoa màu; 7.642 con gia cầm bị chết, cuốn trôi. Ước tính thiệt hại khoảng 151.407,42 triệu đồng./.

Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc