02103 847 407 | phutho@nso.gov.vn

Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2024

03/10/2024 14:05

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

Quý III năm 2024, sản xuất công nghiệp có nhiều khởi sắc, giúp kinh tế Vĩnh Phúc tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và phát triển. Tốc độ tăng GRDP ước tăng 10,62% so với cùng kỳ, trong đó khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 16,09%, đóng góp 7,67 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP quý III. Tính chung 9 tháng đầu năm, GRDP tỉnh Vĩnh Phúc tăng 7,95% (đứng thứ 20/63 cả nước; đứng 8/11 vùng Đồng bằng sông Hồng). Trong đó, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,16%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,69%; khu vực dịch vụ tăng 7,21%; thuế sản phẩm (trừ trợ cấp sản phẩm) tăng 2,41%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

2.1. Sản xuất nông nghiệp

a. Trồng trọt: 

Diện tích gieo trồng lúa mùa năm 2024 ước đạt 23.434,2 ha, giảm 0,46% so cùng kỳ. Tính đến nay, tỉnh đã thu hoạch gần 56% diện tích lúa mùa, năng suất ước đạt 50,69 tạ/ha, giảm 5,88 tạ/ha so với năm trước; sản lượng ước đạt 118.778,9 tấn, giảm 14.393,8 tấn.

b. Chăn nuôi:

Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm đạt 102.848 tăng 4,45% (trong đó thịt lợn hơi tăng 8,35%; gia cầm hơi giảm 2,27%); sản lượng trứng tăng 9,87% so cùng kỳ. 

2.2. Sản xuất lâm nghiệp

Trong 9 tháng đầu năm 2024, tỉnh Vĩnh Phúc đã trồng 600 ha rừng tập trung, đạt 100% kế hoạch, giảm 9,31% so với năm trước do diện tích rừng khai thác giảm.

2.3. Sản xuất thuỷ sản

Do ảnh hưởng của mưa bão, nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản bị ngập, ảnh hưởng đến kết quả sản xuất thủy sản. Sản lượng thu hoạch thủy sản tháng 9/2024 đạt 2.520,2 tấn, giảm 7,40% so với cùng kỳ năm trước. 9 tháng đầu năm 2024, sản lượng thủy sản ước đạt 18.846 tấn, tăng 1,75% so cùng kỳ.

3. Sản xuất công nghiệp

Tháng 9/2024, chỉ số IIP ước tính giảm 0,97% so với tháng trước và tăng 16,56% so với cùng kỳ. 

Tình hình một số ngành công nghiệp chủ lực như sau:

- Ngành sản xuất linh kiện điện tử tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của ngành công nghiệp tỉnh, chỉ số sản xuất tháng 9/2024 tăng 23,18% so với cùng kỳ. 

- Ngành sản xuất ô tô có IIP giảm 5,7% trong tháng 9 và chỉ tăng 0,37% trong 9 tháng đầu năm, do trong bối cảnh kinh tế khó khăn, người dân hạn chế mua sắm các sản phẩm có giá trị cao trong đó có sản phẩm ô tô.

- Ngành sản xuất xe máy có chỉ số IIP tăng nhẹ 0,23% trong tháng 9 và tăng 8,28% trong 9 tháng đầu năm.

- Ngành sản xuất kim loại và sản phẩm từ khoáng phi kim loại đều tăng trưởng tích cực: Chỉ số IIP ngành sản xuất kim loại tháng 9 tăng 4,34% so với cùng kỳ và trong 9 tháng đầu năm tăng 7,89%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng mạnh 38,70% trong tháng 9 và tăng 17,84% trong 9 tháng đầu năm. 

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 9/2024, thị trường lao động trong ngành công nghiệp ổn định và có sự tăng trưởng nhẹ, đặc biệt ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tăng 4,93% so với tháng trước và 4,71% so với cùng kỳ.

Chỉ số tiêu thụ: Tháng 9/2024, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 3,92% so với tháng trước và 7,51% so với cùng kỳ. 

Chỉ số tồn kho: Tháng 9/2024, chỉ số tồn kho ngành chế biến, chế tạo giảm 6,55% so với tháng trước và 11,75% so với cùng kỳ, cho thấy sự cải thiện về tiêu thụ.

4. Hoạt động của doanh nghiệp

4.1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Tính đến ngày 15/9/2024, toàn tỉnh có 1.093 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 9.482 tỷ đồng, giảm 1,53% về số doanh nghiệp, tăng 7,80% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp quay lại hoạt động là 288 doanh nghiệp, giảm 2,70% so cùng kỳ, trong khi số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 794 doanh nghiệp, tăng 25,04% so cùng kỳ, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể 144 doanh nghiệp, tăng 35,85%.

4.2. Xu hướng SXKD ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Theo đánh giá từ các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) trong quý III/2024 đã có sự khởi sắc so với quý II/2024, với 76,7% doanh nghiệp cho rằng hoạt động của họ đang tiến triển tốt hơn hoặc duy trì ổn định (38,4% tốt hơn và 38,3% ổn định). Ngược lại, 23,3% doanh nghiệp cảm thấy gặp khó khăn hơn. Dự báo cho quý IV/2024 có xu hướng tích cực, khi 39,2% dự đoán tình hình sẽ cải thiện, 41,2% tin rằng sẽ duy trì ổn định và 19,6% lo ngại về khó khăn trong sản xuất kinh doanh sắp tới.

5. Thương mại, dịch vụ

5.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (tổng mức) trên địa bàn trong tháng Chín đạt 6.919,7 tỷ đồng, tăng nhẹ 1,84% so với tháng trước và tăng 12,36% so với cùng kỳ. Quý III/2023, tổng mức ước đạt 20.609,3 tỷ đồng, tăng 7,23% so với quý trước và tăng 13,23% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2024, tổng mức ước đạt 58.288,5 tỷ đồng, tăng 9,01% so với cùng kỳ.

5.2. Vận tải hành khách và hàng hoá

Trong 9 tháng đầu năm 2024, hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục phát triển, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh, mặc dù chịu ảnh hưởng từ cơn bão số 03 trong tháng 9, gây gián đoạn một phần hoạt động vận tải. Lũy kế doanh thu 9 tháng đầu năm 2024 ước đạt 6.156,5 tỷ đồng, tăng 26,92% so với cùng kỳ năm trước.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ

1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước

Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 15/9/2024 thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 19.950,6 tỷ đồng, tăng 9,67% so với cùng kỳ, đạt 62,81% dự toán giao đầu năm.

Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/9/2024 đạt 16.987,5 tỷ đồng, giảm 5,88% so với cùng kỳ, bằng 81,92% dự toán giao đầu năm.

2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng

Tổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 30/9/2024 đạt 130,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,15% so với cuối năm 2023. 

Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 30/9/2024, đạt 136,5 nghìn tỷ đồng, tăng 6,51% so với cuối năm 2023.

Tỷ lệ nợ xấu: Mặc dù được kiểm soát ở mức an toàn <2%, ước tính tại thời điểm 30/9/2024 đạt 1.450 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,06%. 

3. Bảo hiểm

Ước tính đến 30/9/2024, toàn tỉnh có 1.187.845 người tham gia bảo hiểm các loại. Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại đến hết tháng 9 năm 2024 ước đạt 5.166,2 tỷ đồng, đạt 72,9% kế hoạch giao và tăng 19,56% so với cùng kỳ năm 2023.

4. Hoạt động đầu tư

Quý III/2024, hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn phát triển ổn định đã thu hút không nhỏ lượng vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước, trong khi đó, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước giảm do thời tiết mưa nhiều, ngập úng ảnh hưởng tiến độ thi công các công trình. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn ước đạt 14.263,8 tỷ đồng, tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước. 

Tính chung 9 tháng năm 2024, tổng vốn đầu tư phát triển ước đạt 37.344,8 tỷ đồng, tăng 5,02% so với cùng kỳ, tăng ở cả 3 khu vực. 

Tình hình thu hút đầu tư: Chín tháng đầu năm 2024, tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực trong công tác thu hút đầu tư. Theo số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, đến ngày 15/9/2024, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 58 dự án FDI (28 dự án cấp mới, 30 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 507,94 triệu USD, tăng 3,44% so với cùng kỳ, vượt 26,99% kế hoạch giao đầu năm (400 triệu USD). 

Lũy kế 9 tháng đầu năm toàn tỉnh đã thu hút được 20 dự án DDI (13 dự án cấp mới, 07 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 4.640,18 tỷ đồng, bằng 84,37% kế hoạch giao đầu năm (5.500 tỷ đồng).

5. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa

Chín tháng đầu năm, hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn đạt tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp chủ yếu từ nhóm ngành máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện và nhóm máy móc, thiết bị và phụ tùng.

Theo số liệu báo cáo của Chi cục Hải quan tỉnh Vĩnh Phúc[1], tính đến ngày 15/9/2024 kim ngạch xuất khẩu ước đạt 13.049 triệu USD, tăng 12,58% so với cùng kỳ. Số liệu xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp thực hiện các thủ tục thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Vĩnh Phúc. 

6. Chỉ số giá

6.1. Chỉ số giá tiêu dùng: Tháng 9/2024, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 2,93% so với cùng kỳ năm trước. 

So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 9/2024 tăng 2,93%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, có 9 nhóm tăng giá và 2 nhóm giảm giá.

Bình quân 9 tháng đầu năm 2024, CPI tăng 2,66% so với cùng kỳ năm trước.

6.2. Chỉ số giá sản xuất

- Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2024 tăng 6,26% so với quý trước và tăng 10,97% so với cùng kỳ năm 2023. Tính chung 9 tháng đầu năm, chỉ số giá của nhóm này tăng 11,98%.

- Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý III/2024 giảm 1,54% so với quý trước, tính chung 9 tháng giảm 0,82% so với cùng kỳ.

6.3. Chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất

Trong quý III và 9 tháng đầu năm 2024, thị trường hàng hóa và dịch vụ phục vụ sản xuất tiếp tục chịu ảnh hưởng của biến động giá cả hàng hóa và dịch vụ thế giới. Nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản ghi nhận mức tăng mạnh với chỉ số giá quý III tăng 4,52%, trong đó giá lợn giống tăng tới 22,38%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá của nhóm này tăng 10,34%, cho thấy sự phục hồi của ngành chăn nuôi sau khi dịch bệnh được kiểm soát.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có xu hướng ổn định, với chỉ số giá giảm 0,25% trong quý III, do giá dầu mỏ và nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi giảm. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng, chỉ số giá tăng 0,84%.

Ngành xây dựng bị ảnh hưởng bởi thời tiết xấu và các công trình khởi công ít, khiến chỉ số giá quý III giảm 1,08%. Trong 9 tháng đầu năm, chỉ số giá của ngành vẫn tăng 1,62% nhờ nhu cầu về dây điện và thiết bị điện tăng trưởng 

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội 

Lực lượng lao động, lao động có việc làm: Trong quý III năm 2024, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh ước đạt 600,6 ngàn người, tăng 0,05% so với quý trước nhưng giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2023.

Giải quyết việc làm: 9 tháng đầu năm, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 18.660 lao động, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2023; vượt 9,8% kế hoạch năm 2024

Công tác giảm nghèo, an sinh xã hội: Tỉnh đã thực hiện tốt công tác hỗ trợ cho người có công, bảo trợ xã hội và các đối tượng khó khăn. Hiện có 17.140 người có công và thân nhân nhận trợ cấp với tổng số tiền 407.068 triệu đồng, bao gồm trợ cấp hàng tháng và trợ cấp đột xuất. 

Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Hiện nay, tổng số đối tượng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng trên địa bàn tỉnh là 17.140 người, số tiền trợ cấp trong 9 tháng cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng là 407.068 triệu đồng (trong đó, trợ cấp hàng tháng: 357.270,5 triệu đồng, trợ cấp đột xuất 49.797,5 triệu đồng).

2. Giáo dục, đào tạo

Năm học 2023-2024, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc đạt nhiều thành tựu quan trọng. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, tỉnh có 89/98 học sinh đạt giải, xếp thứ 5 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải và số lượng giải Nhất. 

Ngoài ra, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-HĐND quy định mức thu học phí cho các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh từ năm học 2024-2025, có hiệu lực từ ngày 01/8/2024. Mức học phí này giảm đến 50% so với năm học 2023-2024, nhằm hỗ trợ học sinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng khó khăn khác. 

3. Y tế

Ngành Y tế tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai sâu rộng công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, tập trung vào các dịch bệnh phổ biến trong mùa mưa lũ như sốt xuất huyết, tả, thương hàn, và tiêu chảy. 

Về vệ sinh an toàn thực phẩm, ngành Y tế đã đẩy mạnh tuyên truyền phòng chống ngộ độc thực phẩm thông qua các hoạt động truyền thông, giám sát và thanh tra. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, với tổng số 456 người mắc nhưng không có ca tử vong. 

4. Văn hóa, thể thao

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày kỷ niệm, ngày lễ lớn được tỉnh tổ chức long trọng với nội dung đa dạng, phong phú. Cùng với đó, phong trào văn hóa - văn nghệ quần chúng trên địa bàn tỉnh cũng phát triển mạnh mẽ, thu hút sự tham gia của đông đảo người dân thuộc mọi lứa tuổi, đáp ứng nhu cầu giải trí, nâng cao sức khỏe, đời sống văn hóa tinh thần cho người dân.

9 tháng đầu năm 2024, tỉnh đã tổ chức 68 buổi chiếu phim lưu động tại nông thôn, 110 buổi tại miền núi và 15 buổi tại khu công nghiệp, cùng với 202 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị và cộng đồng. 

5. Tình hình trật tự an toàn xã hội và tai nạn giao thông

Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 506 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội. làm chết 15 người, bị thương 64 người, thiệt hại tài sản 77,2 tỷ đồng, đã điều tra làm rõ 443 vụ (đạt 87,54%) với 1.082 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 5,9 tỷ đồng.

Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/9/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 230 vụ tai nạn giao thông (228 vụ tai nạn đường bộ, 03 vụ tai nạn đường sắt) làm 103 người chết, 180 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 3.134,7 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 51 vụ, giảm 04 người chết, tăng 46 người bị thương.

Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/9/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 103 vụ cháy, nổ (trong đó, 102 vụ cháy và 01 vụ nổ), làm chết 03 người và 10 người bị thương với số tiền thiệt hại là trên 2.299,9 triệu đồng

6. Tình hình thiệt hại thiên tai và công tác bảo vệ môi trường

Tình hình thiên tai: Trong 9 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ thiên tai, làm chết 06 người; bị thương 03 người; sập 25 nhà, 460 nhà bị hư hại từ 30% trở lên; ngập úng 2.188,92 ha lúa, 1.017,26 ha hoa màu; 600 con gia súc và 25.559 con gia cầm bị chết và lũ cuốn trôi. Ước tính thiệt hại khoảng 322.439,62 triệu đồng. Trong đó, thiệt hại do cơn bão số 3 (Yagi) gây ra: ước tính 170.288,7 triệu đồng; làm 2 người chết, 2 người bị thương, sập 11 nhà và hư hại 96 nhà khác; 1.782,04 ha lúa và 657,72 ha hoa màu bị ngập úng, 600 con gia súc và 17.917 con gia cầm bị chết hoặc cuốn trôi.

Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/9/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 768 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 705 vụ với số tiền xử phạt là 6.327,5 triệu đồng./.

Phòng Thống kê Tổng hợp