02103 847 407 | phutho@nso.gov.vn

Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội 10 tháng đầu năm 2024

04/11/2024 15:51

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Tháng 10/2024, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định. Các địa phương hoàn thành thu hoạch cây trồng vụ mùa và triển khai gieo trồng vụ đông 2024-2025 đúng khung thời vụ. Trong chăn nuôi, người dân tập trung tái đàn và chăm sóc gia súc, gia cầm nhằm đảm bảo nguồn cung cho nhu cầu cuối năm và các dịp lễ, tết; tổng số lượng và sản lượng gia súc, gia cầm tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ.

1.1. Sản xuất nông nghiệp

a. Trồng trọt:

Diện tích trồng lúa vụ mùa toàn tỉnh đạt 23.430,81 ha, giảm 112,7 ha (chiếm 73,30% tổng diện tích gieo trồng vụ mùa); trong đó, có hơn 9.000 ha lúa bị ngập úng và mất trắng. Năng suất lúa thu hoạch đạt 53,05 tạ/ha, giảm 3,51 tạ/ha; sản lượng đạt 114.218,6 tấn, giảm 18.954,1 tấn.

Các loại cây hoa màu khác cũng giảm về năng suất và sản lượng: Cây ngô, năng suất thu hoạch đạt 44,28 tạ/ha (giảm 1,1 tạ/ha), sản lượng 5.598,6 tấn (giảm 22,42%); Khoai lang: 94,31 tạ/ha (giảm 2,84 tạ/ha), sản lượng 1.698,8 tấn; Đậu tương: 18,50 tạ/ha, sản lượng 227,8 tấn (tăng 25,9 tấn); Cây lạc: 20,90 tạ/ha (tăng 0,17 tạ/ha), sản lượng 1.061,9 tấn (giảm 22,3 tấn); Rau các loại: 196,41 tạ/ha (giảm 7,79 tạ/ha), sản lượng 42.948,2 tấn (giảm 6.973,8 tấn).

 - Tiến độ gieo trồng vụ đông năm 2024-2025: Tính đến 15/10/2024, toàn tỉnh đã gieo trồng được 11.074,1 ha, đạt 76,37% kế hoạch, giảm 6,22% tương ứng giảm 734,6 ha so với cùng kỳ.

b. Chăn nuôi:

Tính chung 10 tháng đầu năm, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 4,51% (trong đó thịt lợn hơi tăng 8,27%; gia cầm hơi giảm 1,90%); sản lượng trứng tăng 9,80%; sản lượng sữa tươi tăng 2,93% so cùng kỳ.

1.2. Sản xuất lâm nghiệp

Tính đến đầu tháng 10/2024, toàn tỉnh đã trồng được 600 ha rừng tập trung, hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2024. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán toàn tỉnh trong tháng Mười ước đạt 56,8 nghìn cây, lũy kế 10 tháng đầu năm đạt 770 nghìn cây, vượt 16 nghìn cây so với kế hoạch năm (754 nghìn cây). Sản lượng gỗ khai thác trong tháng đạt 5.077,0 m³, tăng 10,17% (468,7 m³); lũy kế 10 tháng đạt 41.018,1 m³, tăng 4,01% (1.579,8 m³). Sản lượng củi khai thác trong tháng đạt 4.101,0 ste, giảm 0,49% (20,3 ste); lũy kế 10 tháng đạt 40.534,4 ste, tăng 0,59% (237,1 ste).

1.3. Sản xuất thuỷ sản

Tính chung 10 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản đạt 20.428,0 tấn, tăng 134,6 tấn so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 18.834,4 tấn (tăng 116,5 tấn); sản lượng khai thác 1.593,6 tấn (tăng 18,1 tấn); sản lượng con giống đạt 3.107,3 triệu con, tăng 1,74% so với cùng kỳ.

2. Sản xuất công nghiệp

Tính chung 10 tháng đầu năm, chỉ số IIP toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc ước tính tăng 11,15% so với cùng kỳ.

Tình hình một số ngành công nghiệp chủ lực trong tháng như sau:

- Ngành sản xuất linh kiện điện tử chỉ số sản xuất tháng 10/2024 tăng 5,12% so với tháng trước và 3,89% so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất ô tô tăng 8,77% so với tháng trước và giảm 6,10% so với cùng kỳ; ngành sản xuất xe máy tăng 12,85% so với tháng trước và giảm 6,23% so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 4,45% so với tháng trước và tăng 14,54% so với cùng kỳ; ngành sản xuất kim loại tăng 22,50% so với tháng trước và tăng 5,95% so với cùng kỳ. Nhu cầu xây dựng cuối năm gia tăng thúc đẩy sản xuất, tuy nhiên ngành sản xuất khoáng phi kim loại giảm so tháng trước do lượng hàng tồn kho cao.

- Ngành sản xuất trang phục tăng 6,33% so với tháng trước và tăng 2,28% so với cùng kỳ.

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 10/2024, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 3,12% so với tháng trước và tăng 2,53% so với cùng kỳ.

Chỉ số tiêu thụ: Tháng 10/2024, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 6,04% so với tháng trước và giảm 2,33% so với cùng kỳ.

Chỉ số tồn kho: Tháng 10/2024, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho giảm 2,62% so với tháng trước và giảm 25,78% so với cùng kỳ.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Lũy kế đến 15/10/2024, toàn tỉnh có 1.226 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 10.137 tỷ đồng và 9.487 lao động. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giảm 1,61%, vốn đăng ký tăng 7,79% và số lao động tăng 18,09%.

4. Đầu tư

4.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước

Lũy kế 10 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư từ nguồn Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 6.504,9 tỷ đồng, giảm 13,91% so với cùng kỳ và bằng 67,53% kế hoạch giao. So với kế hoạch năm, kết quả thực hiện vốn ngân sách nhà nước đạt tỷ lệ cao nhất ở cấp xã, với 1.576,2 tỷ đồng, bằng 79,93% kế hoạch; vốn ngân sách cấp tỉnh ước đạt 3.224,9 tỷ đồng, đạt 68,81%; ngân sách cấp huyện đạt 1.703,8 tỷ đồng, bằng 57,30%.

4.2. Tình hình thu hút đầu tư:

Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/10/2024, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 69 dự án FDI, gồm 30 dự án cấp mới và 39 dự án điều chỉnh vốn, với tổng vốn đăng ký đạt 581,4 triệu USD. So với cùng kỳ, số dự án FDI thu hút trong năm tăng 6,15%, vốn đăng ký tăng 4,25%, vượt 45,35% so với kế hoạch đầu năm (400 triệu USD). Kết quả thu hút DDI đạt 23 dự án (15 dự án cấp mới, 08 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 4.968,5 tỷ đồng, bằng 90,34% kế hoạch giao đầu năm (5.500 tỷ đồng).

5. Thương mại, dịch vụ

Tháng 10/2024, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tiếp tục đà tăng trưởng. Các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh bước vào giai đoạn cao điểm kinh doanh cuối năm nhằm tăng doanh thu và hoàn thành mục tiêu cả năm. Công tác bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu và các giải pháp kích cầu tiêu dùng nội địa được triển khai hiệu quả với nhiều chương trình khuyến mại từ các trung tâm thương mại, siêu thị bán lẻ, cửa hàng và chợ địa phương.

5.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 10/2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.326,2 tỷ đồng, tăng 1,59% so với tháng trước và 16,49% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm, tổng mức ước đạt 65.906,6 tỷ đồng, tăng 10,29% so với cùng kỳ.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 10 đạt 6.074,5 tỷ đồng, chiếm 82,91% tổng mức, tăng 1,86% so với tháng trước và 17,81% so với cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống: Ước đạt 589,9 tỷ đồng, tăng 3,02% so với tháng trước và tăng 11,32% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu lưu trú đạt 60 tỷ đồng, giảm 1,85% so với tháng trước; doanh thu dịch vụ ăn uống tăng 3,6%, đạt 529,9 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng, doanh thu lưu trú và ăn uống đạt 5.666,3 tỷ đồng, tăng 8,97% so với cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành: Tháng 10/2024 đạt 24,5 tỷ đồng, giảm 46,87% so với tháng trước nhưng tăng 13,49% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm, doanh thu du lịch lữ hành đạt 462,8 tỷ đồng, tăng 109,73% so với cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ khác đạt 637,3 tỷ đồng, tăng 1,27% so với tháng trước và tăng 9,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ khác đạt 6.079,4 tỷ đồng, tăng 12,11% so với cùng kỳ.

5.2. Vận tải hành khách và hàng hoá

Lũy kế 10 tháng đầu năm, doanh thu ngành vận tải ước đạt 6.893,4 tỷ đồng, tăng 25,78% so với cùng kỳ. Hoạt động của từng loại hình vận tải trong tháng 10/2024 như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 119,2 tỷ đồng, tăng 10,53% so với tháng trước và tăng 51,68% so với cùng kỳ.

Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 532,2 tỷ đồng, tăng mạnh 28,64% so với tháng trước và tăng 6,89% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt hơn 3,1 triệu tấn, luân chuyển đạt 331,9 triệu tấn.km.

Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: Doanh thu ước đạt 95 tỷ đồng, tăng 16,77% so với tháng trước và tăng 78,52% so với cùng kỳ.

6. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

6.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 15/10/2024, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 21.320 tỷ đồng, tăng 10,44% so với cùng kỳ, bằng 67,12% dự toán giao đầu năm.

Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/10/2024 đạt 18.576 tỷ đồng, giảm 6,63% so với cùng kỳ nhưng vẫn đảm bảo tiến độ chi theo kế hoạch, đạt 89,58% dự toán năm.

6.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng

Mặt bằng lãi suất trên địa bàn có xu hướng tăng lãi suất tiền gửi, giảm lãi suất cho vay, chủ yếu áp dụng cho các giao dịch phát sinh mới trong kỳ, cụ thể: Lãi suất của những khoản tiền gửi mới có xu hướng tăng, bình quân ở mức 3,8%/năm, tăng 0,28%; Lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,21%; giảm 0,88% so với cuối năm 2023. Tính chung, mặt bằng lãi suất huy động bằng VNĐ phổ biến từ 0,2-6%/năm đối với từng kỳ hạn; lãi suất cho vay trên địa bàn phổ biến từ 3,5-10,5%/năm đối với từng kỳ hạn và đối tượng.

Tổng nguồn vốn huy động tại thời điểm 31/10/2024 dự kiến đạt 131 nghìn tỷ đồng, tăng 3,79% so với cuối năm 2023

Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 31/10/2024 đạt 138,5 nghìn tỷ đồng, tăng 8,07% so với cuối năm 2023.

Tỷ lệ nợ xấu: Tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn <2%, ước tính tại thời điểm 31/10/2024 đạt 1.450 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,05%.

6.3. Bảo hiểm

Ước tính đến 31/10/2024, toàn tỉnh có 1.185.853 người tham gia bảo hiểm các loại. Trong đó, có 262.029 người tham gia BHXH, chiếm 43,3% lực lượng lao động, tăng 5,75% so với cùng kỳ (bao gồm: BHXH bắt buộc: 237.390 người; BHXH tự nguyện: 24.639 người); tham gia BH thất nghiệp có 228.065 người; tham gia BHYT có 1.161.214 người; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95.86% dân số.

Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại đến hết tháng 10 năm 2024 ước đạt 5.804 tỷ đồng, đạt 82,76% kế hoạch giao và tăng 15,73% so với cùng kỳ năm 2023. Trong 10 tháng đầu năm BHXH tỉnh đã giải quyết hưởng BHXH hàng tháng cho 645 người; giải quyết hưởng BHXH một lần cho 12.820 người; giải quyết ốm đau, thai sản, dưỡng sức cho 109.468 lượt người; lập danh sách chi trả cho 9.768 lượt người hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

7. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2024 tăng 0,33% so với tháng trước, so với năm trước tăng 2,23%. Bình quân 10 tháng năm 2024, CPI tăng 2,76% so với bình quân cùng kỳ.

- Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 10/2024, Chỉ số giá vàng tăng 6,63% so với tháng trước; tăng 44,10% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,40% so với tháng trước, tăng 5,78% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng so cùng kỳ, chỉ số giá vàng tăng 31,73%, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 5,78%.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động việc làm

Công tác giải quyết việc làm duy trì ổn định. Tính đến ngày 15/10/2024, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 19.604 lao động, tăng 8,83% so cùng kỳ, vượt 15,32% kế hoạch năm 2024. Trong đó: giải quyết 4.055 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 8.803 việc làm trong khu vực công nghiệp - xây dựng; 5.929 việc làm khu vực dịch vụ; 817 người đi xuất khẩu lao động.

2. Giáo dục, đào tạo

Kỳ họp thứ 18 HĐND tỉnh Vĩnh Phúc khóa XVII, nhiệm kỳ 2021-2026 đã thông qua nghị quyết hỗ trợ học phí cho trẻ mầm non đến học sinh trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh trong năm học 2024-2025. Với ngân sách cấp tỉnh dự kiến khoảng 142 tỷ đồng, tỉnh sẽ hỗ trợ toàn bộ học phí cho học sinh tại các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập, bao gồm cả học sinh theo chương trình giáo dục thường xuyên. Chính sách này không chỉ thể hiện sự quan tâm của tỉnh đối với an sinh xã hội mà còn thúc đẩy ngành giáo dục và đào tạo phát triển theo hướng nhân văn và bền vững.

3. Y tế

Trong tháng, các ca bệnh truyền nhiễm ghi nhận gồm: 12 ca mắc tay chân miệng (cộng dồn từ đầu năm là 222 ca); 4 ca nhiễm Covid-19 (cộng dồn 543 ca); 31 ca bệnh sốt xuất huyết (cộng dồn 133 ca); 8 ca bệnh thủy đậu (cộng dồn 152 ca); 282 ca mắc cúm (cộng dồn 3.584 ca); 2 ca mắc ho gà (cộng dồn 25 ca). Tất cả các ca bệnh truyền nhiễm trong tháng không có trường hợp tử vong.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Trong kỳ, đã có 647 lượt cơ sở đã được kiểm tra, trong đó: số cơ sở đạt 582 cơ sở (chiếm tỷ lệ 89,95%), số cơ sở không đạt 65 cơ sở (chiếm 10,04%).

4. Văn hóa, thể thao

Trong tháng 10/2024, tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức thành công 15 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân nông thôn, miền núi và công nhân các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh; chào mừng diễn đàn và Đại hội Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh Vĩnh Phúc, lần thứ VI, nhiệm kỳ 2024 – 2029.

Hoạt động thể thao trong tháng 10/2024: Tỉnh đã cử các đoàn vận động viên tham gia thi đấu tại 8 giải thể thao quốc gia, khu vực và châu lục, đạt tổng cộng 17 huy chương, gồm 5 Huy chương Vàng, 7 Huy chương Bạc và 5 Huy chương Đồng.

5. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy nổ và bảo vệ môi trường.

Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Tính đến 15/10/2024, toàn tỉnh xảy ra 53 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (giảm 09 vụ so với tháng trước) làm 02 người chết và 07 người bị thương, thiệt hại tài sản 5.986,0 triệu đồng, đã điều tra làm rõ 45/53 vụ (đạt 84,9%), bắt giữ 94 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 1.821,57 triệu đồng.

Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/10/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 259 vụ tai nạn giao thông (256 vụ tai nạn đường bộ, 03 vụ tai nạn đường sắt) làm 117 người chết, 196 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước tăng 80 vụ, tăng 18 người chết, tăng 62 người bị thương.

Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/10/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 107 vụ cháy, nổ (trong đó, 106 vụ cháy và 01 vụ nổ), làm chết 03 người và 10 người bị thương với số tiền thiệt hại là trên 2.713 triệu đồng.

Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/10/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 780 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 727 vụ với số tiền xử phạt là 4.519,7 triệu đồng./.

Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp