Báo cáo Tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Phú Thọ Quý I năm 2026
- 02/04/2026 09:54
Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp và áp lực từ giá nhiên liệu trong nước tăng cao , kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ Quý I năm 2026 vẫn duy trì được sự ổn định và đạt được những kết quả tăng trưởng khá nhờ các giải pháp ứng phó linh hoạt. Các chỉ số vĩ mô cơ bản được kiểm soát, tạo đà thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển cả năm.1. Sản xuất Nông, Lâm nghiệp và Thủy sảnHoạt động sản xuất diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng và vật nuôi phát triển.Trồng trọt: Tính đến ngày 20/3/2026, tổng diện tích gieo trồng cây vụ xuân ước đạt 127,9 nghìn ha, giảm 0,9% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích lúa chiêm xuân đạt 79,9 nghìn ha (giảm 0,6%). Đối với vụ đông 2025 - 2026, năng suất ngô đạt 50,19 tạ/ha (tăng 4,6%) và khoai lang đạt 95,27 tạ/ha (tăng 1,3%).Chăn nuôi: Tại thời điểm cuối tháng 3/2026, tổng đàn gia cầm ước đạt trên 36,8 triệu con (tăng 4,3%); đàn lợn đạt 1.620 nghìn con (tăng 3,2%). Ngược lại, đàn trâu giảm 4,8% và đàn bò giảm 2,5%. Tính chung Quý I/2026, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 85,1 nghìn tấn, tăng 2,6%.Lâm nghiệp & Thủy sản: Quý I/2026, sản lượng gỗ khai thác đạt 304,5 nghìn m3, tăng 4,34%. Tổng sản lượng thủy sản Quý I ước đạt 20,8 nghìn tấn, tăng 4,6%, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 19,1 nghìn tấn (tăng 4,8%).2. Sản xuất Công nghiệpDù chịu ảnh hưởng từ giá xăng dầu, ngành công nghiệp vẫn duy trì đà tăng trưởng và đóng vai trò động lực chính.Chỉ số sản xuất (IIP): Quý I/2026, IIP toàn ngành công nghiệp tăng 25,56% so với cùng kỳ. Riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26,26%.Sản phẩm chủ lực Quý I/2026: Gạch lát đạt 40,9 triệu m2 (tăng 44,1%) ; máy tính xách tay đạt 8 triệu sản phẩm (tăng 35,7%) ; xe máy các loại đạt 465,6 nghìn chiếc (tăng 17,6%) ; bia hơi và bia đóng lon đạt 9,3 triệu lít (tăng 16,9%).Tiêu thụ và tồn kho: Chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo Quý I/2026 giảm mạnh 21,3%. Tại thời điểm tháng 3/2026, chỉ số tồn kho tăng 11,5% so với cùng kỳ.3. Thương mại, Dịch vụ và Vận tảiBán lẻ và dịch vụ: Tính chung Quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 36.932,7 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ đạt 27.431,1 tỷ đồng, tăng 13,2%. Đáng chú ý, nhóm đá quý, kim loại quý Quý I tăng gấp hơn 4,4 lần.Du lịch: Doanh thu dịch vụ lữ hành Quý I/2026 đạt 158,5 tỷ đồng, tăng 15,8%.Vận tải: Quý I/2026, doanh thu vận tải ước đạt 5.384,4 tỷ đồng, tăng 13%. Sản lượng hành khách vận chuyển đạt 20,5 triệu lượt (tăng 10,3%) và sản lượng hàng hóa vận chuyển đạt 32,7 triệu tấn (tăng 15,7%).4. Thu, chi Ngân sách và Đầu tưNgân sách Nhà nước: Tính đến ngày 18/3/2026, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 15,9 nghìn tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách đến cùng thời điểm đạt 23,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,9%.Vốn đầu tư: Quý I/2026, vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt 29,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6% so với Quý I/2025. Trong đó, vốn ngoài Nhà nước tăng 14,7% và vốn FDI tăng 11,4%.Doanh nghiệp: Tính đến ngày 20/3/2026, toàn tỉnh có 1.262 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 72,8% so với cùng kỳ.5. Chỉ số giá (CPI)CPI bình quân: Quý I/2026 tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước.Biến động nhóm hàng: Trong Quý I, nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 6,46%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,96%.Vàng và Đô la Mỹ: Chỉ số giá Vàng bình quân Quý I tăng 79,93%; chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 3,3%.6. Các lĩnh vực xã hộiLao động: Quý I/2026 toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 10.831 người. Số lao động đang làm việc tại thời điểm hiện nay là trên 1.854,6 nghìn người.An sinh xã hội: Trong Quý I, tổng kinh phí hỗ trợ người có công đạt 479,72 tỷ đồng, tăng 3,1%. Ngân hàng Chính sách xã hội đã giải ngân vay vốn trên 1.464,05 tỷ đồng tính đến ngày 28/02/2026.Giáo dục: Năm học 2025-2026, tỉnh có 229 học sinh đạt giải quốc gia, xếp thứ 3 toàn quốc.Y tế: Tính đến hết tháng 02/2026, toàn tỉnh ghi nhận 9 ca sốt xuất huyết và 41 ca nghi sởi.An toàn giao thông: Quý I/2026 (từ 15/12/2025 đến 14/3/2026), toàn tỉnh xảy ra 167 vụ tai nạn, làm 107 người chết và 100 người bị thương. So với cùng kỳ, số vụ tai nạn giảm 26 vụĐánh giá chung: Kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ Quý I/2026 đạt tăng trưởng khá trong bối cảnh nhiều thách thức, đặc biệt là sự bứt phá của ngành công nghiệp chế biến và thu hút đầu tư doanh nghiệp mới.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và 02 tháng đầu năm 2026
- 02/03/2026 21:31
Tóm tắt tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2026Trong tháng 02/2026, nhân dân trên địa bàn tỉnh đón Tết cổ truyền dân tộc trong không khí vui tươi, an toàn, lành mạnh và tiết kiệm. Các hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng dịp Tết; công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, an toàn thực phẩm được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Ngay sau kỳ nghỉ Tết, các ngành, địa phương tập trung triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, bảo đảm tiến độ sản xuất, đầu tư và các hoạt động dân sinh.1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng vụ chiêm xuân đúng khung lịch thời vụ, chú trọng phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi. Tính đến ngày 20/02/2026, toàn tỉnh gieo trồng 86,7 nghìn ha cây hàng năm, tăng 0,73% so với cùng kỳ; trong đó diện tích lúa đạt 69,1 nghìn ha, tăng 2,2%.Chăn nuôi giảm so với cùng kỳ do xuất chuồng phục vụ nhu cầu Tết: đàn trâu đạt 156,9 nghìn con (giảm 3,8%), đàn bò 240,2 nghìn con (giảm 2,2%), đàn lợn 1.480,5 nghìn con (giảm 7,4%), đàn gia cầm 31,87 triệu con (giảm 9%).Lâm nghiệp triển khai trồng rừng theo kế hoạch; diện tích rừng trồng mới 2 tháng đạt 1.073 ha, giảm 18,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 163,1 nghìn m³, tăng 2,2%.Thủy sản duy trì tăng trưởng; sản lượng nuôi trồng tháng 02 đạt 6,1 nghìn tấn, tăng 5,2%; lũy kế 2 tháng đạt 12,7 nghìn tấn, tăng 4,8%.2. Sản xuất công nghiệpDo ảnh hưởng số ngày nghỉ Tết, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 02 giảm 26,7% so với tháng trước; tuy nhiên so với cùng kỳ tăng 32,47%. Tính chung 2 tháng, IIP tăng 27,4%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 32,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 36,33%.Nhiều ngành tăng cao so với cùng kỳ như: công nghiệp chế biến, chế tạo khác; sửa chữa, lắp đặt máy móc; sản xuất khoáng phi kim loại; sản xuất điện tử, máy vi tính; chế biến thực phẩm; sản xuất kim loại.Một số sản phẩm chủ yếu tăng mạnh: gạch lát tăng 65%; xi măng tăng 56,2%; máy tính xách tay tăng 51,7%; linh kiện điện tử tăng 45,6%; điện sản xuất tăng 41,5%; thép tăng 23,2%.Số lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tăng 12,5% so với cùng kỳ; khu vực FDI tăng 17,6%, tiếp tục là động lực chính của tăng trưởng công nghiệp.3. Đầu tư phát triểnVốn đầu tư công được giải ngân kịp thời, thúc đẩy tiến độ các công trình trọng điểm. Tổng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 2 tháng đạt 3.014 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ.Nhiều dự án hạ tầng giao thông liên kết vùng, cao tốc và phát triển đô thị đạt giá trị thực hiện khá.Thu hút đầu tư tiếp tục khởi sắc. Đến 20/02/2026, tỉnh cấp mới 10 dự án DDI với vốn đăng ký 2.461 tỷ đồng; 5 dự án FDI mới với vốn đăng ký 64,6 triệu USD; nhiều dự án điều chỉnh tăng vốn, cho thấy xu hướng mở rộng sản xuất và tái đầu tư.4. Đăng ký doanh nghiệpĐến 20/02/2026, toàn tỉnh có 819 doanh nghiệp thành lập mới, vốn đăng ký 6.931 tỷ đồng, gấp 2,2 lần về số doanh nghiệp và 2,3 lần về vốn so với cùng kỳ. Doanh nghiệp mới tập trung ở lĩnh vực bất động sản, công nghiệp chế biến chế tạo, thương mại và xây dựng.Có 384 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 6,6%). Tuy nhiên, số doanh nghiệp tạm ngừng, giải thể còn cao (1.469 doanh nghiệp, tăng 11,8%), đòi hỏi tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp.5. Thu, chi ngân sách và hoạt động ngân hàngTổng thu ngân sách Nhà nước đến 20/02/2026 đạt 11.725 tỷ đồng, tăng 7,1%; thu nội địa tăng 8,3%, nổi bật là thu từ khu vực ngoài Nhà nước tăng 60% và thu tiền sử dụng đất tăng 31,5%.Tổng chi ngân sách đạt 17.234 tỷ đồng, tăng 32,6%; trong đó chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên được bảo đảm theo dự toán, ưu tiên giáo dục, quốc phòng, an ninh.Hoạt động ngân hàng ổn định. Tổng nguồn vốn huy động đạt 325.295 tỷ đồng; dư nợ cho vay đạt 375.877 tỷ đồng, tăng 2% so với cuối năm 2025. Tín dụng tập trung vào thương mại – dịch vụ và công nghiệp – xây dựng. Nợ xấu kiểm soát ở mức 0,6% tổng dư nợ.6. Thương mại, dịch vụ và giá cảTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 02 đạt 11,2 nghìn tỷ đồng, tăng 4,8% so với cùng kỳ; lũy kế 2 tháng đạt 23,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8%. Doanh thu bán lẻ tăng ở tất cả các nhóm hàng; tăng mạnh ở đá quý, kim loại quý, lương thực thực phẩm, may mặc và ô tô.Doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành duy trì tăng trưởng; vận tải hàng hóa và hành khách tăng lần lượt 9,1% và 6,8% sau 2 tháng.CPI tháng 02 tăng 1,55% so với tháng trước và tăng 3,32% so với cùng kỳ; bình quân 2 tháng tăng 2,57%. Giá tăng chủ yếu ở nhóm hàng ăn, nhà ở, vật liệu xây dựng và giao thông. Chỉ số giá vàng tăng 80,32%, USD tăng 3,26% so với cùng kỳ.7. Văn hóa – xã hội và an sinhGiáo dục ổn định nền nếp sau Tết; tăng cường phòng chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn trường học.Y tế ghi nhận một số ca sốt phát ban nghi sởi, tay chân miệng tăng so với cùng kỳ; không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Công tác tiêm chủng duy trì theo kế hoạch.Hoạt động văn hóa, lễ hội diễn ra sôi nổi, bảo đảm an toàn, góp phần gìn giữ giá trị truyền thống. Ngành thể thao tích cực chuẩn bị cho các sự kiện lớn năm 2026.Từ 15/12/2025 đến 14/02/2026, tai nạn giao thông giảm cả về số vụ, số người chết và bị thương so với cùng kỳ; công tác xử lý vi phạm được tăng cường. Cháy nổ và vi phạm môi trường được phát hiện, xử lý kịp thời.Nhìn chung, kinh tế - xã hội tháng 02/2026 của tỉnh Phú Thọ duy trì ổn định; sản xuất công nghiệp và thu hút đầu tư tăng trưởng khá; thương mại, dịch vụ sôi động; thu ngân sách đạt tiến độ; các lĩnh vực văn hóa – xã hội được bảo đảm. Đây là tiền đề quan trọng để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
Thống kê tỉnh phối hợp tổ chức Họp báo quý IV/2025, công bố số liệu kinh tế - xã hội năm 2025
- 03/02/2026 14:52
Chiều 02/02/2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Họp báo định kỳ quý IV/2025 và gặp mặt báo chí Xuân Bính Ngọ 2026. Dự và chủ trì hội nghị có Ông Trần Duy Đông, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; cùng lãnh đạo các sở, ngành và đông đảo phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương, địa phương.Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông phát biểu tại buổi họp báo Tại họp báo, Thống kê tỉnh Phú Thọ tham gia với vai trò trong công tác chuẩn bị và công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội năm 2025, cung cấp bức tranh toàn diện, khách quan về tình hình phát triển của tỉnh, đồng thời hỗ trợ báo chí khai thác thông tin chính xác, kịp thời. Ngay từ cuối năm 2025, đơn vị đã chủ động rà soát, tổng hợp hệ thống chỉ tiêu kinh tế - xã hội; phối hợp với các sở, ngành phân tích số liệu theo từng lĩnh vực, bảo đảm tính thống nhất và độ tin cậy trước khi công bố. Trên cơ sở đó, Thống kê tỉnh biên soạn bộ tài liệu phục vụ họp báo gồm: Thông cáo báo chí, tờ rơi infographic và video tổng quan kinh tế - xã hội, giúp thông tin được truyền tải trực quan, dễ tiếp cận. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Khắc Hiếu trao đổi, giải đáp, làm rõ những vấn đề các nhà báo, phóng viên quan tâm Theo số liệu công bố, năm 2025 kinh tế tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 10,52%, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước; quy mô kinh tế đạt 412,4 nghìn tỷ đồng; tổng thu ngân sách khoảng 62 nghìn tỷ đồng, trong đó thu nội địa vượt dự toán Trung ương giao. Hoạt động đầu tư công được đẩy mạnh, nhiều công trình, dự án trọng điểm được triển khai đúng tiến độ. Các lĩnh vực văn hóa – xã hội, an sinh, chuyển đổi số, khoa học – công nghệ tiếp tục có chuyển biến; quốc phòng, an ninh được giữ vững. Việc lồng ghép nội dung công bố số liệu thống kê trong chương trình họp báo định kỳ của UBND tỉnh đã góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông, đưa thông tin chính thống đến nhanh hơn với cơ quan báo chí và người dân. Các sản phẩm infographic, video tổng quan cũng tạo thêm hình thức tiếp cận mới, giúp số liệu thống kê trở nên sinh động, dễ hiểu. Thời gian tới, Thống kê tỉnh Phú Thọ tiếp tục đổi mới phương thức phổ biến thông tin, ứng dụng công nghệ số trong trực quan hóa dữ liệu, nâng cao chất lượng phân tích, dự báo, góp phần cung cấp căn cứ tin cậy phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội./.
Báo cáo tình kinh Kinh tế - xã hội tháng 1 năm 2026 tỉnh Phú Thọ
- 02/02/2026 13:33
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chăm sóc, thu hoạch cây vụ đông và chuẩn bị điều kiện gieo trồng vụ xuân theo đúng khung thời vụ. Diện tích gieo trồng khoai lang vụ đông đạt 2,69 nghìn ha; ngô vụ đông đạt 14,95 nghìn ha.Chăn nuôi phát triển ổn định, bảo đảm nguồn cung thực phẩm dịp Tết Nguyên đán. Tổng đàn trâu 158,5 nghìn con (giảm 3,1%); đàn bò 245,2 nghìn con (tăng 0,6%); đàn lợn 1,6 triệu con (tăng 8%); đàn gia cầm 37,7 triệu con (tăng 11,9%). Dịch bệnh trên vật nuôi được kiểm soát, không phát sinh ổ dịch lớn.Hoạt động lâm nghiệp duy trì tích cực, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 223 ha, tăng 152,8% so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác đạt 90,5 nghìn m³, tăng 7,4%. Nuôi trồng thủy sản phát triển khá, sản lượng đạt 6,53 nghìn tấn, tăng 4,5%.2. Sản xuất công nghiệpHoạt động sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng, các doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất, đảm bảo việc làm và hoàn thành đơn hàng trước kỳ nghỉ lễ. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 01/2026 tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 49,2% so với cùng kỳ năm trước.Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 49,17%; sản xuất và phân phối điện tăng 55,74%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 40,95%; khai khoáng tăng 29,69%.Một số sản phẩm chủ lực tăng mạnh như máy tính xách tay, gạch lát, điện sản xuất, linh kiện điện tử, xi măng, xe máy. Lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tăng 14,4%, phản ánh xu hướng mở rộng sản xuất.3. Đầu tư và phát triển doanh nghiệpVốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý đạt 1.522,2 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ; trong đó vốn cấp tỉnh 1.000,4 tỷ đồng, vốn cấp xã 521,8 tỷ đồng. Nhiều dự án hạ tầng giao thông, đô thị, y tế và giáo dục được đẩy nhanh tiến độ.Công tác thu hút đầu tư có tín hiệu tích cực với 5 dự án DDI cấp mới tổng vốn 1.806,2 tỷ đồng và 2 dự án FDI tổng vốn 9,8 triệu USD. Toàn tỉnh có 397 doanh nghiệp thành lập mới, tăng gấp 2,4 lần về số lượng; 320 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.4. Thu, chi ngân sách và hoạt động ngân hàngTổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 5.923 tỷ đồng, tăng 45,4% so với cùng kỳ; thu nội địa đạt 5.592 tỷ đồng, tăng 51,2%, chủ yếu từ khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và các khoản thu về đất.Tổng chi ngân sách đạt 2.380 tỷ đồng, đảm bảo kịp thời nhiệm vụ chi thường xuyên, quốc phòng – an ninh và an sinh xã hội.Hoạt động ngân hàng ổn định; tổng nguồn vốn huy động đạt 327,6 nghìn tỷ đồng, tăng 0,6%; dư nợ cho vay đạt 371,7 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9%; tỷ lệ nợ xấu kiểm soát ở mức 0,42%.5. Thương mại, dịch vụ và giá cả thị trườngThị trường hàng hóa dịp Tết diễn ra sôi động, nguồn cung dồi dào, công tác quản lý thị trường và bình ổn giá được tăng cường. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 12.828,3 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ.Trong đó, doanh thu bán lẻ đạt 9.325,1 tỷ đồng; lưu trú, ăn uống đạt 1.549,5 tỷ đồng; dịch vụ lữ hành và dịch vụ khác tăng khá. Hầu hết nhóm hàng tiêu dùng thiết yếu ghi nhận mức tăng trưởng tích cực.Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,13% so với tháng trước và tăng 1,81% so với cùng kỳ, cho thấy mặt bằng giá cơ bản ổn định. Giá vàng tăng cao; tỷ giá đô la Mỹ biến động nhẹ.6. Vận tảiHoạt động vận tải đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và lưu thông hàng hóa trong dịp cao điểm. Hành khách vận chuyển đạt 6,6 triệu lượt, tăng 7,5%; hàng hóa vận chuyển đạt 10,5 triệu tấn, tăng 10%. Doanh thu vận tải đạt 1.762,5 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ.7. Văn hóa – xã hội và trật tự an toànCác lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao được duy trì; công tác phòng, chống dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân được tăng cường.Tình hình an ninh trật tự cơ bản ổn định. Trong kỳ xảy ra 72 vụ tai nạn giao thông, làm 46 người chết và 48 người bị thương. Lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm.
Bức tranh kinh tế – xã hội tỉnh Phú Thọ năm 2025
- 03/01/2026 08:57
Năm 2025, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro do căng thẳng địa chính trị, lạm phát kéo dài và tăng trưởng toàn cầu có xu hướng chậm lại; trong nước đồng thời triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Phú Thọ vẫn duy trì được sự ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực trong phát triển kinh tế – xã hội.1. Tăng trưởng và cơ cấu kinh tếTổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025 theo giá so sánh năm 2010 ước tăng 10,52% so với năm 2024; thuộc nhóm tăng trưởng cao của cả nước và đứng đầu vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Trong đó, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 16,13% so với năm 2024, đóng góp 7,72 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Quy mô GRDP theo giá hiện hành ước đạt 412,4 nghìn tỷ đồng, tăng 55,5 nghìn tỷ đồng so với năm 2024. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa; tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm 48,8%, riêng công nghiệp chiếm 42,3% GRDP.2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông nghiệp năm 2025 nhìn chung ổn định, lâm nghiệp và thủy sản tăng khá so với năm 2024.Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 303,6 nghìn ha, giảm 0,7% so với năm 2024; trong đó diện tích lúa đạt 147,2 nghìn ha, giảm 0,9%; diện tích ngô đạt 55,9 nghìn ha, giảm 0,9%.Sản lượng lương thực có hạt đạt 1.138,9 nghìn tấn, tăng 2,5% so với năm 2024; trong đó thóc đạt 863,9 nghìn tấn (+2,7%), ngô đạt 275 nghìn tấn (+2,1%).Tổng đàn vật nuôi tại thời điểm 31/12/2025: trâu 162,1 nghìn con (-2,3% so với 31/12/2024); bò 247,2 nghìn con (-2,5%); lợn 1.557,2 nghìn con (-5,1%); gia cầm 37,6 triệu con (+3,9%).Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 471 nghìn tấn, tăng 1,1% so với năm 2024.Sản lượng thủy sản đạt 83,4 nghìn tấn, tăng 4,7% so với năm 2024.Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 19,9 nghìn ha, tăng 1,7% so với năm 2024; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.666,1 nghìn m³, tăng 9,8%.3. Sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2025 tăng 26,4% so với năm 2024. Trong đó: khai khoáng tăng 29,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 27,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 23,9%.Một số sản phẩm chủ lực tăng mạnh so với năm 2024: máy tính xách tay tăng 74,9%; xi măng tăng 36,1%; sắt thép tăng 35,5%; máy điều hòa không khí tăng 31,1%. Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp bình quân năm tăng 3,22% so với năm 2024.4. Thương mại, dịch vụ và vận tảiTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 đạt 198.940,2 tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2024.Doanh thu bán lẻ đạt 156.612 tỷ đồng, tăng 16,3%.Doanh thu lưu trú, ăn uống đạt 19.434,1 tỷ đồng, tăng 18,5%.Doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 984,1 tỷ đồng, tăng 37,3%.Hoạt động vận tải tăng khá so với năm 2024: vận chuyển hành khách đạt 73,6 triệu lượt, tăng 18,1%; luân chuyển đạt 4.310,6 triệu lượt.km, tăng 20,6%. Vận chuyển hàng hóa đạt 119,5 triệu tấn, tăng 6,3%; luân chuyển đạt 11.965,4 triệu tấn.km, tăng 5,2%.5. Ổn định kinh tế vĩ mô, tài chính – ngân sách và đầu tưChỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 tăng 2,84% so với năm 2024; CPI tháng 12/2025 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 3,0% so với tháng 12/2024.Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 58.501 tỷ đồng, tăng 24,5% so với năm 2024; chi ngân sách đạt 89.417 tỷ đồng, tăng 35%.Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện đạt 151,6 nghìn tỷ đồng, tăng 16,4% so với năm 2024; trong đó vốn ngoài Nhà nước tăng 12,6%, vốn FDI tăng 22,4%, vốn Nhà nước tăng 19,4%. Thu hút FDI đạt 57 dự án mới với tổng vốn đăng ký 749,4 triệu USD, tăng 57,8% so với năm 2024.6. Lĩnh vực xã hộiNăm 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 61.842 người, đạt 120,2% kế hoạch năm và tăng so với năm 2024. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT đạt 99,72%, xếp thứ 5/34 tỉnh, thành phố.Về y tế, đến hết tháng 11/2025 ghi nhận 983 trường hợp sốt phát ban nghi sởi (tăng so với cùng kỳ 2024), 232 trường hợp sốt xuất huyết (giảm so với cùng kỳ). Tai nạn giao thông trong kỳ ghi nhận 758 vụ, 408 người chết và 553 người bị thương, đều giảm so với cùng kỳ năm trước.Kết luậnBức tranh kinh tế – xã hội tỉnh Phú Thọ năm 2025 cho thấy xu hướng ổn định vĩ mô, tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực và an sinh xã hội được bảo đảm, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tiếp theo.
TÓM TẮT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ THÁNG 11 NĂM 2025
- 04/12/2025 14:03
Tháng 11/2025, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh duy trì ổn định, các ngành tiếp tục triển khai nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm. Sản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng cây vụ đông và phòng chống dịch bệnh; công nghiệp tăng trưởng khá ở nhóm ngành chủ lực; thương mại, dịch vụ sôi động theo nhu cầu mua sắm dịp cuối năm. Công tác đầu tư công, thu hút doanh nghiệp, quản lý thu – chi ngân sách và các lĩnh vực xã hội được triển khai tích cực.1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnTiến độ gieo trồng vụ đông chịu ảnh hưởng của thời tiết, một số diện tích giảm so cùng kỳ: ngô đạt 13,4 nghìn ha (96,1%), rau các loại 12,3 nghìn ha (97,6%), khoai lang 2.213 ha (93%). Chăn nuôi cơ bản ổn định, riêng đàn lợn tiếp tục phục hồi sau ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi. Đến cuối tháng 11, đàn trâu, bò và lợn đều giảm so cùng kỳ, trong khi đàn gia cầm tăng 3,8%.Lâm nghiệp thực hiện đúng tiến độ, diện tích rừng trồng mới 11 tháng đạt 19.409,6 ha, tăng 2,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.574,1 nghìn m³, tăng 10,1%. Thủy sản phục hồi mạnh: tháng 11/2025 đạt 8,1 nghìn tấn, tăng 15,9%; lũy kế 11 tháng đạt 69,5 nghìn tấn, tăng 5%, chủ yếu do khắc phục thiệt hại bão Yagi của năm trước.2. Sản xuất công nghiệpSản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng, nhất là khối chế biến, chế tạo. Chỉ số IIP tháng 11 tăng 1,67% so tháng trước và tăng 27,15% so cùng kỳ. Nhiều ngành tăng mạnh như sản xuất hóa chất, thiết bị điện, kim loại, điện tử, máy vi tính. Một số ngành giảm do nhu cầu thị trường yếu: sản xuất ô tô, thiết bị điện, đồ uống, dệt may.Lũy kế 11 tháng, IIP toàn ngành tăng 27,39%; riêng chế biến, chế tạo tăng 28,79%. Các sản phẩm chủ lực tăng cao: laptop tăng 78,5%, điều hòa tăng 40,9%, thép tăng 37,1%, xi măng tăng 34,6%, linh kiện điện tử tăng 30,2%. Lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tháng 11 tăng 8,5% so cùng kỳ.3. Đầu tưTiến độ giải ngân được các đơn vị tập trung đẩy mạnh. Vốn đầu tư công 11 tháng ước đạt 75,7% kế hoạch năm, tăng 14,1% so cùng kỳ; trong đó cấp tỉnh tăng 19,4%.Nhiều dự án trọng điểm ghi nhận giá trị thực hiện khá: cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu, các dự án kết nối vùng, cải tạo hạ tầng giao thông, các tuyến đường liên huyện và dự án khu đô thị.Công tác thu hút đầu tư đạt kết quả tích cực. Đến 20/11/2025, tỉnh thu hút 180 dự án DDI với tổng vốn 51,3 nghìn tỷ đồng (gấp 4,7 lần cùng kỳ). Khu vực FDI có 54 dự án mới với tổng vốn 732,1 triệu USD (gấp 2,6 lần), chủ yếu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan.4. Tình hình doanh nghiệp11 tháng năm 2025 có 4.323 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 53,3%), vốn đăng ký 39.463 tỷ đồng (tăng 40,6%). Một số ngành tăng mạnh như vận tải kho bãi, kinh doanh bất động sản, bán lẻ ô tô – xe máy, tài chính – ngân hàng.918 doanh nghiệp quay lại hoạt động (tăng 23,6%), trong khi số doanh nghiệp tạm ngừng và giải thể đều tăng, cho thấy môi trường kinh doanh vẫn còn khó khăn.5. Thu, chi ngân sách và hoạt động ngân hàngThu ngân sách đạt 51.280 tỷ đồng, tăng 34,3%; thu nội địa tăng 40%, đóng góp lớn từ đất đai và khối doanh nghiệp FDI.Chi ngân sách đạt 83.254 tỷ đồng, tăng 39,1%; trong đó chi thường xuyên tăng mạnh 50,7%, tập trung cho giáo dục – đào tạo, quản lý hành chính và quốc phòng.Hoạt động ngân hàng ổn định, tín dụng tăng trưởng tích cực. Huy động vốn đạt 312.764 tỷ đồng (tăng 12,4%); dư nợ cho vay đạt 355.857 tỷ đồng (tăng 17,8%). Nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,44%.6. Thương mại, dịch vụ và giá cảTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 11 tháng đạt 177.443 tỷ đồng, tăng 15,3%. Riêng tháng 11 tăng 19,4%, với nhiều nhóm hàng tăng mạnh như gỗ – VLXD, đồ dùng gia đình, may mặc, phương tiện đi lại, vàng.Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng nhẹ 0,03%; tăng 2,9% so tháng 12/2024 và tăng 3,13% so cùng kỳ. CPI được kiểm soát tốt; giá xăng dầu và thực phẩm tăng, song giá điện, gas và nhóm nhà ở giảm.Vận tải tiếp tục khởi sắc: doanh thu tháng 11 đạt 1.760 tỷ đồng, tăng 11,7%; sản lượng hành khách tăng 24,6%.7. Một số lĩnh vực xã hộiGiáo dục: tổ chức nhiều hoạt động tri ân Ngày Nhà giáo Việt Nam; ngành Giáo dục tỉnh được nhận nhiều phần thưởng cấp Trung ương và của tỉnh.Y tế: ghi nhận 854 ca sốt phát ban nghi sởi, 560 ca tay chân miệng; 198 ca sốt xuất huyết giảm so cùng kỳ. Tỷ lệ tiêm chủng duy trì khá; 96,7% cơ sở đạt chuẩn an toàn thực phẩm.Văn hóa – thể thao: tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn; thể thao thành tích cao đạt 29 huy chương tại 8 giải quốc gia.An toàn giao thông: từ 15/10–14/11 xảy ra 77 vụ tai nạn, làm 44 người chết và 47 người bị thương; giảm so cùng kỳ 11 tháng.Cháy nổ và môi trường: tháng 11 ghi nhận 29 vụ cháy; lực lượng chức năng xử lý 104 vụ vi phạm môi trường./.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025
- 04/11/2025 13:46
Tháng 10/2025, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn về thị trường tài chính, tín dụng và giá nguyên vật liệu đầu vào, song nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, nền kinh tế vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực.1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp cơ bản đảm bảo tiến độ thời vụ; diện tích lúa mùa thu hoạch đạt 60,9 nghìn ha, bằng 102,2% cùng kỳ. Một số cây trồng vụ đông như ngô, khoai, rau màu bị chậm tiến độ do mưa bão. Chăn nuôi lợn gặp khó vì dịch tả lợn Châu Phi, song đang dần phục hồi; đàn gia cầm tăng 3,3%, đàn lợn giảm 9,6%. Lâm nghiệp đạt kết quả khả quan: trồng mới gần 19 nghìn ha rừng, tăng 2,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1,23 triệu m³, tăng 10,7%. Thủy sản chịu ảnh hưởng thiên tai nhưng sản lượng vẫn tăng 4,6% so với cùng kỳ.2. Công nghiệp Ngành công nghiệp tiếp tục là điểm sáng với chỉ số sản xuất (IIP) 10 tháng tăng 26,9%. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng mạnh 28,8%, đóng góp chủ lực cho tăng trưởng. Một số sản phẩm tăng cao: máy tính xách tay tăng 80,5%, máy điều hòa tăng 40,7%, xi măng tăng 34,2%, giày thể thao tăng 16,2%. Lao động công nghiệp tăng 5,4% so với cùng kỳ.3. Đầu tư Tổng vốn đầu tư công 10 tháng ước đạt 19.357 tỷ đồng, tăng 17,3%; nhiều dự án hạ tầng trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ. Tỉnh thu hút 164 dự án DDI mới (49,1 nghìn tỷ đồng) và 45 dự án FDI (404,1 triệu USD).4. Thu – chi ngân sách và hoạt động ngân hàng Tổng thu ngân sách đạt 47.091 tỷ đồng, tăng 34,8%; trong đó thu nội địa tăng 40%. Chi ngân sách đạt 79.039 tỷ đồng, tăng 46,2%. Hệ thống ngân hàng huy động vốn 307,2 nghìn tỷ đồng (tăng 10,4%) và cho vay 347,5 nghìn tỷ đồng (tăng 15%); nợ xấu chỉ chiếm 0,46% tổng dư nợ, phản ánh tín dụng an toàn.5. Thương mại, dịch vụ và giá cả Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tháng 10 đạt 17.591 tỷ đồng, tăng 15,3%; tính chung 10 tháng đạt 161.729 tỷ đồng, tăng 14,4%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng 0,08% so tháng trước và 2,97% so cùng kỳ; giá vàng tăng mạnh 16,77%, USD giảm 0,46%.6. Vận tải, xuất nhập khẩu Doanh thu vận tải tháng 10 đạt 1.709 tỷ đồng, tăng 9,6%; xuất khẩu hàng hóa ước đạt 16,2 tỷ USD, nhập khẩu 12,9 tỷ USD – tiếp tục duy trì thặng dư thương mại.7. Văn hóa – xã hội Giáo dục chuẩn bị kế hoạch giai đoạn mới; y tế tăng cường phòng chống dịch mùa, tỷ lệ tiêm chủng đạt trên 70%. Thể thao thành tích cao giành 40 huy chương các loại trong nước và quốc tế. Tình hình an ninh – trật tự cơ bản ổn định; tai nạn giao thông giảm trên cả ba tiêu chí.8. Thiên tai – môi trường Ảnh hưởng bão số 10 và 11 gây thiệt hại hơn 1,2 nghìn tỷ đồng, làm hư hại hơn 4.700 nhà, 4.200 ha lúa, 5.100 ha hoa màu. Trong tháng xảy ra 23 vụ cháy, thiệt hại khoảng 1,6 tỷ đồng; vi phạm môi trường giảm so cùng kỳ.
Ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam mới – Phù hợp xu thế phát triển và hội nhập quốc tế
- 15/10/2025 14:05
Ngày 29/9/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 36/2025/QĐ-TTg về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, có hiệu lực từ 15/11/2025, thay thế Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg. Đây là bước cập nhật quan trọng nhằm phản ánh đầy đủ sự chuyển dịch mạnh mẽ của nền kinh tế trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển xanh và hội nhập quốc tế sâu rộng.Cập nhập toàn diện theo hướng hiện đại, hội nhậpHệ thống ngành kinh tế mới gồm 5 cấp phân loại với 743 ngành, được xây dựng trên cơ sở bảo đảm tính tương thích và khả năng so sánh quốc tế. Việc cập nhật này hướng tới phản ánh đầy đủ các lĩnh vực mới nổi trong nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu quản lý và thống kê trong giai đoạn phát triển hiện nay.Nâng cao hiệu quả quản lý và hoạch định chính sáchHệ thống ngành kinh tế mới là công cụ quan trọng giúp các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu:- Phân tích, đánh giá chính xác cơ cấu và xu hướng phát triển của nền kinh tế;- Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu thống kê phục vụ quản lý, quy hoạch, đầu tư và hội nhập quốc tế;- Đảm bảo sự thống nhất giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương trong quá trình quản lý, đăng ký kinh doanh, lập kế hoạch và báo cáo.Việc ban hành Quyết định số 36/2025/QĐ-TTg không chỉ là sự điều chỉnh về phân loại, mà còn thể hiện tầm nhìn dài hạn trong phát triển kinh tế Việt Nam – hướng tới chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bộ Tài chính (Cục Thống kê) được giao hướng dẫn thực hiện và xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương thực hiện chuyển đổi mã ngành đúng quy định từ năm 2026.
Báo cáo tình hình Kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2025
- 02/09/2025 13:22
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnTính đến ngày 20/8/2025, toàn tỉnh đã kết thúc gieo trồng các loại cây hàng năm vụ mùa năm 2025: Diện tích lúa vụ mùa gieo cấy ước đạt 66,7 nghìn ha, giảm 1,7% (-1.156,9 ha) so với cùng kỳ năm trước; ngô gieo trồng ước đạt 16 nghìn ha, giảm 0,3% (-53,1 ha); lạc gieo trồng ước đạt 2,2 nghìn ha, giảm 0,8% (-16,8 ha); đậu tương gieo trồng ước đạt 176,0 ha, giảm 9,9% (-19,4 ha); khoai lang gieo trồng ước đạt 1,4 nghìn ha, giảm 2,0% (-28,5 ha); rau các loại gieo trồng ước đạt 10,6 nghìn ha, giảm 1,1% (-116,6 ha);… Hoạt động chăn nuôi cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển, thị trường tiêu thụ ổn định, giá các sản phẩm gia cầm tăng mang lại lợi nhuận khá cho người chăn nuôi; chăn nuôi lợn tiếp tục bị ảnh hưởng bởi Dịch tả lợn Châu Phi với những diễn biến phức tạp, lây lan nhanh, tính đến cuối tháng 8 dịch bệnh đã xảy ra tại hầu hết các xã, phường. Số lượng đàn gia súc gia cầm hiện có ước đến cuối tháng 8/2025: Tổng đàn trâu ước đạt 160,2 nghìn con, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò ước đạt 251,9 nghìn con, giảm 6,1%; tổng đàn lợn ước đạt 1.456,9 nghìn con, giảm 12,8%; tổng đàn gia cầm ước đạt 36,9 triệu con, tăng 3,4%, trong đó tổng đàn gà ước đạt 32,8 triệu con, tăng 3,6%. Sản xuất lâm nghiệp tháng 8/2025 trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định và có sự tăng trưởng khá; diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 1,5 nghìn ha, tăng 55,4% so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 177,4 nghìn m3, tăng 77,6%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 621,7 nghìn cây, tăng 67,5%. Tính từ đầu năm đến hết tháng 8, diện tích rừng trồng mới ước đạt 18,1 nghìn ha, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 1.043,7 nghìn m3, tăng 13,5%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 4.266,2 nghìn cây, tăng 12,4%;… Trong tháng không xảy ra vụ cháy rừng, phá rừng nào trên địa bàn tỉnh.Sản xuất thủy sản duy trì ổn định, sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 8/2025 ước đạt 6.696,4 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ; trong đó, sản lượng cá các loại đạt 6.671,2 tấn, tăng 2,2%. Tính từ đầu năm đến hết tháng 8, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 48.665,0 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng cá các loại đạt 48.512,3 tấn, tăng 3,3%. 2. Sản xuất công nghiệpTháng 8/2025, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng tích cực, chỉ số IIP tăng 3,85% so với tháng trước và tăng 26,88% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng tăng 26,14%. Sau 8 tháng, IIP tăng 26,14% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 23,91%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 27,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,46%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 18,63%. 3. Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lýVốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2025 ước đạt 2.475,9 tỷ đồng, tăng 50,1% so với tháng cùng kỳ. Trong đó: Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.742,2 tỷ đồng, tăng 50,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 733,8 tỷ đồng, tăng 49,7%. Tính chung 8 tháng, tổng giá trị vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh ước thực hiện 14.987,9 tỷ đồng, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 10.205,1 tỷ đồng, tăng 26,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 4.782,8 tỷ đồng, tăng 5,4%. 4. Hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ diễn ra ổn định và hiệu quả, bám sám chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng như định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tổng nguồn vốn huy động tại thời điểm 31/8/2025 ước đạt 302.065 tỷ đồng, tăng 8,6% so với cuối năm 2024. Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 31/8/2025 ước đạt 335.784 tỷ đồng, tăng 11,2% so với cuối năm 2024. Chất lượng tín dụng tiếp tục được kiểm soát tốt, nợ xấu ước tính 1.631 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,49%/tổng dư nợ; nằm trong tầm kiểm soát của các tổ chức tín dụng trên địa bàn. 5. Thu, chi ngân sách Nhà nước Công tác quản lý thu, đôn đốc thu ngân sách Nhà nước tiếp tục được triển khai quyết liệt, góp phần giúp nguồn thu ngân sách Nhà nước trong kỳ tăng khá. Tính đến ngày 20/8/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 38.811 tỷ đồng, tăng 33,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, thu nội địa đạt 33.736 tỷ đồng, tăng 34,9%. Tổng thu nội địa duy trì đà tăng trưởng tích cực chủ yếu đóng góp từ nguồn thu nhà đất, đạt 11.305 tỷ đồng, tăng gấp 2,5 lần; từ khu vực sản xuất kinh doanh ngoài Nhà nước, đạt 4.540 tỷ đồng, tăng 20,6%. Hoạt động xuất, nhập khẩu diễn ra sôi động, thu ngân sách đạt 4.220 tỷ đồng, tăng 8,5%. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 20/8/2025 đạt 60.605 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 23.841 tỷ đồng, tăng 36,8%; chi thường xuyên đạt 36.555 tỷ đồng, tăng 37,8%. 6. Thương mại, giá cả, vận tảiTổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2025 ước đạt 17.146,4 tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ ước đạt 13.212,2 tỷ đồng, chiếm 77,1% tổng mức, tăng 16%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.644,6 tỷ đồng, chiếm 9,6% tổng mức, tăng 18,5%; doanh thu dịch vụ lữ hành và dịch vụ khác ước đạt 2.289,7 tỷ đồng, chiếm 13,4% tổng mức, tăng 10,5%. Tính chung 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 129.230 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ ước đạt 99.242,9 tỷ đồng, chiếm 76,8% tổng mức, tăng 15,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 12.798,3 tỷ đồng, chiếm 9,9% tổng mức, tăng 19,4%; doanh thu dịch vụ lữ hành và dịch vụ khác ước đạt 17.188,9 tỷ đồng, chiếm 13,3% tổng mức, tăng 5%. b) Chỉ số giá Giá lương thực, thực phẩm, điện nước sinh hoạt, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng do nhu cầu tiêu dùng là những nguyên nhân chính làm chỉ số tiêu dùng (CPI) tháng 8/2025 tăng 0,26% so với tháng trước, tăng 2,34% so với tháng 12 năm trước (sau 8 tháng) và tăng 2,96% so với tháng cùng kỳ (sau 12 tháng). c) Vận tải hàng hóa và hành kháchDoanh thu vận tải tháng 8/2025 ước đạt 1.651,5 tỷ đồng, tăng 5,9% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng, tổng doanh thu vận tải ước đạt 13.184,2 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ; sản lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 78 triệu tấn, tăng 4,4%; sản lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 7.814,3 triệu tấn.km, tăng 3,4%. Sản lượng hành khách vận chuyển ước đạt 49 triệu lượt hành khách, tăng 15%; sản lượng hành khách luân chuyển ước đạt 2.895,8 triệu lượt hành khách.km, tăng 18,5%. 7. Một số vấn đề xã hội a) Tình hình giáo dục Trong tháng, ngành Giáo dục tập trung triển khai các nhiệm vụ cho năm học mới với nhiều thách thức trong tổ chức dạy học, triển khai các nội dung đổi mới giáo dục phổ thông và nâng cao chất lượng giáo dục. Tỉnh Phú Thọ sau sáp nhập có 1.957 cơ sở giáo dục, đào tạo, trong đó có 1.879 trường công lập và 78 cơ sở tư thục; có 969 nghìn học sinh, học viên và trẻ mầm non, phân bố ở tất cả các cấp học từ mầm non đến THPT, GDTX, GDNN; tỷ lệ kiên cố hóa trường, lớp học đạt trên 90%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia toàn tỉnh đạt khoảng 83%. b) Tình hình y tế Tính từ đầu năm đến hết tháng 7/2025, toàn tỉnh ghi nhận 562 ca mắc sởi dương tính, 345 ca mắc tay chân miệng, 36 ca mắc sốt xuất huyết. Để chủ động phòng chống các bệnh truyền nhiễm, ngành Y tế đã tăng cường kiểm tra, giám sát, đồng thời tuyên truyền đến người dân cách phòng chống các bệnh lây lan theo mùa. Trong tháng 8, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận trường hợp nào mắc ngộ độc thực phẩm. Tính đến hết tháng 7/2025 đã ghi nhận 1 vụ ngộ độc thực phẩm với 03 người mắc, không có trường hợp tử vong; các đoàn liên ngành đã kiểm tra 9.989 cơ sở, trong đó có 96,7% số cơ sở đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. c) Hoạt động văn hóa, thể thao Tháng 8/2025, ngành Văn hóa, Thể thao, Du lịch và các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn như: 80 năm ngày Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945-19/8/2025); 80 năm ngày thành lập Công an Nhân dân; 80 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa - Thông tin (28/8/1945- 28/8/2025); Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945- 02/9/2025); Đại hội Đảng bộ cấp xã, tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ Nhất, nhiệm kỳ 2025 - 2030 ;… Thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp tiếp tục được quan tâm, đăng cai tổ chức thành công giải Bóng đá nữ Vô địch Đông Nam Á 2025; phối hợp với các đơn vị tổ chức Giải Marathon Quốc tế VTV LPBank 2025; tham gia Giải vô địch Cúp Cờ vua, Cờ vây quốc gia năm 2025. Duy trì quản lý, đào tạo tập trung tổng số 489 vận động viên (VĐV) của các môn thể thao (169 VĐV đội tuyển tỉnh, 242 VĐV đội tuyển trẻ, 78 VĐV đội tuyển năng khiếu). Tham gia thi đấu 9 giải thể thao quốc gia, giành được 41 huy chương các loại, gồm 15 HCV, 06 HCB và 20 HCĐ; 2 giải thể thao quốc tế, giành được 5 huy chương, gồm 3 HCV và 2 HCĐ. d) Tình hình tai nạn, vi phạm giao thông Theo thống kê của Ban an toàn giao thông tỉnh, từ ngày 15/7/2025 đến ngày 14/8/2025 trên địa bàn tỉnh xảy ra 73 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm 28 người chết và 62 người bị thương; 1 vụ tai nạn giao thông đường sắt làm 1 người chết. Tính từ 15/12/2024 đến ngày 14/8/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 489 vụ tai nạn và va chạm giao thông (giảm 122 vụ) làm 273 người chết (giảm 9 người) và 353 người bị thương (giảm 124 người). Từ ngày 15/7/2025 đến ngày 14/8/2025, lực lượng Cảnh sát Giao thông - Công an tỉnh đã kiểm tra xử lý 13.119 trường hợp vi phạm Luật Giao thông đường bộ, xử phạt trên 34 tỷ đồng. e) Tình hình thiên tai Tháng 8 năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 đợt thiên tai do ảnh hưởng của cơn bão số 5 Kajiki. Thiên tai đã làm 1 người bị thương; thiệt hại 1.872 ha lúa và 1.854 ha hoa màu; 683 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hại; 9.850 con gia cầm, 3 con gia súc bị chết, cuốn trôi; 406 ngôi nhà ở bị hư hỏng, 534 hộ dân phải di dời khẩn cấp do ngập lụt, sạt lở và nhiều công trình công cộng bị thiệt hại. Giá trị thiệt hại ước tính trên 9 tỷ đồng. f) Tình hình cháy nổ, vi phạm môi trường Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 26/7/2025 đến ngày 25/8/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ cháy, thiệt hại ước tính 723,8 triệu đồng. Tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/8/2025, toàn tỉnh xảy ra 91 vụ cháy, 1 vụ nổ làm 3 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 4.631,3 triệu đồng. Vi phạm môi trường: Từ ngày 26/7/2025 đến ngày 25/8/2025, lực lượng Cảnh sát Môi trường - Công an tỉnh đã phát hiện và xử lý 55 vụ vi phạm môi trường, xử phạt 254,7 triệu đồng. Tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/8/2025, toàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 651 vụ vi phạm môi trường (giảm 485 vụ so với cùng kỳ), tổng số tiền xử phạt 9.031,2 triệu đồng (giảm 3.375,9 triệu đồng so với cùng kỳ). Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ./.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ tháng 7 năm 2025
- 30/07/2025 09:43
Kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2025 trên địa bàn tỉnh diễn ra trong bối cảnh hệ thống chính trị cả nước đang triển khai thực hiện cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, sắp xếp lại đơn vị hành chính các cấp. Tỉnh Phú Thọ mới sau sáp nhập có quy mô lớn với diện tích tự nhiên trên 9,3 nghìn km2, dân số thực tế thường trú gần 3,7 triệu người, tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành năm 2025 ước tính trên 400 nghìn tỷ đồng. Dù đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhờ thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp do Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo, do đó kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ vẫn đạt được nhiều tín hiệu tích cực. Kết quả thực hiện của các ngành, lĩnh vực chủ yếu tháng 7 và 7 tháng năm 2025 như sau: 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Tính đến ngày 20/7/2025, diện tích lúa vụ mùa đã cấy ước đạt 64,8 nghìn ha, giảm 0,8% (-522,8 ha) so với cùng kỳ năm trước; ngô gieo trồng ước đạt 11,0 nghìn ha, giảm 0,4% (-47,1 ha); lạc gieo trồng ước đạt 1,5 nghìn ha, giảm 4,5% (-72 ha); đậu tương gieo trồng ước đạt 110,7 ha, giảm 15,6% (-20,4 ha); khoai lang gieo trồng ước đạt 921,1 ha, giảm 5,5% (-53,1 ha); rau xanh các loại gieo trồng ước đạt 7,7 nghìn ha, giảm 4,1% (-330,6 ha); đậu các loại gieo trồng ước đạt 123,7 ha, giảm 2,6% (-3,3 ha);… Tổng đàn trâu hiện có ước đạt 163,6 nghìn con, giảm 4,4% so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò ước đạt 251,3 nghìn con, giảm 4,8%; tổng đàn lợn ước đạt 1.597,8 nghìn con, giảm 4,8%; tổng đàn gia cầm ước đạt 36,4 triệu con, tăng 2% (trong đó tổng đàn gà 32,4 triệu con, tăng 1,6%).Tính đến hết tháng 7 năm 2025, tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh ước đạt 16,5 nghìn ha, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước; cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 3.644,5 nghìn cây, tăng 6,4%; sản lượng gỗ khai thác toàn tỉnh ước đạt 876,3 nghìn m3, tăng 4,5% (riêng sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 123,5 nghìn m3);... Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 7/2025 ước đạt 6.015,9 tấn, tăng 2,0% so với cùng kỳ; trong đó, sản lượng cá đạt 5.993,2 tấn, tăng 2,0%. Tính từ đầu năm đến hết tháng 7 năm 2025, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 41.972,2 tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng cá đạt 41.841,1 tấn, tăng 3,5%. 2. Sản xuất công nghiệp Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì tăng trưởng cao so với cùng kỳ nhờ sự ổn định của các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm điện tử, vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị. Tính chung 7 tháng năm 2025 chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 25,7% so với cùng kỳ năm 2024.So với tháng trước, IIP tháng 7/2025 ước tính tăng 0,37%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,33%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,61%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,79%; ngành công nghiệp khai khoáng giảm 13,3%. So với tháng cùng kỳ, IIP tháng 7/2025 tăng 24,88%, đóng góp chủ yếu từ nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 30,43%. Tính chung 7 tháng, IIP tăng 25,73% so với cùng kỳ, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26,94%; ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 19,85%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,46%. 3. Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý Tháng 7/2025, trong bối cảnh thực hiện tổ chức bộ máy hành chính theo Nghị quyết 60-NQ/TW, tỉnh Phú Thọ đã nhanh chóng ổn định tổ chức, kiện toàn các Ban quản lý dự án theo khu vực, đồng thời tăng cường chỉ đạo, giám sát và phối hợp giữa các cấp, ngành, tháo gỡ khó khăn về mặt bằng và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án. Nhờ đó, công tác giải ngân và thực hiện vốn đầu tư công trong tháng đạt kết quả tích cực, ghi nhận mức tăng cao ở cả nguồn vốn cấp tỉnh và cấp xã. Tổng giá trị vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng ước đạt 2.423,6 tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.608,1 tỷ đồng, tăng 16,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 815,5 tỷ đồng, tăng 21,7%. Tính chung 7 tháng, tổng giá trị vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh ước thực hiện 12.586,4 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 8.438,9 tỷ đồng, tăng 21,7%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 4.147,5 tỷ đồng, tăng 2,4%.4. Hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ diễn ra ổn định và hiệu quả, bám sám chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng như định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tổng nguồn vốn huy động tại thời điểm 31/7/2025 ước đạt 309.320 tỷ đồng, tăng 11,16% so với cuối năm 2024. Trong đó: Tiền gửi Việt Nam Đồng đạt 290.842 tỷ đồng, tăng 10,80%; tiền gửi Ngoại tệ đạt 17.103 tỷ đồng, tăng 14,47%. Tiền gửi dân cư đạt 230.253 tỷ đồng, tăng 19,48%; tiền gửi thanh toán 77.692 tỷ đồng, giảm 8,30%. Huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá đạt 1.375 tỷ đồng, tăng 68,23% so với cuối năm 2024. Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 31/7/2025 ước đạt 332.039 tỷ đồng, tăng 9,91% so với cuối năm 2024. Chất lượng tín dụng tiếp tục được kiểm soát tốt, nợ xấu ước tính 1.590 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,48%/tổng dư nợ; nằm trong tầm kiểm soát của các tổ chức tín dụng trên địa bàn. 5. Thu, chi ngân sách Nhà nước Thu ngân sách Nhà nước tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, tính đến ngày 20/7/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 31.280 tỷ đồng, tăng 25,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, thu nội địa đạt 27.352 tỷ đồng, tăng 26,53%. Tổng thu nội địa duy trì đà tăng trưởng tích cực chủ yếu đóng góp từ nguồn thu nhà đất, đạt 8.296 tỷ đồng, tăng 103,1%; từ khu vực sản xuất kinh doanh ngoài Nhà nước, đạt 3.908 tỷ đồng, tăng 19,70%. Hoạt động xuất, nhập khẩu diễn ra sôi động, thu ngân sách đạt 3.622 tỷ đồng, tăng 10,67%. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 20/7/2025 đạt 55.725 tỷ đồng, tăng 43,80% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 23.670 tỷ đồng, tăng 48,09%; chi thường xuyên đạt 31.858 tỷ đồng, tăng 40,57%. 6. Thương mại, giá cả, vận tải Tỉnh Phú Thọ sau sáp nhập có vị trí chiến lược, kết nối đa chiều với các tỉnh lân cận và thành phố Hà Nội, đồng thời sở hữu tiềm năng du lịch lớn, đặc biệt là du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh và sinh thái. Các hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải diễn ra sôi động. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 7 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh ước đạt 112 nghìn tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước. a) Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7/2025 ước đạt 16.710,1 tỷ đồng, tăng 12,4% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ ước đạt 12.786,2 tỷ đồng, chiếm 76,5% tổng mức, tăng 12,8%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.659,3 tỷ đồng, chiếm 9,9% tổng mức, tăng 20,6%; doanh thu dịch vụ lữ hành và dịch vụ khác ước đạt 2.264,5 tỷ đồng, chiếm 13,6% tổng mức, tăng 4,9%. Doanh thu bán lẻ trong tháng tăng so với cùng kỳ ở hầu hết các nhóm hàng: Lương thực, thực phẩm ước đạt 3.373,9 tỷ đồng, tăng 7,7%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 2.642,8 tỷ đồng, tăng 13,4%; xăng, dầu các loại ước đạt 1.499,8 tỷ đồng, tăng 7,4%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.379,4 tỷ đồng, tăng 12,1%; hàng may mặc ước đạt 926,7 tỷ đồng, tăng 20,5%; ô tô các loại ước đạt 842,6 tỷ đồng, tăng 28,5%; phương tiện đi lại trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) ước đạt 751,7 tỷ đồng, tăng 4,1%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) ước đạt 469 tỷ đồng, tăng 26,2%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước đạt 314,5 tỷ đồng, tăng 9,3%; hàng hoá khác ước đạt 256,6 tỷ đồng, tăng 21,4%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm ước đạt 206,3 tỷ đồng, tăng 66,4%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục ước đạt 122,8 tỷ đồng, tăng 18,8%;... Tính chung 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 111.996,5 tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ ước đạt 85.761,9 tỷ đồng, chiếm 76,6% tổng mức, tăng 14,6%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 11.149 tỷ đồng, chiếm 10% tổng mức, tăng 19,4%; doanh thu dịch vụ lữ hành và dịch vụ khác ước đạt 15.085,6 tỷ đồng, chiếm 13,4% tổng mức, tăng 5,5%. b) Chỉ số giá tiêu dùng Giá các mặt hàng xăng, dầu và giáo dục giảm là các nhân tố chính giúp kiềm chế chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn tỉnh. CPI tháng 7/2025 tăng 0,33% so với tháng trước, tăng 2,08% so với tháng 12 năm trước (sau 7 tháng) và tăng 2,85% so với tháng cùng kỳ (sau 12 tháng). Các nhóm hàng làm tăng CPI tháng 7/2025 so với tháng trước bao gồm: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,46% (tác động làm CPI tăng 0,23 điểm phần trăm, trong đó: Giá điện sinh hoạt tăng 4,57%; giá nước sinh hoạt tăng 0,53%; giá thuê nhà tăng 1,63%; vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,12%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,78% (đồ uống không cồn tăng 0,20%; rượu bia tăng 1,04%; thuốc hút tăng 0,61%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,43% (thực phẩm tăng 0,65%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,48%); hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,24%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,15%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%. Các nhóm khác: Giao thông giảm 0,58%; giáo dục giảm 0,12%; may mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,05%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%. So với tháng cùng kỳ, CPI tăng ở các nhóm hàng: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,6%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,16%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 3,38%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,67%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,27%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,04%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,68%; giáo dục tăng 0,81%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,52%. Chỉ số giá Vàng tháng 7/2025 so với tháng trước tăng 0,42%, giá bán bình quân trong tháng 11.035.833 đồng/chỉ. Chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 0,25% so với tháng trước, giá bán bình quân trong tháng 26.398,4 VNĐ/USD. CPI bình quân 7 tháng năm 2025 tăng 2,69% so với cùng kỳ, trong đó: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,51%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 6,2%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,52%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,98%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,4%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,44%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,12%; bưu chính viễn thông tăng 0,09%;… Các nhóm còn lại, giảm sâu so với cùng kỳ gồm: Giao thông giảm 3,82%; giáo dục giảm 3,01%;... c) Vận tải hàng hoá và hành khách Doanh thu vận tải tháng 7/2025 ước đạt 1.668,8 tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.165,6 tỷ đồng, tăng 2,3%; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 322,1 tỷ đồng, tăng 24,3%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 114,7 tỷ đồng, giảm 7,4%;... Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 10,1 triệu tấn, tăng 0,2% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 1.009,2 triệu tấn.km, giảm 0,1%. Số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 5,7 triệu lượt hành khách, tăng 13,3% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 349,1 triệu lượt hành khách.km, tăng 19,2%. Tính chung 7 tháng, tổng doanh thu vận tải ước đạt 11.538,7 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 69,1 triệu tấn, tăng 6,2%; luân chuyển ước đạt 6.875,7 triệu tấn.km, tăng 4,9%. Số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 42,8 triệu lượt hành khách, tăng 13,1%; luân chuyển ước đạt 2.570,9 triệu lượt hành khách.km, tăng 18,5%. 7. Một số vấn đề xã hội a) Giáo dục và đào tạo[1] Trong tháng, ngành Giáo dục tập trung hoàn thành công tác tổ chức kỳ thi và chấm điểm Tốt nghiệp THPT năm 2025 đảm bảo an toàn, đúng quy chế. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, toàn tỉnh có có 44.972 học sinh dự thi (trong đó THPT công lập: 32.853; THPT tư thục: 4.291; GDTX: 7.828); điểm trung bình môn thi đạt 6,39, đứng thứ 5 toàn quốc (tỉnh Vĩnh Phúc cũ có điểm trung bình 7,31 duy trì đứng thứ 1; tỉnh Phú Thọ cũ có điểm trung bình 7,011 đứng thứ 3 tăng 5 bậc so với năm 2024; tỉnh Hòa Bình cũ có điểm trung bình 6,556 đứng thứ 30 tăng 7 bậc so với năm 2024). Tính theo các khối truyền thống cả nước có 9 thí sinh đạt tuyệt đối 30/30 điểm, trong đó Phú Thọ có 1 thí sinh Nguyễn Lê Hiền Mai, lớp 12 chuyên Hóa, Trường THPT Chuyên Hùng Vương. b) Hoạt động văn hóa, thể thao[2] Tháng 7/2025, các ngành chức năng đã phối hợp tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền cổ động kỷ niệm các ngày lễ lớn như: Kỷ niệm 65 năm ngày Du Lịch Việt Nam (09/7/1960 - 09/7/2025); ngày Dân số thế giới (11/7); ngày Thương binh liệt sỹ (27/7);... Nhân kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2025), nhiều hoạt động thiết thực đã diễn ra trên phạm vi toàn tỉnh. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành đã đến thăm, tặng quà các thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách, người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh với tổng giá trị trên 29 tỷ đồng; đồng thời tổ chức các đoàn đến dâng hoa, thắp hương tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại nghĩa trang liệt sĩ,… Đây là dịp để các thế hệ đi sau bày tỏ tình cảm, sự biết ơn sâu sắc trước những cống hiến, hy sinh của các liệt sĩ, thương, bệnh binh và các gia đình chính sách đối với sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước, đúng theo đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Thể thao thành tích cao tiếp tục được quan tâm, duy trì đào tạo tập trung cho 488 vận động viên (VĐV) của các môn thể thao (trong đó 169 VĐV đội tuyển tỉnh, 242 VĐV đội tuyển trẻ, 77 VĐV đội tuyển năng khiếu); tham gia thi đấu 8 giải thể thao quốc gia giành được 47 huy chương các loại, gồm: 20 Huy chương vàng, 14 Huy chương bạc và 13 Huy chương đồng; thi đấu 4 giải thể thao quốc tế, giành được 16 huy chương các loại, gồm 7 Huy chương vàng, 6 Huy chương bạc, 3 Huy chương đồng. c) Công tác y tế[3] Tính từ đầu năm đến hết tháng 6/2025, toàn tỉnh ghi nhận 367 ca mắc sởi dương tính, 153 ca mắc tay chân miệng, 23 ca mắc sốt xuất huyết. Để chủ động phòng chống các bệnh truyền nhiễm, ngành Y tế đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đồng thời tuyên truyền đến người dân cách phòng tránh các bệnh lây lan theo mùa. Tính đến hết tháng 6/2025 đã ghi nhận 1 vụ ngộ độc thực phẩm với 03 người mắc, không có trường hợp tử vong; số ca mắc ngộ độc thực phẩm lẻ tẻ là 10 người (xảy ra trên địa bàn tỉnh Hoà Bình cũ);... Các đoàn liên ngành đã kiểm tra 9.989 cơ sở, trong đó có 96,7% số cơ sở đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. d) Tình hình tai nạn giao thông Theo thống kê của Ban An toàn giao thông tỉnh, từ ngày 15/6/2025 đến ngày 14/7/2025 trên địa bàn tỉnh xảy ra 44 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm 28 người chết và 26 người bị thương. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 14/7/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 415 vụ tai nạn và va chạm giao thông làm 243 người chết (giảm 133 vụ so với cùng kỳ năm trước) và 292 người bị thương. Trong tháng, lực lượng Cảnh sát Giao thông - Công an tỉnh đã kiểm tra xử lý 9.372 trường hợp vi phạm Luật Giao thông đường bộ, xử phạt trên 16,3 tỷ đồng. e) Tình hình thiên tai Tháng 7/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 2 đợt mưa bão tại 72/148 xã. Thiên tai đã làm 1 người chết, 2 người bị thương; thiệt hại 193 ha lúa, 221 ha hoa màu; 282 ha cây lâm nghiệp bị hư hại; 3.260 con gia cầm và 2 con gia súc bị chết, cuốn trôi; 827 ngôi nhà bị hư hỏng và một số công trình công cộng bị thiệt hại;… Tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 48 tỷ đồng. f) Tình hình cháy nổ, vi phạm môi trường Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 26/6/2025 đến ngày 25/7/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 5 vụ cháy, thiệt hại ước tính 50,9 triệu đồng. Tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/7/2025, toàn tỉnh xảy ra 74 vụ cháy, 1 vụ nổ làm 3 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 3.908 triệu đồng. Vi phạm môi trường: Từ ngày 26/6/2025 đến ngày 25/7/2025, lực lượng Cảnh sát Môi trường - Công an tỉnh đã phát hiện và xử lý 38 vụ vi phạm môi trường, xử phạt 156,3 triệu đồng. Tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/7/2025, toàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 596 vụ vi phạm môi trường (giảm 380 vụ so với cùng kỳ) với tổng số tiền xử phạt trên 8,7 tỷ đồng (giảm trên 2,2 tỷ đồng so với cùng kỳ)./.