02103 847 407 | phutho@nso.gov.vn
Bức tranh kinh tế – xã hội tỉnh Phú Thọ năm 2025
  •   03/01/2026 08:57

Năm 2025, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro do căng thẳng địa chính trị, lạm phát kéo dài và tăng trưởng toàn cầu có xu hướng chậm lại; trong nước đồng thời triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Phú Thọ vẫn duy trì được sự ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực trong phát triển kinh tế – xã hội.1. Tăng trưởng và cơ cấu kinh tếTổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025 theo giá so sánh năm 2010 ước tăng 10,52% so với năm 2024; thuộc nhóm tăng trưởng cao của cả nước và đứng đầu vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Trong đó, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 16,13% so với năm 2024, đóng góp 7,72 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Quy mô GRDP theo giá hiện hành ước đạt 412,4 nghìn tỷ đồng, tăng 55,5 nghìn tỷ đồng so với năm 2024. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa; tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm 48,8%, riêng công nghiệp chiếm 42,3% GRDP.2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông nghiệp năm 2025 nhìn chung ổn định, lâm nghiệp và thủy sản tăng khá so với năm 2024.Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 303,6 nghìn ha, giảm 0,7% so với năm 2024; trong đó diện tích lúa đạt 147,2 nghìn ha, giảm 0,9%; diện tích ngô đạt 55,9 nghìn ha, giảm 0,9%.Sản lượng lương thực có hạt đạt 1.138,9 nghìn tấn, tăng 2,5% so với năm 2024; trong đó thóc đạt 863,9 nghìn tấn (+2,7%), ngô đạt 275 nghìn tấn (+2,1%).Tổng đàn vật nuôi tại thời điểm 31/12/2025: trâu 162,1 nghìn con (-2,3% so với 31/12/2024); bò 247,2 nghìn con (-2,5%); lợn 1.557,2 nghìn con (-5,1%); gia cầm 37,6 triệu con (+3,9%).Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 471 nghìn tấn, tăng 1,1% so với năm 2024.Sản lượng thủy sản đạt 83,4 nghìn tấn, tăng 4,7% so với năm 2024.Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 19,9 nghìn ha, tăng 1,7% so với năm 2024; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.666,1 nghìn m³, tăng 9,8%.3. Sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2025 tăng 26,4% so với năm 2024. Trong đó: khai khoáng tăng 29,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 27,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 23,9%.Một số sản phẩm chủ lực tăng mạnh so với năm 2024: máy tính xách tay tăng 74,9%; xi măng tăng 36,1%; sắt thép tăng 35,5%; máy điều hòa không khí tăng 31,1%. Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp bình quân năm tăng 3,22% so với năm 2024.4. Thương mại, dịch vụ và vận tảiTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 đạt 198.940,2 tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2024.Doanh thu bán lẻ đạt 156.612 tỷ đồng, tăng 16,3%.Doanh thu lưu trú, ăn uống đạt 19.434,1 tỷ đồng, tăng 18,5%.Doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 984,1 tỷ đồng, tăng 37,3%.Hoạt động vận tải tăng khá so với năm 2024: vận chuyển hành khách đạt 73,6 triệu lượt, tăng 18,1%; luân chuyển đạt 4.310,6 triệu lượt.km, tăng 20,6%. Vận chuyển hàng hóa đạt 119,5 triệu tấn, tăng 6,3%; luân chuyển đạt 11.965,4 triệu tấn.km, tăng 5,2%.5. Ổn định kinh tế vĩ mô, tài chính – ngân sách và đầu tưChỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 tăng 2,84% so với năm 2024; CPI tháng 12/2025 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 3,0% so với tháng 12/2024.Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 58.501 tỷ đồng, tăng 24,5% so với năm 2024; chi ngân sách đạt 89.417 tỷ đồng, tăng 35%.Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện đạt 151,6 nghìn tỷ đồng, tăng 16,4% so với năm 2024; trong đó vốn ngoài Nhà nước tăng 12,6%, vốn FDI tăng 22,4%, vốn Nhà nước tăng 19,4%. Thu hút FDI đạt 57 dự án mới với tổng vốn đăng ký 749,4 triệu USD, tăng 57,8% so với năm 2024.6. Lĩnh vực xã hộiNăm 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 61.842 người, đạt 120,2% kế hoạch năm và tăng so với năm 2024. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT đạt 99,72%, xếp thứ 5/34 tỉnh, thành phố.Về y tế, đến hết tháng 11/2025 ghi nhận 983 trường hợp sốt phát ban nghi sởi (tăng so với cùng kỳ 2024), 232 trường hợp sốt xuất huyết (giảm so với cùng kỳ). Tai nạn giao thông trong kỳ ghi nhận 758 vụ, 408 người chết và 553 người bị thương, đều giảm so với cùng kỳ năm trước.Kết luậnBức tranh kinh tế – xã hội tỉnh Phú Thọ năm 2025 cho thấy xu hướng ổn định vĩ mô, tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực và an sinh xã hội được bảo đảm, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tiếp theo.

TÓM TẮT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ THÁNG 11 NĂM 2025
  •   04/12/2025 14:03

Tháng 11/2025, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh duy trì ổn định, các ngành tiếp tục triển khai nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm. Sản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng cây vụ đông và phòng chống dịch bệnh; công nghiệp tăng trưởng khá ở nhóm ngành chủ lực; thương mại, dịch vụ sôi động theo nhu cầu mua sắm dịp cuối năm. Công tác đầu tư công, thu hút doanh nghiệp, quản lý thu – chi ngân sách và các lĩnh vực xã hội được triển khai tích cực.1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnTiến độ gieo trồng vụ đông chịu ảnh hưởng của thời tiết, một số diện tích giảm so cùng kỳ: ngô đạt 13,4 nghìn ha (96,1%), rau các loại 12,3 nghìn ha (97,6%), khoai lang 2.213 ha (93%). Chăn nuôi cơ bản ổn định, riêng đàn lợn tiếp tục phục hồi sau ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi. Đến cuối tháng 11, đàn trâu, bò và lợn đều giảm so cùng kỳ, trong khi đàn gia cầm tăng 3,8%.Lâm nghiệp thực hiện đúng tiến độ, diện tích rừng trồng mới 11 tháng đạt 19.409,6 ha, tăng 2,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.574,1 nghìn m³, tăng 10,1%. Thủy sản phục hồi mạnh: tháng 11/2025 đạt 8,1 nghìn tấn, tăng 15,9%; lũy kế 11 tháng đạt 69,5 nghìn tấn, tăng 5%, chủ yếu do khắc phục thiệt hại bão Yagi của năm trước.2. Sản xuất công nghiệpSản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng, nhất là khối chế biến, chế tạo. Chỉ số IIP tháng 11 tăng 1,67% so tháng trước và tăng 27,15% so cùng kỳ. Nhiều ngành tăng mạnh như sản xuất hóa chất, thiết bị điện, kim loại, điện tử, máy vi tính. Một số ngành giảm do nhu cầu thị trường yếu: sản xuất ô tô, thiết bị điện, đồ uống, dệt may.Lũy kế 11 tháng, IIP toàn ngành tăng 27,39%; riêng chế biến, chế tạo tăng 28,79%. Các sản phẩm chủ lực tăng cao: laptop tăng 78,5%, điều hòa tăng 40,9%, thép tăng 37,1%, xi măng tăng 34,6%, linh kiện điện tử tăng 30,2%. Lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tháng 11 tăng 8,5% so cùng kỳ.3. Đầu tưTiến độ giải ngân được các đơn vị tập trung đẩy mạnh. Vốn đầu tư công 11 tháng ước đạt 75,7% kế hoạch năm, tăng 14,1% so cùng kỳ; trong đó cấp tỉnh tăng 19,4%.Nhiều dự án trọng điểm ghi nhận giá trị thực hiện khá: cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu, các dự án kết nối vùng, cải tạo hạ tầng giao thông, các tuyến đường liên huyện và dự án khu đô thị.Công tác thu hút đầu tư đạt kết quả tích cực. Đến 20/11/2025, tỉnh thu hút 180 dự án DDI với tổng vốn 51,3 nghìn tỷ đồng (gấp 4,7 lần cùng kỳ). Khu vực FDI có 54 dự án mới với tổng vốn 732,1 triệu USD (gấp 2,6 lần), chủ yếu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan.4. Tình hình doanh nghiệp11 tháng năm 2025 có 4.323 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 53,3%), vốn đăng ký 39.463 tỷ đồng (tăng 40,6%). Một số ngành tăng mạnh như vận tải kho bãi, kinh doanh bất động sản, bán lẻ ô tô – xe máy, tài chính – ngân hàng.918 doanh nghiệp quay lại hoạt động (tăng 23,6%), trong khi số doanh nghiệp tạm ngừng và giải thể đều tăng, cho thấy môi trường kinh doanh vẫn còn khó khăn.5. Thu, chi ngân sách và hoạt động ngân hàngThu ngân sách đạt 51.280 tỷ đồng, tăng 34,3%; thu nội địa tăng 40%, đóng góp lớn từ đất đai và khối doanh nghiệp FDI.Chi ngân sách đạt 83.254 tỷ đồng, tăng 39,1%; trong đó chi thường xuyên tăng mạnh 50,7%, tập trung cho giáo dục – đào tạo, quản lý hành chính và quốc phòng.Hoạt động ngân hàng ổn định, tín dụng tăng trưởng tích cực. Huy động vốn đạt 312.764 tỷ đồng (tăng 12,4%); dư nợ cho vay đạt 355.857 tỷ đồng (tăng 17,8%). Nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,44%.6. Thương mại, dịch vụ và giá cảTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 11 tháng đạt 177.443 tỷ đồng, tăng 15,3%. Riêng tháng 11 tăng 19,4%, với nhiều nhóm hàng tăng mạnh như gỗ – VLXD, đồ dùng gia đình, may mặc, phương tiện đi lại, vàng.Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng nhẹ 0,03%; tăng 2,9% so tháng 12/2024 và tăng 3,13% so cùng kỳ. CPI được kiểm soát tốt; giá xăng dầu và thực phẩm tăng, song giá điện, gas và nhóm nhà ở giảm.Vận tải tiếp tục khởi sắc: doanh thu tháng 11 đạt 1.760 tỷ đồng, tăng 11,7%; sản lượng hành khách tăng 24,6%.7. Một số lĩnh vực xã hộiGiáo dục: tổ chức nhiều hoạt động tri ân Ngày Nhà giáo Việt Nam; ngành Giáo dục tỉnh được nhận nhiều phần thưởng cấp Trung ương và của tỉnh.Y tế: ghi nhận 854 ca sốt phát ban nghi sởi, 560 ca tay chân miệng; 198 ca sốt xuất huyết giảm so cùng kỳ. Tỷ lệ tiêm chủng duy trì khá; 96,7% cơ sở đạt chuẩn an toàn thực phẩm.Văn hóa – thể thao: tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn; thể thao thành tích cao đạt 29 huy chương tại 8 giải quốc gia.An toàn giao thông: từ 15/10–14/11 xảy ra 77 vụ tai nạn, làm 44 người chết và 47 người bị thương; giảm so cùng kỳ 11 tháng.Cháy nổ và môi trường: tháng 11 ghi nhận 29 vụ cháy; lực lượng chức năng xử lý 104 vụ vi phạm môi trường./.

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025
  •   04/11/2025 13:46

Tháng 10/2025, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn về thị trường tài chính, tín dụng và giá nguyên vật liệu đầu vào, song nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, nền kinh tế vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực.1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp cơ bản đảm bảo tiến độ thời vụ; diện tích lúa mùa thu hoạch đạt 60,9 nghìn ha, bằng 102,2% cùng kỳ. Một số cây trồng vụ đông như ngô, khoai, rau màu bị chậm tiến độ do mưa bão. Chăn nuôi lợn gặp khó vì dịch tả lợn Châu Phi, song đang dần phục hồi; đàn gia cầm tăng 3,3%, đàn lợn giảm 9,6%. Lâm nghiệp đạt kết quả khả quan: trồng mới gần 19 nghìn ha rừng, tăng 2,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1,23 triệu m³, tăng 10,7%. Thủy sản chịu ảnh hưởng thiên tai nhưng sản lượng vẫn tăng 4,6% so với cùng kỳ.2. Công nghiệp Ngành công nghiệp tiếp tục là điểm sáng với chỉ số sản xuất (IIP) 10 tháng tăng 26,9%. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng mạnh 28,8%, đóng góp chủ lực cho tăng trưởng. Một số sản phẩm tăng cao: máy tính xách tay tăng 80,5%, máy điều hòa tăng 40,7%, xi măng tăng 34,2%, giày thể thao tăng 16,2%. Lao động công nghiệp tăng 5,4% so với cùng kỳ.3. Đầu tư Tổng vốn đầu tư công 10 tháng ước đạt 19.357 tỷ đồng, tăng 17,3%; nhiều dự án hạ tầng trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ. Tỉnh thu hút 164 dự án DDI mới (49,1 nghìn tỷ đồng) và 45 dự án FDI (404,1 triệu USD).4. Thu – chi ngân sách và hoạt động ngân hàng Tổng thu ngân sách đạt 47.091 tỷ đồng, tăng 34,8%; trong đó thu nội địa tăng 40%. Chi ngân sách đạt 79.039 tỷ đồng, tăng 46,2%. Hệ thống ngân hàng huy động vốn 307,2 nghìn tỷ đồng (tăng 10,4%) và cho vay 347,5 nghìn tỷ đồng (tăng 15%); nợ xấu chỉ chiếm 0,46% tổng dư nợ, phản ánh tín dụng an toàn.5. Thương mại, dịch vụ và giá cả Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tháng 10 đạt 17.591 tỷ đồng, tăng 15,3%; tính chung 10 tháng đạt 161.729 tỷ đồng, tăng 14,4%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng 0,08% so tháng trước và 2,97% so cùng kỳ; giá vàng tăng mạnh 16,77%, USD giảm 0,46%.6. Vận tải, xuất nhập khẩu Doanh thu vận tải tháng 10 đạt 1.709 tỷ đồng, tăng 9,6%; xuất khẩu hàng hóa ước đạt 16,2 tỷ USD, nhập khẩu 12,9 tỷ USD – tiếp tục duy trì thặng dư thương mại.7. Văn hóa – xã hội Giáo dục chuẩn bị kế hoạch giai đoạn mới; y tế tăng cường phòng chống dịch mùa, tỷ lệ tiêm chủng đạt trên 70%. Thể thao thành tích cao giành 40 huy chương các loại trong nước và quốc tế. Tình hình an ninh – trật tự cơ bản ổn định; tai nạn giao thông giảm trên cả ba tiêu chí.8. Thiên tai – môi trường Ảnh hưởng bão số 10 và 11 gây thiệt hại hơn 1,2 nghìn tỷ đồng, làm hư hại hơn 4.700 nhà, 4.200 ha lúa, 5.100 ha hoa màu. Trong tháng xảy ra 23 vụ cháy, thiệt hại khoảng 1,6 tỷ đồng; vi phạm môi trường giảm so cùng kỳ.

Ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam mới – Phù hợp xu thế phát triển và hội nhập quốc tế
  •   15/10/2025 14:05

Ngày 29/9/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 36/2025/QĐ-TTg về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, có hiệu lực từ 15/11/2025, thay thế Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg. Đây là bước cập nhật quan trọng nhằm phản ánh đầy đủ sự chuyển dịch mạnh mẽ của nền kinh tế trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển xanh và hội nhập quốc tế sâu rộng.Cập nhập toàn diện theo hướng hiện đại, hội nhậpHệ thống ngành kinh tế mới gồm 5 cấp phân loại với 743 ngành, được xây dựng trên cơ sở bảo đảm tính tương thích và khả năng so sánh quốc tế. Việc cập nhật này hướng tới phản ánh đầy đủ các lĩnh vực mới nổi trong nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu quản lý và thống kê trong giai đoạn phát triển hiện nay.Nâng cao hiệu quả quản lý và hoạch định chính sáchHệ thống ngành kinh tế mới là công cụ quan trọng giúp các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu:-        Phân tích, đánh giá chính xác cơ cấu và xu hướng phát triển của nền kinh tế;-        Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu thống kê phục vụ quản lý, quy hoạch, đầu tư và hội nhập quốc tế;-        Đảm bảo sự thống nhất giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương trong quá trình quản lý, đăng ký kinh doanh, lập kế hoạch và báo cáo.Việc ban hành Quyết định số 36/2025/QĐ-TTg không chỉ là sự điều chỉnh về phân loại, mà còn thể hiện tầm nhìn dài hạn trong phát triển kinh tế Việt Nam – hướng tới chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bộ Tài chính (Cục Thống kê) được giao hướng dẫn thực hiện và xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương thực hiện chuyển đổi mã ngành đúng quy định từ năm 2026.

Báo cáo tình hình Kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2025
  •   02/09/2025 13:22

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnTính đến ngày 20/8/2025, toàn tỉnh đã kết thúc gieo trồng các loại cây hàng năm vụ mùa năm 2025: Diện tích lúa vụ mùa gieo cấy ước đạt 66,7 nghìn ha, giảm 1,7% (-1.156,9 ha) so với cùng kỳ năm trước; ngô gieo trồng ước đạt 16 nghìn ha, giảm 0,3% (-53,1 ha); lạc gieo trồng ước đạt 2,2 nghìn ha, giảm 0,8% (-16,8 ha); đậu tương gieo trồng ước đạt 176,0 ha, giảm 9,9% (-19,4 ha); khoai lang gieo trồng ước đạt 1,4 nghìn ha, giảm 2,0% (-28,5 ha); rau các loại gieo trồng ước đạt 10,6 nghìn ha, giảm 1,1% (-116,6 ha);…  Hoạt động chăn nuôi cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển, thị trường tiêu thụ ổn định, giá các sản phẩm gia cầm tăng mang lại lợi nhuận khá cho người chăn nuôi; chăn nuôi lợn tiếp tục bị ảnh hưởng bởi Dịch tả lợn Châu Phi với những diễn biến phức tạp, lây lan nhanh, tính đến cuối tháng 8 dịch bệnh đã xảy ra tại hầu hết các xã, phường. Số lượng đàn gia súc gia cầm hiện có ước đến cuối tháng 8/2025: Tổng đàn trâu ước đạt 160,2 nghìn con, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò ước đạt 251,9 nghìn con, giảm 6,1%; tổng đàn lợn ước đạt 1.456,9 nghìn con, giảm 12,8%; tổng đàn gia cầm ước đạt 36,9 triệu con, tăng 3,4%, trong đó tổng đàn gà ước đạt 32,8 triệu con, tăng 3,6%. Sản xuất lâm nghiệp tháng 8/2025 trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định và có sự tăng trưởng khá; diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 1,5 nghìn ha, tăng 55,4% so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 177,4 nghìn m3, tăng 77,6%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 621,7 nghìn cây, tăng 67,5%. Tính từ đầu năm đến hết tháng 8, diện tích rừng trồng mới ước đạt 18,1 nghìn ha, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 1.043,7 nghìn m3, tăng 13,5%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 4.266,2 nghìn cây, tăng 12,4%;… Trong tháng không xảy ra vụ cháy rừng, phá rừng nào trên địa bàn tỉnh.Sản xuất thủy sản duy trì ổn định, sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 8/2025 ước đạt 6.696,4 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ; trong đó, sản lượng cá các loại đạt 6.671,2 tấn, tăng 2,2%. Tính từ đầu năm đến hết tháng 8, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 48.665,0 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng cá các loại đạt 48.512,3 tấn, tăng 3,3%. 2. Sản xuất công nghiệpTháng 8/2025, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng tích cực, chỉ số IIP tăng 3,85% so với tháng trước và tăng 26,88% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng tăng 26,14%.  Sau 8 tháng, IIP tăng 26,14% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 23,91%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 27,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,46%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 18,63%. 3. Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lýVốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2025 ước đạt 2.475,9 tỷ đồng, tăng 50,1% so với tháng cùng kỳ. Trong đó: Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.742,2 tỷ đồng, tăng 50,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 733,8 tỷ đồng, tăng 49,7%.  Tính chung 8 tháng, tổng giá trị vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh ước thực hiện 14.987,9 tỷ đồng, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 10.205,1 tỷ đồng, tăng 26,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 4.782,8 tỷ đồng, tăng 5,4%. 4. Hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ diễn ra ổn định và hiệu quả, bám sám chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng như định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tổng nguồn vốn huy động tại thời điểm 31/8/2025 ước đạt 302.065 tỷ đồng, tăng 8,6% so với cuối năm 2024. Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 31/8/2025 ước đạt 335.784 tỷ đồng, tăng 11,2% so với cuối năm 2024.  Chất lượng tín dụng tiếp tục được kiểm soát tốt, nợ xấu ước tính 1.631 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,49%/tổng dư nợ; nằm trong tầm kiểm soát của các tổ chức tín dụng trên địa bàn.  5. Thu, chi ngân sách Nhà nước Công tác quản lý thu, đôn đốc thu ngân sách Nhà nước tiếp tục được triển khai quyết liệt, góp phần giúp nguồn thu ngân sách Nhà nước trong kỳ tăng khá. Tính đến ngày 20/8/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 38.811 tỷ đồng, tăng 33,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, thu nội địa đạt 33.736 tỷ đồng, tăng 34,9%. Tổng thu nội địa duy trì đà tăng trưởng tích cực chủ yếu đóng góp từ nguồn thu nhà đất, đạt 11.305 tỷ đồng, tăng gấp 2,5 lần; từ khu vực sản xuất kinh doanh ngoài Nhà nước, đạt 4.540 tỷ đồng, tăng 20,6%. Hoạt động xuất, nhập khẩu diễn ra sôi động, thu ngân sách đạt 4.220 tỷ đồng, tăng 8,5%.  Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 20/8/2025 đạt 60.605 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 23.841 tỷ đồng, tăng 36,8%; chi thường xuyên đạt 36.555 tỷ đồng, tăng 37,8%. 6. Thương mại, giá cả, vận tảiTổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2025 ước đạt 17.146,4 tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ.  Trong đó, doanh thu bán lẻ ước đạt 13.212,2 tỷ đồng, chiếm 77,1% tổng mức, tăng 16%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.644,6 tỷ đồng, chiếm 9,6% tổng mức, tăng 18,5%; doanh thu dịch vụ lữ hành và dịch vụ khác ước đạt 2.289,7 tỷ đồng, chiếm 13,4% tổng mức, tăng 10,5%.  Tính chung 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 129.230 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ ước đạt 99.242,9 tỷ đồng, chiếm 76,8% tổng mức, tăng 15,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 12.798,3 tỷ đồng, chiếm 9,9% tổng mức, tăng 19,4%; doanh thu dịch vụ lữ hành và dịch vụ khác ước đạt 17.188,9 tỷ đồng, chiếm 13,3% tổng mức, tăng 5%.  b) Chỉ số giá Giá lương thực, thực phẩm, điện nước sinh hoạt, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng do nhu cầu tiêu dùng là những nguyên nhân chính làm chỉ số tiêu dùng (CPI) tháng 8/2025 tăng 0,26% so với tháng trước, tăng 2,34% so với tháng 12 năm trước (sau 8 tháng) và tăng 2,96% so với tháng cùng kỳ (sau 12 tháng).  c) Vận tải hàng hóa và hành kháchDoanh thu vận tải tháng 8/2025 ước đạt 1.651,5 tỷ đồng, tăng 5,9% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng, tổng doanh thu vận tải ước đạt 13.184,2 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ; sản lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 78 triệu tấn, tăng 4,4%; sản lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 7.814,3 triệu tấn.km, tăng 3,4%. Sản lượng hành khách vận chuyển ước đạt 49 triệu lượt hành khách, tăng 15%; sản lượng hành khách luân chuyển ước đạt 2.895,8 triệu lượt hành khách.km, tăng 18,5%.  7. Một số vấn đề xã hội a) Tình hình giáo dục Trong tháng, ngành Giáo dục tập trung triển khai các nhiệm vụ cho năm học mới với nhiều thách thức trong tổ chức dạy học, triển khai các nội dung đổi mới giáo dục phổ thông và nâng cao chất lượng giáo dục. Tỉnh Phú Thọ sau sáp nhập có 1.957 cơ sở giáo dục, đào tạo, trong đó có 1.879 trường công lập và 78 cơ sở tư thục; có 969 nghìn học sinh, học viên và trẻ mầm non, phân bố ở tất cả các cấp học từ mầm non đến THPT, GDTX, GDNN; tỷ lệ kiên cố hóa trường, lớp học đạt trên 90%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia toàn tỉnh đạt khoảng 83%. b) Tình hình y tế Tính từ đầu năm đến hết tháng 7/2025, toàn tỉnh ghi nhận 562 ca mắc sởi dương tính, 345 ca mắc tay chân miệng, 36 ca mắc sốt xuất huyết. Để chủ động phòng chống các bệnh truyền nhiễm, ngành Y tế đã tăng cường kiểm tra, giám sát, đồng thời tuyên truyền đến người dân cách phòng chống các bệnh lây lan theo mùa. Trong tháng 8, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận trường hợp nào mắc ngộ độc thực phẩm. Tính đến hết tháng 7/2025 đã ghi nhận 1 vụ ngộ độc thực phẩm với 03 người mắc, không có trường hợp tử vong; các đoàn liên ngành đã kiểm tra 9.989 cơ sở, trong đó có 96,7% số cơ sở đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. c) Hoạt động văn hóa, thể thao Tháng 8/2025, ngành Văn hóa, Thể thao, Du lịch và các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn như: 80 năm ngày Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945-19/8/2025); 80 năm ngày thành lập Công an Nhân dân; 80 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa - Thông tin (28/8/1945- 28/8/2025); Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945- 02/9/2025); Đại hội Đảng bộ cấp xã, tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ Nhất, nhiệm kỳ 2025 - 2030 ;… Thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp tiếp tục được quan tâm, đăng cai tổ chức thành công giải Bóng đá nữ Vô địch Đông Nam Á 2025; phối hợp với các đơn vị tổ chức Giải Marathon Quốc tế VTV LPBank 2025; tham gia Giải vô địch Cúp Cờ vua, Cờ vây quốc gia năm 2025. Duy trì quản lý, đào tạo tập trung tổng số 489 vận động viên (VĐV) của các môn thể thao (169 VĐV đội tuyển tỉnh, 242 VĐV đội tuyển trẻ, 78 VĐV đội tuyển năng khiếu). Tham gia thi đấu 9 giải thể thao quốc gia, giành được 41 huy chương các loại, gồm 15 HCV, 06 HCB và 20 HCĐ; 2 giải thể thao quốc tế, giành được 5 huy chương, gồm 3 HCV và 2 HCĐ. d) Tình hình tai nạn, vi phạm giao thông Theo thống kê của Ban an toàn giao thông tỉnh, từ ngày 15/7/2025 đến ngày 14/8/2025 trên địa bàn tỉnh xảy ra 73 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm 28 người chết và 62 người bị thương; 1 vụ tai nạn giao thông đường sắt làm 1 người chết. Tính từ 15/12/2024 đến ngày 14/8/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 489 vụ tai nạn và va chạm giao thông (giảm 122 vụ) làm 273 người chết (giảm 9 người) và 353 người bị thương (giảm 124 người). Từ ngày 15/7/2025 đến ngày 14/8/2025, lực lượng Cảnh sát Giao thông - Công an tỉnh đã kiểm tra xử lý 13.119 trường hợp vi phạm Luật Giao thông đường bộ, xử phạt trên 34 tỷ đồng. e) Tình hình thiên tai Tháng 8 năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 đợt thiên tai do ảnh hưởng của cơn bão số 5 Kajiki. Thiên tai đã làm 1 người bị thương; thiệt hại 1.872 ha lúa và 1.854 ha hoa màu; 683 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hại; 9.850 con gia cầm, 3 con gia súc bị chết, cuốn trôi; 406 ngôi nhà ở bị hư hỏng, 534 hộ dân phải di dời khẩn cấp do ngập lụt, sạt lở và nhiều công trình công cộng bị thiệt hại. Giá trị thiệt hại ước tính trên 9 tỷ đồng. f) Tình hình cháy nổ, vi phạm môi trường Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 26/7/2025 đến ngày 25/8/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ cháy, thiệt hại ước tính 723,8 triệu đồng. Tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/8/2025, toàn tỉnh xảy ra 91 vụ cháy, 1 vụ nổ làm 3 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 4.631,3 triệu đồng. Vi phạm môi trường: Từ ngày 26/7/2025 đến ngày 25/8/2025, lực lượng Cảnh sát Môi trường - Công an tỉnh đã phát hiện và xử lý 55 vụ vi phạm môi trường, xử phạt 254,7 triệu đồng. Tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/8/2025, toàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 651 vụ vi phạm môi trường (giảm 485 vụ so với cùng kỳ), tổng số tiền xử phạt 9.031,2 triệu đồng (giảm 3.375,9 triệu đồng so với cùng kỳ). Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ./.

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ tháng 7 năm 2025
  •   30/07/2025 09:43

Kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2025 trên địa bàn tỉnh diễn ra trong bối cảnh hệ thống chính trị cả nước đang triển khai thực hiện cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, sắp xếp lại đơn vị hành chính các cấp. Tỉnh Phú Thọ mới sau sáp nhập có quy mô lớn với diện tích tự nhiên trên 9,3 nghìn km2, dân số thực tế thường trú gần 3,7 triệu người, tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành năm 2025 ước tính trên 400 nghìn tỷ đồng. Dù đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhờ thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp do Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo, do đó kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ vẫn đạt được nhiều tín hiệu tích cực. Kết quả thực hiện của các ngành, lĩnh vực chủ yếu tháng 7 và 7 tháng năm 2025 như sau: 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Tính đến ngày 20/7/2025, diện tích lúa vụ mùa đã cấy ước đạt 64,8 nghìn ha, giảm 0,8% (-522,8 ha) so với cùng kỳ năm trước; ngô gieo trồng ước đạt 11,0 nghìn ha, giảm 0,4% (-47,1 ha); lạc gieo trồng ước đạt 1,5 nghìn ha, giảm 4,5% (-72 ha); đậu tương gieo trồng ước đạt 110,7 ha, giảm 15,6% (-20,4 ha); khoai lang gieo trồng ước đạt 921,1 ha, giảm 5,5% (-53,1 ha); rau xanh các loại gieo trồng ước đạt 7,7 nghìn ha, giảm 4,1% (-330,6 ha); đậu các loại gieo trồng ước đạt 123,7 ha, giảm 2,6% (-3,3 ha);…  Tổng đàn trâu hiện có ước đạt 163,6 nghìn con, giảm 4,4% so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò ước đạt 251,3 nghìn con, giảm 4,8%; tổng đàn lợn ước đạt 1.597,8 nghìn con, giảm 4,8%; tổng đàn gia cầm ước đạt 36,4 triệu con, tăng 2% (trong đó tổng đàn gà 32,4 triệu con, tăng 1,6%).Tính đến hết tháng 7 năm 2025, tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh ước đạt 16,5 nghìn ha, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước; cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 3.644,5 nghìn cây, tăng 6,4%; sản lượng gỗ khai thác toàn tỉnh ước đạt 876,3 nghìn m3, tăng 4,5% (riêng sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 123,5 nghìn m3);... Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 7/2025 ước đạt 6.015,9 tấn, tăng 2,0% so với cùng kỳ; trong đó, sản lượng cá đạt 5.993,2 tấn, tăng 2,0%. Tính từ đầu năm đến hết tháng 7 năm 2025, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 41.972,2 tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng cá đạt 41.841,1 tấn, tăng 3,5%. 2. Sản xuất công nghiệp Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì tăng trưởng cao so với cùng kỳ nhờ sự ổn định của các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm điện tử, vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị. Tính chung 7 tháng năm 2025 chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 25,7% so với cùng kỳ năm 2024.So với tháng trước, IIP tháng 7/2025 ước tính tăng 0,37%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,33%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,61%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,79%; ngành công nghiệp khai khoáng giảm 13,3%. So với tháng cùng kỳ, IIP tháng 7/2025 tăng 24,88%, đóng góp chủ yếu từ nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 30,43%. Tính chung 7 tháng, IIP tăng 25,73% so với cùng kỳ, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26,94%; ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 19,85%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,46%.  3. Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý Tháng 7/2025, trong bối cảnh thực hiện tổ chức bộ máy hành chính theo Nghị quyết 60-NQ/TW, tỉnh Phú Thọ đã nhanh chóng ổn định tổ chức, kiện toàn các Ban quản lý dự án theo khu vực, đồng thời tăng cường chỉ đạo, giám sát và phối hợp giữa các cấp, ngành, tháo gỡ khó khăn về mặt bằng và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án. Nhờ đó, công tác giải ngân và thực hiện vốn đầu tư công trong tháng đạt kết quả tích cực, ghi nhận mức tăng cao ở cả nguồn vốn cấp tỉnh và cấp xã. Tổng giá trị vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng ước đạt 2.423,6 tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.608,1 tỷ đồng, tăng 16,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 815,5 tỷ đồng, tăng 21,7%. Tính chung 7 tháng, tổng giá trị vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh ước thực hiện 12.586,4 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 8.438,9 tỷ đồng, tăng 21,7%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 4.147,5 tỷ đồng, tăng 2,4%.4. Hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ diễn ra ổn định và hiệu quả, bám sám chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng như định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tổng nguồn vốn huy động tại thời điểm 31/7/2025 ước đạt 309.320 tỷ đồng, tăng 11,16% so với cuối năm 2024. Trong đó: Tiền gửi Việt Nam Đồng đạt 290.842 tỷ đồng, tăng 10,80%; tiền gửi Ngoại tệ đạt 17.103 tỷ đồng, tăng 14,47%. Tiền gửi dân cư đạt 230.253 tỷ đồng, tăng 19,48%; tiền gửi thanh toán 77.692 tỷ đồng, giảm 8,30%. Huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá đạt 1.375 tỷ đồng, tăng 68,23% so với cuối năm 2024.  Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 31/7/2025 ước đạt 332.039 tỷ đồng, tăng 9,91% so với cuối năm 2024.  Chất lượng tín dụng tiếp tục được kiểm soát tốt, nợ xấu ước tính 1.590 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,48%/tổng dư nợ; nằm trong tầm kiểm soát của các tổ chức tín dụng trên địa bàn. 5. Thu, chi ngân sách Nhà nước Thu ngân sách Nhà nước tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, tính đến ngày 20/7/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 31.280 tỷ đồng, tăng 25,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, thu nội địa đạt 27.352 tỷ đồng, tăng 26,53%. Tổng thu nội địa duy trì đà tăng trưởng tích cực chủ yếu đóng góp từ nguồn thu nhà đất, đạt 8.296 tỷ đồng, tăng 103,1%; từ khu vực sản xuất kinh doanh ngoài Nhà nước, đạt 3.908 tỷ đồng, tăng 19,70%. Hoạt động xuất, nhập khẩu diễn ra sôi động, thu ngân sách đạt 3.622 tỷ đồng, tăng 10,67%.  Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 20/7/2025 đạt 55.725 tỷ đồng, tăng 43,80% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 23.670 tỷ đồng, tăng 48,09%; chi thường xuyên đạt 31.858 tỷ đồng, tăng 40,57%. 6. Thương mại, giá cả, vận tải Tỉnh Phú Thọ sau sáp nhập có vị trí chiến lược, kết nối đa chiều với các tỉnh lân cận và thành phố Hà Nội, đồng thời sở hữu tiềm năng du lịch lớn, đặc biệt là du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh và sinh thái. Các hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải diễn ra sôi động. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 7 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh ước đạt 112 nghìn tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước. a) Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7/2025 ước đạt 16.710,1 tỷ đồng, tăng 12,4% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ ước đạt 12.786,2 tỷ đồng, chiếm 76,5% tổng mức, tăng 12,8%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.659,3 tỷ đồng, chiếm 9,9% tổng mức, tăng 20,6%; doanh thu dịch vụ lữ hành và dịch vụ khác ước đạt 2.264,5 tỷ đồng, chiếm 13,6% tổng mức, tăng 4,9%. Doanh thu bán lẻ trong tháng tăng so với cùng kỳ ở hầu hết các nhóm hàng: Lương thực, thực phẩm ước đạt 3.373,9 tỷ đồng, tăng 7,7%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 2.642,8 tỷ đồng, tăng 13,4%; xăng, dầu các loại ước đạt 1.499,8 tỷ đồng, tăng 7,4%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.379,4 tỷ đồng, tăng 12,1%; hàng may mặc ước đạt 926,7 tỷ đồng, tăng 20,5%; ô tô các loại ước đạt 842,6 tỷ đồng, tăng 28,5%; phương tiện đi lại trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) ước đạt 751,7 tỷ đồng, tăng 4,1%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) ước đạt 469 tỷ đồng, tăng 26,2%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước đạt 314,5 tỷ đồng, tăng 9,3%; hàng hoá khác ước đạt 256,6 tỷ đồng, tăng 21,4%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm ước đạt 206,3 tỷ đồng, tăng 66,4%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục ước đạt 122,8 tỷ đồng, tăng 18,8%;... Tính chung 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 111.996,5 tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ ước đạt 85.761,9 tỷ đồng, chiếm 76,6% tổng mức, tăng 14,6%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 11.149 tỷ đồng, chiếm 10% tổng mức, tăng 19,4%; doanh thu dịch vụ lữ hành và dịch vụ khác ước đạt 15.085,6 tỷ đồng, chiếm 13,4% tổng mức, tăng 5,5%.  b) Chỉ số giá tiêu dùng Giá các mặt hàng xăng, dầu và giáo dục giảm là các nhân tố chính giúp kiềm chế chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn tỉnh. CPI tháng 7/2025 tăng 0,33% so với tháng trước, tăng 2,08% so với tháng 12 năm trước (sau 7 tháng) và tăng 2,85% so với tháng cùng kỳ (sau 12 tháng). Các nhóm hàng làm tăng CPI tháng 7/2025 so với tháng trước bao gồm: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,46% (tác động làm CPI tăng 0,23 điểm phần trăm, trong đó: Giá điện sinh hoạt tăng 4,57%; giá nước sinh hoạt tăng 0,53%; giá thuê nhà tăng 1,63%; vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,12%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,78% (đồ uống không cồn tăng 0,20%; rượu bia tăng 1,04%; thuốc hút tăng 0,61%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,43% (thực phẩm tăng 0,65%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,48%); hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,24%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,15%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%. Các nhóm khác: Giao thông giảm 0,58%; giáo dục giảm 0,12%; may mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,05%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%. So với tháng cùng kỳ, CPI tăng ở các nhóm hàng: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,6%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,16%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 3,38%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,67%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,27%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,04%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,68%; giáo dục tăng 0,81%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,52%. Chỉ số giá Vàng tháng 7/2025 so với tháng trước tăng 0,42%, giá bán bình quân trong tháng 11.035.833 đồng/chỉ. Chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 0,25% so với tháng trước, giá bán bình quân trong tháng 26.398,4 VNĐ/USD. CPI bình quân 7 tháng năm 2025 tăng 2,69% so với cùng kỳ, trong đó: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,51%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 6,2%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,52%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,98%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,4%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,44%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,12%; bưu chính viễn thông tăng 0,09%;… Các nhóm còn lại, giảm sâu so với cùng kỳ gồm: Giao thông giảm 3,82%; giáo dục giảm 3,01%;... c) Vận tải hàng hoá và hành khách Doanh thu vận tải tháng 7/2025 ước đạt 1.668,8 tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.165,6 tỷ đồng, tăng 2,3%; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 322,1 tỷ đồng, tăng 24,3%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 114,7 tỷ đồng, giảm 7,4%;... Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 10,1 triệu tấn, tăng 0,2% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 1.009,2 triệu tấn.km, giảm 0,1%. Số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 5,7 triệu lượt hành khách, tăng 13,3% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 349,1 triệu lượt hành khách.km, tăng 19,2%.          Tính chung 7 tháng, tổng doanh thu vận tải ước đạt 11.538,7 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 69,1 triệu tấn, tăng 6,2%; luân chuyển ước đạt 6.875,7 triệu tấn.km, tăng 4,9%. Số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 42,8 triệu lượt hành khách, tăng 13,1%; luân chuyển ước đạt 2.570,9 triệu lượt hành khách.km, tăng 18,5%. 7. Một số vấn đề xã hội a) Giáo dục và đào tạo[1] Trong tháng, ngành Giáo dục tập trung hoàn thành công tác tổ chức kỳ thi và chấm điểm Tốt nghiệp THPT năm 2025 đảm bảo an toàn, đúng quy chế. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, toàn tỉnh có có 44.972 học sinh dự thi (trong đó THPT công lập: 32.853; THPT tư thục: 4.291; GDTX: 7.828); điểm trung bình môn thi đạt 6,39, đứng thứ 5 toàn quốc (tỉnh Vĩnh Phúc cũ có điểm trung bình 7,31 duy trì đứng thứ 1; tỉnh Phú Thọ cũ có điểm trung bình 7,011 đứng thứ 3 tăng 5 bậc so với năm 2024; tỉnh Hòa Bình cũ có điểm trung bình 6,556 đứng thứ 30 tăng 7 bậc so với năm 2024). Tính theo các khối truyền thống cả nước có 9 thí sinh đạt tuyệt đối 30/30 điểm, trong đó Phú Thọ có 1 thí sinh Nguyễn Lê Hiền Mai, lớp 12 chuyên Hóa, Trường THPT Chuyên Hùng Vương. b) Hoạt động văn hóa, thể thao[2] Tháng 7/2025, các ngành chức năng đã phối hợp tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền cổ động kỷ niệm các ngày lễ lớn như: Kỷ niệm 65 năm ngày Du Lịch Việt Nam (09/7/1960 - 09/7/2025); ngày Dân số thế giới (11/7); ngày Thương binh liệt sỹ (27/7);... Nhân kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2025), nhiều hoạt động thiết thực đã diễn ra trên phạm vi toàn tỉnh. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành đã đến thăm, tặng quà các thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách, người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh với tổng giá trị trên 29 tỷ đồng; đồng thời tổ chức các đoàn đến dâng hoa, thắp hương tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại nghĩa trang liệt sĩ,… Đây là dịp để các thế hệ đi sau bày tỏ tình cảm, sự biết ơn sâu sắc trước những cống hiến, hy sinh của các liệt sĩ, thương, bệnh binh và các gia đình chính sách đối với sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước, đúng theo đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Thể thao thành tích cao tiếp tục được quan tâm, duy trì đào tạo tập trung cho 488 vận động viên (VĐV) của các môn thể thao (trong đó 169 VĐV đội tuyển tỉnh, 242 VĐV đội tuyển trẻ, 77 VĐV đội tuyển năng khiếu); tham gia thi đấu 8 giải thể thao quốc gia giành được 47 huy chương các loại, gồm: 20 Huy chương vàng, 14 Huy chương bạc và 13 Huy chương đồng; thi đấu 4 giải thể thao quốc tế, giành được 16 huy chương các loại, gồm 7 Huy chương vàng, 6 Huy chương bạc, 3 Huy chương đồng. c) Công tác y tế[3] Tính từ đầu năm đến hết tháng 6/2025, toàn tỉnh ghi nhận 367 ca mắc sởi dương tính, 153 ca mắc tay chân miệng, 23 ca mắc sốt xuất huyết. Để chủ động phòng chống các bệnh truyền nhiễm, ngành Y tế đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đồng thời tuyên truyền đến người dân cách phòng tránh các bệnh lây lan theo mùa. Tính đến hết tháng 6/2025 đã ghi nhận 1 vụ ngộ độc thực phẩm với 03 người mắc, không có trường hợp tử vong; số ca mắc ngộ độc thực phẩm lẻ tẻ là 10 người (xảy ra trên địa bàn tỉnh Hoà Bình cũ);... Các đoàn liên ngành đã kiểm tra 9.989 cơ sở, trong đó có 96,7% số cơ sở đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. d) Tình hình tai nạn giao thông Theo thống kê của Ban An toàn giao thông tỉnh, từ ngày 15/6/2025 đến ngày 14/7/2025 trên địa bàn tỉnh xảy ra 44 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm 28 người chết và 26 người bị thương. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 14/7/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 415 vụ tai nạn và va chạm giao thông làm 243 người chết (giảm 133 vụ so với cùng kỳ năm trước) và 292 người bị thương. Trong tháng, lực lượng Cảnh sát Giao thông - Công an tỉnh đã kiểm tra xử lý 9.372 trường hợp vi phạm Luật Giao thông đường bộ, xử phạt trên 16,3 tỷ đồng. e) Tình hình thiên tai Tháng 7/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 2 đợt mưa bão tại 72/148 xã. Thiên tai đã làm 1 người chết, 2 người bị thương; thiệt hại 193 ha lúa, 221 ha hoa màu; 282 ha cây lâm nghiệp bị hư hại; 3.260 con gia cầm và 2 con gia súc bị chết, cuốn trôi; 827 ngôi nhà bị hư hỏng và một số công trình công cộng bị thiệt hại;… Tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 48 tỷ đồng. f) Tình hình cháy nổ, vi phạm môi trường Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 26/6/2025 đến ngày 25/7/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 5 vụ cháy, thiệt hại ước tính 50,9 triệu đồng. Tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/7/2025, toàn tỉnh xảy ra 74 vụ cháy, 1 vụ nổ làm 3 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 3.908 triệu đồng. Vi phạm môi trường: Từ ngày 26/6/2025 đến ngày 25/7/2025, lực lượng Cảnh sát Môi trường - Công an tỉnh đã phát hiện và xử lý 38 vụ vi phạm môi trường, xử phạt 156,3 triệu đồng. Tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/7/2025, toàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 596 vụ vi phạm môi trường (giảm 380 vụ so với cùng kỳ) với tổng số tiền xử phạt trên 8,7 tỷ đồng (giảm trên 2,2 tỷ đồng so với cùng kỳ)./.

Thông cáo báo chí Tình hình Kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ (mới) 6 tháng đầu năm 2025
  •   04/07/2025 09:23

Sáu tháng đầu năm 2025, kinh tế thế giới cho thấy sự phục hồi chậm cùng nhiều rủi ro tiềm ẩn từ căng thẳng địa chính trị, xung đột thương mại và áp lực lạm phát kéo dài. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 đạt 2,9%, giảm nhẹ so với mức 3,3% của năm 2024. Trong bối cảnh đó, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực. Sản xuất công nghiệp phục hồi rõ rệt, thương mại nội địa ổn định, đồng thời xuất khẩu và đầu tư công tiếp tục được đẩy mạnh, trở thành động lực chính cho tăng trưởng. Cùng với đó, hệ thống chính trị đang tích cực triển khai cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Tỉnh Phú Thọ (mới) được hợp nhất từ ba tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Hòa Bình theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội, các cấp, các ngành và chính quyền địa phương đã chủ động triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo chỉ đạo của Trung ương và Chính phủ. Mặc dù đối mặt với không ít khó khăn, thách thức trong giai đoạn chuyển tiếp, nền kinh tế tỉnh vẫn duy trì ổn định, đạt nhiều kết quả tích cực trên hầu hết các lĩnh vực. Sản xuất nông nghiệp bảo đảm đúng khung thời vụ; công nghiệp tăng trưởng khá; hoạt động thương mại, dịch vụ đáp ứng tốt nhu cầu thị trường. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Kết quả cụ thể như sau:I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) Sáu tháng đầu năm 2025, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (mới) ước đạt 10,09%, đứng thứ 6/34 tỉnh mới sắp xếp. Trong đó tỉnh Phú Thọ cũ tăng 10,33%, đứng thứ 9/63 tỉnh, thành phố; tỉnh Vĩnh Phúc tăng 10,07% đứng thứ 10/63 tỉnh, thành phố và tỉnh Hòa Bình tăng 9,72%, đứng thứ 13/63 tỉnh, thành phố. Tốc độ tăng trưởng GRDP của cả 3 tỉnh đều cao hơn mục tiêu Chính phủ giao tại Nghị quyết số 25/NQ-CP.Đóng góp trong mức tăng trưởng GRDP tỉnh Phú Thọ (mới): Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì ổn định, ước tăng 3,26% so với cùng kỳ, đóng góp 0,39 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng vai trò động lực chính thúc đẩy kinh tế toàn vùng, ước tăng 15,32%, đóng góp 7,04 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tiếp tục phục hồi tăng 8,20%, đóng góp 2,30 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 2,54%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm. Quy mô GRDP theo giá hiện hành tỉnh Phú Thọ (mới) 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 186,4 nghìn tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế trong GRDP theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung phần lớn ở khu vực công nghiệp – xây dựng với tỷ lệ 46,58%, trong đó ngành công nghiệp chiếm 40,92% tổng GRDP, tiếp theo là khu vực dịch vụ chiếm 29,45%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 12,10% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 11,87% tổng GRDP chung toàn tỉnh. Xét theo cơ cấu đóng góp GRDP 6 tháng đầu năm 2025 từ các đơn vị hành chính cũ, tỉnh Vĩnh Phúc chiếm tỷ trọng cao nhất với 48,52%, tiếp đến là tỉnh Phú Thọ cũ với 31,40% và tỉnh Hòa Bình chiếm 20,08% GRDP toàn tỉnh mới.2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản2.1. Sản xuất nông nghiệpSản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, năng suất, sản lượng các cây trồng chính đạt khá. GTTT khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ước tăng 3,26%, đóng góp 0,39 điểm phần trăm tăng trưởng GRDP tỉnh mới. Trong đó, tỉnh Phú Thọ cũ tăng 3,12%; tỉnh Vĩnh Phúc tăng 2,48%; tỉnh Hòa Bình tăng 4,26%, tương ứng mức đóng góp lần lượt là 0,17; 0,08 và 0,14 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP chung. Kết quả cụ thể: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân toàn vùng đạt khoảng 132,3 nghìn ha, giảm 1,19% với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do một phần diện tích chuyển sang trồng cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày có hiệu quả kinh tế cao (Vĩnh Phúc đạt 51,6 nghìn ha, giảm 1,04% so với cùng kỳ; Phú Thọ cũ đạt 64,2 nghìn ha, giảm 1,6%; Hòa Bình đạt 16,5 nghìn ha, giảm 0,01%). Trong đó, diện tích gieo cấy lúa đạt khoảng 80,4 nghìn ha, giảm 0,46%, sản lượng toàn tỉnh ước đạt 498,3 nghìn tấn, năng suất bình quân đạt 61,97 tạ/ha. Các tỉnh cũ có sự đóng góp như sau: Phú Thọ gieo cấy 35,1 nghìn ha lúa, sản lượng đạt 219,3 nghìn tấn, năng suất 62,43 tạ/ha; Vĩnh Phúc gieo cấy 28,7 nghìn ha, sản lượng đạt 181,7 nghìn tấn, năng suất 63,16 tạ/ha; Hòa Bình gieo cấy 16,48 nghìn ha, sản lượng đạt 97,3 nghìn tấn, năng suất 59,06 tạ/ha. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn vật nuôi đạt mức cao, công tác kiểm soát dịch bệnh được thực hiện hiệu quả. Toàn tỉnh có khoảng 1,8 triệu con lợn, tăng 1,97% so với cùng kỳ; đàn gia cầm đạt 24,63 triệu con, tăng nhẹ 2,04%; riêng đàn trâu, bò khoảng 416,4 nghìn con, giảm 4,72%. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng toàn tỉnh đạt 244,4 nghìn tấn, tăng 2,92%, trong đó Phú Thọ cũ chiếm 114,3 nghìn tấn, Vĩnh Phúc đạt 71,2 nghìn tấn, Hòa Bình đạt 59,6 nghìn tấn.2.2. Lâm nghiệp Công tác trồng rừng được triển khai đúng kế hoạch với tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đạt 14,7 nghìn ha, tăng 3,24% Trong đó, Phú Thọ cũ đạt 8,2 nghìn ha (+0,42), Hòa Bình đạt 5,9 nghìn ha (+6,59%), Vĩnh Phúc đạt 529 ha (+12,58%). Tổng sản lượng gỗ khai thác toàn tỉnh đạt 752,7 nghìn m³, tăng 4,27%, chủ yếu từ Phú Thọ cũ (498 nghìn m³), Hòa Bình (231 nghìn m³), Vĩnh Phúc (23,7 nghìn m³). Sản lượng củi khai thác đạt 205,9 nghìn ster, trong đó Hòa Bình chiếm phần lớn với 137,1 nghìn ster. Tình hình cháy rừng trong 6 tháng đầu năm xảy ra 24 vụ, làm thiệt hại khoảng 71 ha rừng, tập trung tại Hòa Bình (9 vụ, 27,3 ha) và Vĩnh Phúc (8 vụ, 38,4 ha). Các địa phương đang tích cực triển khai các biện pháp phòng chống, hạn chế tối đa thiệt hại trong mùa hanh khô.2.3. Thủy sảnHoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục ổn định nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, nguồn nước đảm bảo và các chính sách hỗ trợ của tỉnh. Tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh đạt khoảng 39,2 nghìn tấn, tăng 3,78% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng nuôi trồng chiếm phần lớn, đặc biệt là tại Phú Thọ cũ đạt 21,8 nghìn tấn, Vĩnh Phúc đạt 12,2 nghìn tấn, và Hòa Bình đạt 5,2 nghìn tấn. Riêng Hòa Bình có mức tăng cao nhất 6,7%, chủ yếu nhờ mở rộng diện tích và áp dụng kỹ thuật nuôi mới hiệu quả hơn.3. Sản xuất công nghiệp và xây dựng Sáu tháng đầu năm 2025, khu vực công nghiệp – xây dựng tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột của kinh tế tỉnh Phú Thọ mới, chiếm tỷ trọng trên 46% GRDP. Ngành công nghiệp duy trì tăng trưởng mạnh, tốc độ tăng giá trị tăng thêm đạt 16,23%, đóng góp 6,41 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP chung. Trong đó, tỉnh Vĩnh Phúc đóng góp cao nhất (3,76 điểm), tiếp đến là Phú Thọ cũ (1,81 điểm) và Hòa Bình (0,84 điểm).3.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh tăng trưởng khả quan. Cụ thể, tỉnh Vĩnh Phúc ghi nhận mức tăng 18,98%, chủ yếu nhờ các ngành trọng điểm như linh kiện điện tử (+20,45%), ô tô (+14,41%), xe máy (+4,25%), sản phẩm kim loại (+39,14%) và vật liệu xây dựng (+17,85%). Tỉnh Phú Thọ cũ đạt mức tăng trưởng cao 45,45%), nhờ sự mở rộng sản xuất của một số ngành như chế biến gỗ, sản phẩm tre nứa (+155,45%), in và sao chép bản ghi (+126,27%), điện tử, máy tính, quang học (+68,22%), sản xuất da và các sản phẩm liên quan (+32,13%).Tỉnh Hòa Bình tăng 15,29%, trong đó khai khoáng tăng 29,46% nhờ nhu cầu đá xây dựng cao; sản xuất và phân phối điện tăng 21,16% (3.900 triệu kWh) nhờ thủy điện Hòa Bình; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,38%, tập trung vào các sản phẩm như gỗ, cao su - plastic, dệt may, giường tủ, bàn ghế.3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Các sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng trưởng ổn định. Tại Vĩnh Phúc, sản xuất linh kiện điện tử đạt doanh thu tăng mạnh (+20,94%) nhờ đáp ứng đơn hàng lớn từ Samsung, Apple; ô tô các loại tăng (+16,31%), gạch ốp lát tăng (+13,30%) nhờ chính sách kích cầu và sản phẩm mới. Tại Phú Thọ cũ, nhiều sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng mạnh, điển hình như máy tính xách tay (13 triệu chiếc, tăng +93,3%), giày thể thao (3,2 triệu đôi, tăng +32,1%), phân bón tăng 13,5% và xi măng 22,5%. Tại Hòa Bình, sản phẩm công nghiệp trọng điểm là điện sản xuất (3.900 triệu kWh, tăng 21,56%), sản phẩm từ gỗ, cao su - plastic, dệt may, giường tủ bàn ghế cũng ghi nhận mức tăng trưởng hai chữ số.3.3. Ngành xây dựng Hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng khá nhờ tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được đẩy nhanh và hoạt động xây dựng trong dân cư ổn định. Giá trị tăng thêm ngành xây dựng tăng 9,74%, đóng góp 0,63 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP chung toàn tỉnh. Các dự án trọng điểm được tập trung thực hiện, góp phần nâng cao năng lực kết cấu hạ tầng, tạo động lực thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới.4. Thương mại, dịch vụ Với tổng dân số (thực tế thường trú) hơn 3,7 triệu người sau khi hợp nhất, tỉnh mới trở thành một thị trường tiêu dùng nội địa lớn, có sức mua cao và đa dạng, là động lực để phát triển các hoạt động thương mại, logistics, bán lẻ, tài chính, du lịch và dịch vụ đời sống. Sáu tháng đầu năm 2025, khu vực dịch vụ ghi nhận mức tăng trưởng tốt với GTTT tăng 8,20%, đóng góp 2,30 điểm phần trăm vào GRDP toàn tỉnh. Các hoạt động du lịch, lưu trú, ăn uống phát triển tích cực nhờ dịp nghỉ lễ và sự phục hồi của thị trường trong nước.4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 94.150 tỷ đồng, tăng 14,47% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn nhất với 73.216 tỷ đồng (tăng 15,31%). Xét theo địa phương, tỉnh Vĩnh Phúc đạt cao nhất với 34.908 tỷ đồng (tăng 14,34%), tiếp theo là tỉnh Phú Thọ cũ với 25.519 tỷ đồng (tăng 11,05%) và tỉnh Hòa Bình đạt 12.789 tỷ đồng (tăng 28,10%).Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống toàn tỉnh đạt khoảng 9.497 tỷ đồng (tăng 19,32%), chủ yếu nhờ các hoạt động du lịch nội địa phục hồi mạnh trong các dịp nghỉ lễ. Trong đó, Vĩnh Phúc đạt 3.816 tỷ đồng (tăng 21,59%), Phú Thọ cũ đạt 3.295 tỷ đồng (tăng 13,19%), Hòa Bình đạt 2.387 tỷ đồng (tăng 24,96%).Doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 378 tỷ đồng, tăng 10,66%, trong đó Phú Thọ cũ (170 tỷ đồng), Vĩnh Phúc (208 tỷ đồng).Các dịch vụ khác đạt 11.060 tỷ đồng, tăng 5,78%. Trong đó, Vĩnh Phúc đạt 5.105 tỷ đồng (tăng 16,01%), Phú Thọ cũ đạt 2.649 tỷ đồng (tăng 21,17%), riêng Hòa Bình giảm 14,57%, còn 3.305 tỷ đồng.4.2. Vận tải Hoạt động vận tải trên địa bàn toàn tỉnh tăng trưởng khá nhờ sự phục hồi mạnh về nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa. Tổng doanh thu vận tải toàn tỉnh đạt 9.883 tỷ đồng, tăng 12,77%. Trong đó, Vĩnh Phúc đạt 4.512 tỷ đồng (tăng 11,19%), Phú Thọ cũ đạt 4.195 tỷ đồng (tăng 12,84%), Hòa Bình đạt1.176 tỷ đồng (tăng 18,98%). Phân theo loại hình, vận tải hành khách đạt doanh thu 1.987 tỷ đồng (tăng 23,19%), vận tải hàng hóa đạt 6.844 tỷ đồng (tăng 8,59%). Hoạt động kho bãi, bưu chính và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt doanh thu 1.043 tỷ đồng, tăng trưởng mạnh nhất (tăng 24,12%), phản ánh sự sôi động trong giao thương nội địa và liên vùng của tỉnh trong thời gian qua.II.  CÁC CHỈ TIÊU ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ1. Thu, chi ngân sách nhà nước Tổng thu NSNN trên địa bàn tỉnh đạt gần 31,7 nghìn tỷ đồng, tương đương tỷ lệ 78% dự toán (Trong đó, tỉnh Vĩnh Phúc cũ đạt trên 19 nghìn tỷ đồng- 70% dự toán, tỉnh Phú Thọ cũ đạt trên 8,5 nghìn tỷ đồng - 109% dự toán, tỉnh Hòa Bình cũ đạt trên 4,1 nghìn tỷ đồng- 74% dự toán).2. Hoạt động ngân hàngHoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (mới) 6 tháng đầu năm 2025 diễn ra ổn định, huy động vốn và cho vay tiếp tục tăng trưởng, mặt bằng lãi suất giảm nhẹ, nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp.Tại Phú Thọ cũ, tổng nguồn vốn huy động đến 30/6/2025 đạt 110.120 tỷ đồng, tăng 10,% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ cho vay đạt 127.464 tỷ đồng, tăng 10,3%, trong đó dư nợ ngắn hạn chiếm hơn 64%. Tỷ lệ nợ xấu chiếm 0,82% tổng dư nợ.Tại Vĩnh Phúc, tổng nguồn vốn huy động ước đạt 149.667 tỷ đồng (+6,80%), trong đó tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng lớn. Tổng dư nợ cho vay đạt154.593 tỷ đồng (+7,60%), chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn và tập trung vào khu vực hộ gia đình, tư nhân. Tỷ lệ nợ xấu ước chiếm 0,48%.Tại Hòa Bình, các tổ chức tín dụng chú trọng triển khai tín dụng theo hướng ưu tiên, kiểm soát chất lượng khoản vay. Tổng vốn huy động đạt 47.594 tỷ đồng (+4,4%), dư nợ cho vay đạt 41.804 tỷ đồng (+5,3%) và nợ xấu ở mức thấp, dưới 2% tổng dư nợ.3. Vốn đầu tư toàn xã hội Trong 6 tháng đầu năm 2025, hoạt động đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ mới ghi nhận kết quả tích cực, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 62.893 tỷ đồng, tăng 14,33% so với cùng kỳ. Cơ cấu nguồn vốn tập trung vào các dự án hạ tầng giao thông, phát triển đô thị, công nghiệp và khu dân cư. Vốn khu vực ngoài nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chiếm 52,82% tổng vốn, ước đạt 33.221 tỷ đồng, tăng 11,86%; tiếp theo là vốn khu vực Nhà nước đạt 14.888 tỷ đồng (chiếm 23,67%), tăng 14,29% và vốn khu vực đầu tư nước ngoài (chiếm 23,51%) đạt 14.784 tỷ đồng, tăng 20,34% so với cùng kỳ năm trước. Tại Vĩnh Phúc, tổng vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm ước đạt24.038 tỷ đồng, tăng 12,05% so với cùng kỳ. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước ước đạt 4.612 tỷ đồng, tăng 10,54%, tập trung cho các công trình giao thông liên kết vùng, y tế, giáo dục và nông thôn mới; vốn ngoài Nhà nước đạt 11.158 tỷ đồng, tăng 13,35%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 8.268 tỷ đồng, tăng 11,17%, với nhiều dự án quy mô lớn được triển khai như Nitori, UTI Vina, Golden Bloom Vina…Tại Phú Thọ cũ, tổng vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng ước đạt 24.608 tỷ đồng, tăng 14,03%. Trong đó: vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước đạt 5.401 tỷ đồng, tăng 25,82%; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 14.356 tỷ đồng, tăng 10,86%; vốn FDI đạt 4.850 tỷ đồng, tăng 11,83%. Nhiều công trình lớn được triển khai như nhà máy điện tử BYD, khu đô thị Phú Lợi, VIC Grand Square, đường dây 500kV Lào Cai – Vĩnh Yên…Tại Hòa Bình, vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm ước đạt 14.247 tỷ đồng, tăng 18,96%. Trong đó: vốn khu vực nhà nước đạt 4.875 tỷ đồng (+6,87%), vốn ngoài Nhà nước đạt 7.706 tỷ đồng (+11,62%), vốn FDI đạt 1.666 tỷ đồng, gấp hơn 3 lần so với cùng kỳ. Các dự án lớn đang triển khai gồm: Hồ chứa nước Cánh Tạng, cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu, các khu đô thị mới và nhà máy điện tử.4. Thu hút đầu tư Môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện, 6 tháng đầu năm tỉnh đã thu hút đạt hơn 469 triệu USD vốn đầu tư FDI đăng ký (trong đó Phú Thọ cũ 56 triệu USD, Vĩnh Phúc 410 triệu USD và Hòa Bình 2,7 triệu USD) và 43.198 tỷ đồng vốn DDI (Phú Thọ cũ 1.192 tỷ đồng; Vĩnh Phúc gần 4.000 tỷ đồng; Hòa Bình 38.006 tỷ đồng1).5. Phát triển doanh nghiệpMôi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện rõ nét, nhất là tại các khu, cụm công nghiệp mới thành lập sau sáp nhập, các trung tâm dịch vụ hành chính công đã được đồng bộ hóa thủ tục, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin và pháp lý đầu tư. Trong nửa đầu năm 2025, có 1.878 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký hơn 17,4 nghìn tỷ đồng và có 818 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sản xuất, điều này cho thấy những tín hiệu rất lạc quan, doanh nghiệp đã vượt qua khó khăn, tích cực tìm kiếm khách hàng, thị trường mới.6. Chỉ số giá Mặt bằng giá tiêu dùng toàn tỉnh Phú Thọ (mới) 6 tháng đầu năm 2025 được giữ ổn định, phản ánh hiệu quả của công tác điều hành giá, kiểm soát lạm phát và bình ổn thị trường của các địa phương.Tại Vĩnh Phúc, CPI bình quân tăng 2,40% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, giao thông, và giáo dục là những nhóm có mức tăng cao, trong khi một số nhóm như bưu chính viễn thông và nhà ở có mức biến động thấp.Tại Phú Thọ cũ, CPI bình quân tăng 3,33%, tập trung chủ yếu vào các nhóm: thực phẩm, dịch vụ giáo dục và giao thông do giá lương thực, học phí vàIII.  MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động việc làm Trong 6 tháng đầu năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Phú Thọ (mới) - đạt khoảng 1,86 triệu người, trong đó tổng số lao động có việc làm là 1,83 triệu, chiếm tỷ lệ 98,74% so với tổng lực lượng lao động (chiếm trên 50% dân số toàn tỉnh mới). Cụ thể: Vĩnh Phúc có 604,46 nghìn lao động, chiếm 98,27% lực lượng lao động; Phú Thọ (cũ) có 721,2 nghìn lao động, chiếm 99,1%; Hòa Bình có 507,5 nghìn lao động, chiếm 98,8%.Giải quyết việc làm: Trong 6 tháng đầu năm 2025, tỉnh Phú Thọ (mới) đã giải quyết việc làm cho 31.054 người trong nước, đồng thời tổ chức 2.264 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Cụ thể: Vĩnh Phúc: Giải quyết việc làm cho 14.062 người trong nước và đưa 334 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Phú Thọ cũ: Hỗ trợ tìm việc thành công cho 6.228 người trong tỉnh và đưa 1.500 lao động sang làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng. Hòa Bình: Giúp 10.764 lao động ổn định việc làm tại địa phương và tuyển chọn 430 người đi làm việc ở nước ngoài.2. Tai nạn giao thông, phòng chống cháy nổTình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/6/2025, toàn tỉnh xảy ra 354 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 209 người chết; số người bị thương 251 người.Tình hình cháy, nổ: Toàn tỉnh xảy ra 75 vụ cháy, 03 người bị thương, ước thiệt hại 4,8 tỷ đồng.3. Tình hình thiên taiTrong 6 tháng đầu năm 2025, thiên tai trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (mới) diễn biến phức tạp, chủ yếu là các đợt mưa lớn, giông sét, lốc xoáy, gây thiệt hại về người, tài sản và sản xuất nông nghiệp tại nhiều địa phương.Tại Phú Thọ cũ, xảy ra 4 đợt mưa lớn trên diện rộng, gây thiệt hại về người (2 người chết), 11,8 ha lúa, 0,7 ha mạ, 45,3 ha ngô, 55,5 ha diện tích rừng, 43 nhà dân bị tốc mái, hư hỏng. Ước tính thiệt hại khoảng 2,9 tỷ đồng. Tại Hòa Bình, thiên tai chủ yếu xảy ra trong tháng 6 dưới hình thức mưa giông, mưa đá kèm gió mạnh, tập trung tại các huyện Mai Châu, Đà Bắc, Kim Bôi, Tân Lạc... Gây thiệt hại 2 người chết, 209 nhà dân ảnh hưởng (01 nhà bị cháy do sét đánh), 56,7 ha cây trồng, 10 con gia súc bị chết và 01 xe ô tô hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại ước khoảng 630,7 triệu đồng.Tại Vĩnh Phúc, xảy ra 01 trận mưa giông kèm sét vào ngày 23/5/2025 tại huyện Yên Lạc khiến 01 người tử vong. Chính quyền địa phương đã kịp thời thăm hỏi, động viên gia đình nạn nhân./.

Báo cáo tình hình Kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2025
  •   03/06/2025 08:18

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ1.    Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Trong tháng 5/2025, các địa phương tiếp tục thực hiện chăm sóc lúa và các loại cây trồng vụ Xuân; công tác phòng, trừ sâu bệnh được quan tâm thực hiện, cây trồng sinh trưởng và phát triển ổn định. Tổng diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân ước đạt 51.637,4 ha, giảm 1,04% so với cùng kỳ. b. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi tháng 5/2025 cơ bản ổn định; tổng đàn giảm nhẹ nhưng sản lượng thịt hơi và trứng gia cầm tiếp tục tăng. Ước tính đến cuối tháng 5/2025: Đàn lợn giảm 0,52%; đàn gia cầm giảm 0,94%; đàn trâu, bò toàn tỉnh giảm 11,47% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 11.394 tấn, tăng 1,52% so cùng kỳ (trong đó thịt lợn tăng 2,45%; thịt gia cầm giảm 0,26%); trứng gia cầm đạt 67,5 triệu quả, tăng 4,90%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2025, tổng sản lượng thịt hơi đạt 60.383 tấn, tăng 2,19%; trứng gia cầm đạt 355,9 triệu quả, tăng 4,16% so cùng kỳ. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Tháng 5/2025, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 111,0 ha tăng 4,72% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm đạt 485,0 ha tăng 11,26%. Sản lượng gỗ khai thác tháng 5 đạt 3.827,6 m3 tăng 3,45%; lũy kế 5 tháng đạt 19.989,4 m3 tăng 3,30% với cùng kỳ. Công tác quản lý, bảo vệ rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng được tăng cường, thực hiện chủ động và triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các giải pháp về phòng cháy, chữa cháy rừng. Trong tháng 5/2025 không xảy ra cháy rừng. 1.3. Sản xuất thuỷ sản Sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh trong tháng ổn định; các cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất thủy sản tiếp tục được thực hiện và phát huy hiệu quả. Tổng sản lượng thủy sản tháng 5/2025 ước đạt 2.250,9 tấn tăng 3,19% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2025, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 10.268,8 tấn tăng 3,25% so với cùng kỳ. 2. Sản xuất công nghiệpTháng 5/2025, sản xuất công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục xu hướng phát triển tích cực. So với tháng trước: Ngành khai khoáng tăng 2,0%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,20%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 8,54%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,89%.So với cùng kỳ: Ngành khai khoáng giảm 15,0%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 5,87%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 21,12%.Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 5/2025, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 1,47% so với tháng trước và tăng 14,44% so với cùng kỳ.  Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 5/2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho tăng 0,20% so với tháng trước và giảm 14,43% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp 3.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nướcTháng 5/2025, công tác giải ngân vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tiếp tục được các cấp, ngành và địa phương tập trung triển khai, đạt nhiều kết quả tích cực, tác động lan toả tới sự hồi phục, phát triển của các lĩnh vực khác trong nền kinh tế của tỉnh. Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng ước đạt 752,86 tỷ đồng, tăng 1,02% so với tháng trước và tăng 8,72% so với cùng kỳ.  3.2. Thu hút đầu tư trực tiếpTháng 5/2025, kết quả thu hút đầu tư có sự cải thiện rõ rệt, tăng cao nhất kể từ đầu năm, đặc biệt ở khu vực DDI. Trong tháng, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký cho 12 dự án DDI với tổng vốn đăng ký 2.361,4 tỷ đồng. So với tháng trước, tăng 50% về số dự án và tăng 69,21% về vốn đăng ký. So với cùng kỳ, tăng gấp 2 lần về số dự án và tăng gấp 8 lần về vốn đăng ký.  Lũy kế tính đến ngày 15/5/2025, có 28 dự án (11 dự án cấp mới và 17 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký 4.202,7 tỷ đồng, tăng 33,33% về số dự án và tăng 76,54% về vốn đăng ký, vượt 40,09% kế hoạch đầu năm (3.000 tỷ đồng). Khu vực FDI, tính đến ngày 15/5/2025, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận cho 40 dự án (18 dự án cấp mới và 22 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký 218,3 triệu USD, giảm 47,28% so với cùng kỳ.  3.3. Tình hình đăng ký doanh nghiệpTình hình đăng ký doanh nghiệp trong 5 tháng đầu năm 2025 có nhiều tín hiệu tích cực với số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng khá. Tính đến ngày 20/5/2025, toàn tỉnh có 693 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 4.206 tỷ đồng, tăng 21,37% về số doanh nghiệp và giảm 24,43% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; dự kiến tạo thêm việc làm cho 5.529 lao động.  Lũy kế 5 tháng đầu năm, số lượng doanh nghiệp tham gia quay trở lại thị trường là 248 doanh nghiệp, tăng 23,38% so với cùng kỳ; nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động lên 941 doanh nghiệp, tăng 21,89% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giải thể vẫn có chiều hướng gia tăng với 949 doanh nghiệp, tăng 29,82% so với cùng kỳ; để duy trì đà tăng trưởng, tỉnh cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó khăn. 4. Thương mại, dịch vụ  Tháng 5/2025, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ sự ổn định của thị trường hàng hóa và nhu cầu sử dụng dịch vụ gia tăng trong dịp các kỳ nghỉ lễ dài ngày. Các khu du lịch, nghỉ dưỡng trên địa bàn được tăng cường quảng bá; chất lượng phục vụ tại các nhà hàng, khách sạn ngày càng nâng cao, đáp ứng tốt nhu cầu du khách. Doanh thu các ngành thương mại, dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống 5 tháng đầu năm tăng khá so với cùng kỳ. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùngTháng 5/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.508,3 tỷ đồng, tăng 1,83% so với tháng trước và tăng 15,81% so với cùng kỳ. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2025, tổng mức ước đạt 35.898,9 tỷ đồng, tăng 13,75%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 5/2025 ước đạt 5.943,7 tỷ đồng, tăng 1,73% so với tháng trước và tăng 14,82% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 28.435,8 tỷ đồng, tăng 12,55% so với cùng kỳ.Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 5/2025 ước đạt 687,6 tỷ đồng, tăng 2,26% so với tháng trước và tăng 24,28% so với cùng kỳ, nhờ nhu cầu vui chơi, ẩm thực tăng cao trong kỳ nghỉ lễ và các sự kiện văn hóa, thể thao lớn trong tháng. Lũy kế 5 tháng, doanh thu đạt 3.232,7 tỷ đồng, tăng 21,96% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành lưu trú tăng 22,40%; ngành dịch vụ ăn uống tăng 23,03%; ngành lữ hành giảm 4,01%. 4.2. Hoạt động vận tải Tháng 5/2025, hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục ổn định và phát triển, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa tăng cao trong dịp nghỉ lễ dài ngày và các hoạt động văn hóa, giải trí diễn ra tại địa phương. Doanh thu toàn ngành vận tải, kho bãi ước đạt 774,5 tỷ đồng, tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 12,52% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 158,6 tỷ đồng, giảm 7,03% so với tháng trước nhưng tăng 33,24% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển được 3,45 triệu lượt hành khách, khối lượng luân chuyển đạt 201,92 triệu hành khách.km. Vận tải hành khách đường bộ chiếm chủ yếu với doanh thu 158,5 tỷ đồng, vận chuyển 3,43 triệu lượt hành khách. Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 523,5 tỷ đồng, tăng 4,00% so với tháng trước và tăng 6,42% so với cùng kỳ. Khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 4,77 triệu tấn, khối lượng luân chuyển đạt 477,7 triệu tấn.km. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát duy trì tăng trưởng ổn định với doanh thu ước đạt 92,4 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 19,42% so với cùng kỳ. Sự phát triển của thương mại điện tử và nhu cầu vận chuyển, hậu cần từ các doanh nghiệp tiếp tục là động lực thúc đẩy tăng trưởng lĩnh vực này trong thời gian tới. 5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 5.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định và phát triển. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước tính đến 20/5/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 13,95 nghìn tỷ đồng, tăng 6,04% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 11,91 nghìn tỷ đồng, tăng 3,99%, tăng đều cả 3 khu vực: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 7,93 nghìn tỷ đồng, tăng 2,60%; thu từ doanh nghiệp ngoài Nhà nước 1,23 nghìn tỷ đồng, tăng 19,30%; doanh nghiệp Nhà nước tăng 27,12% (đạt 119,08 tỷ đồng). Hoạt động xuất, nhập khẩu gia tăng, đóng góp vào nguồn thu hải quan của tỉnh với 2,02 nghìn tỷ đồng, tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 20/5/2025 đạt 10,71 nghìn tỷ đồng, giảm 2,01% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển (bao gồm cả tạm ứng) đạt 4,88 nghìn tỷ đồng, giảm 21,25%, chi thường xuyên đạt 5,73 nghìn tỷ đồng, tăng 22,66%. 5.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng Tổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 31/5/2025 đạt 146.648 tỷ đồng; tăng 4,65% so với cuối năm 2024. Chủ yếu huy động từ nguồn tiền gửi dân cư, ước đạt 100.743 tỷ đồng, tăng 9,68%, bù đắp cho sự thiếu hụt từ tiền gửi của các tổ chức kinh tế (ước đạt 45.905 tỷ đồng, giảm 4,92%) do doanh nghiệp tập trung vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, một số doanh nghiệp nước ngoài chuyển lợi nhuận về nước nên không có nguồn tiền nhàn rỗi. Tổng dư nợ cho vay dự kiến tại thời điểm 31/5/2025 đạt 153.162 tỷ đồng, tăng 6,60% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, ước đạt 114.723 tỷ đồng, tăng 7,53% so với cuối năm 2024, chiếm 74,90% tổng dư nợ. Cơ cấu dư nợ tập trung vào các hoạt động sản xuất, dịch vụ và đầu tư phát triển, trong đó dư nợ khu vực hộ gia đình, tư nhân, cá thể chiếm 61,19% tổng dư nợ và dư nợ khu vực doanh nghiệp chiếm 38,81% tổng dư nợ. Nợ xấu ước tại thời điểm 31/5/2025 chiếm tỷ lệ 0,87% trên tổng dư nợ. 6. Chỉ số giá Tháng 5/2025, giá lương, thực phẩm giảm, giá xăng, dầu bình quân giảm theo giá nhiên liệu thế giới là những nguyên nhân chính khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn giảm 0,08% so với tháng trước; tuy nhiên, so với cùng kỳ, CPI tháng Năm vẫn tăng 2,85%. Bình quân năm tháng đầu năm 2025, CPI tăng 2,32% so với bình quân cùng kỳ.So với tháng trước: CPI tháng 5/2025 giảm 0,08% (khu vực thành thị tăng 0,01%; khu vực nông thôn giảm 0,12%); trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 04 nhóm giảm giá; 06 nhóm tăng giá và 01 nhóm ổn định.  Bình quân 5 tháng đầu năm 2025, CPI tăng 2,32% so với cùng kỳ. Các yếu tố làm tăng CPI chủ yếu đến từ nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,16% do tỉnh áp dụng giá dịch vụ y tế mới; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,86% do giá trang sức tăng mạnh theo giá vàng, đồng thời mức đóng BHYT điều chỉnh theo lương tối thiểu; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,91% do giá điện sinh hoạt và chi phí thuê nhà tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,81%; nhóm thực phẩm tăng 3,32%; nhóm đồ uống và thuốc lá và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch lần lượt tăng 1,31% và 0,73%. Ở chiều ngược lại, một số yếu tố góp phần làm giảm CPI, trong đó đáng kể nhất là nhóm giáo dục giảm 9,54% do thực hiện chính sách hỗ trợ học phí theo Nghị quyết của HĐND tỉnh; nhóm giao thông giảm 3,39% do giá xăng dầu trong nước liên tục được điều chỉnh giảm; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,86% do thị trường triển khai nhiều chương trình giảm giá để kích cầu tiêu dùng. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 5/2025, chỉ số giá vàng tăng 6,70% so với tháng trước, tăng 44,05% so với cùng kỳ, bình quân 5 tháng đầu năm tăng 36,72% so với cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2025 tăng 0,42% so với tháng trước, tăng 2,93% so cùng kỳ, bình quân 5 tháng đầu năm tăng 3,63% so cùng kỳ. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, giải quyết việc làm Tháng 5/2025, thị trường lao động có chuyển biến tích cực, số lao động thôi việc, mất việc trong kỳ giảm, trong khi công tác giải quyết việc làm đạt kết quả khả quan, góp phần ổn định thị trường lao động. Tính từ ngày 15/4 đến 14/5/2025, số lao động thôi việc, mất việc trên địa bàn tỉnh là 1.712 người, giảm 29,92% so với tháng trước và giảm 8,25% so với cùng kỳ. Trong kỳ không có doanh nghiệp nào cho lao động nghỉ giãn việc. Lũy kế đến ngày 15/5/2025, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 12.636 lao động, tăng 46,98% so cùng kỳ, trong đó: giải quyết 2.252 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 5.647 việc làm trong khu vực công nghiệp; 4.438 việc làm khu vực dịch vụ; 299 người đi xuất khẩu lao động. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2025 tăng 3,23% so với tháng trước và tăng 5,37% so với cùng kỳ. 2. Hoạt động văn hóa, thể thao Trong tháng 5/2025, các hoạt động văn hóa, thể thao trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc diễn ra sôi nổi, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong Nhân dân. Lĩnh vực văn hóa tiếp tục được quan tâm tổ chức với nhiều hoạt động ý nghĩa kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước như: 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều chương trình văn nghệ được tổ chức tại các địa phương với nội dung ca ngợi Đảng, Bác Hồ và tình yêu quê hương, đất nước, thu hút đông đảo người dân tham gia và cổ vũ. Đặc biệt, Festival Khinh khí cầu Vĩnh Phúc 2025 với chủ đề “Vĩnh Phúc bay lên cùng đất nước” được tổ chức tại Quảng trường Hồ Chí Minh – TP. Vĩnh Yên đã tạo điểm nhấn nổi bật trong chuỗi hoạt động văn hóa tháng 5. Festival diễn ra trong 5 ngày với nhiều hoạt động phong phú như trưng bày sản phẩm OCOP, trình diễn nghệ thuật đường phố, Carnaval và bay khinh khí cầu phục vụ du khách. Trong lĩnh vực thể thao, nhiều giải đấu phong trào được tổ chức rộng khắp ở cơ sở với các môn như bóng chuyền hơi, bóng bàn, kéo co,… chào mừng các ngày lễ lớn, thu hút đông đảo người dân tham gia. Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh tiếp tục duy trì tập luyện cho 11 đội tuyển. Trong tháng, Vĩnh Phúc tham gia 2 giải thể thao, giành tổng cộng 4 huy chương, gồm 1 vàng, 2 bạc và 1 đồng. 3. Y tế Tình hình dịch bệnh: Do thời tiết chuyển mùa, diễn biến khí hậu thất thường làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là các bệnh lây qua đường hô hấp. Ngành y tế đã chủ động tăng cường giám sát dịch tễ tại các cơ sở y tế, trường học, doanh nghiệp và cộng đồng nhằm phát hiện sớm các ca bệnh, kịp thời cách ly, điều trị và hạn chế lây lan. Trong tháng, ghi nhận một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh tay chân miệng 13 ca (giảm 15 ca), cúm 333 ca (giảm 109 ca), sởi 170 ca (tăng 92 ca), thủy đậu 32 ca (tăng 9 ca). Các trường hợp mắc bệnh đều được theo dõi và điều trị kịp thời tại cơ sở y tế. Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm: Sở Y tế đã phối hợp tổ chức phát động Tháng hành động vì An toàn thực phẩm năm 2025 với chủ đề tập trung vào bếp ăn tập thể, dịch vụ ăn uống và thức ăn đường phố. Hoạt động này nhằm tuyên truyền nâng cao ý thức, thay đổi hành vi trong chế biến và sử dụng thực phẩm vì sức khỏe cộng đồng. Trong tháng, không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra trên địa bàn tỉnh. 4. Giáo dục và đào tạo Trong tháng 5/2025, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc tập trung hoàn thành chương trình năm học 2024–2025 và chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 cũng như kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia. Tính đến 15h ngày 20/5, toàn tỉnh ghi nhận 18.775 thí sinh đăng ký dự thi vào lớp 10, vượt 21,36% so với tổng chỉ tiêu 15.470 học sinh, cho thấy tỷ lệ cạnh tranh cao trong kỳ tuyển sinh năm nay. Sở Giáo dục và Đào tạo đã triển khai các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định số 93/2025/NĐ-CP của Chính phủ, nhằm đảm bảo các cơ sở giáo dục thực hiện đúng quy định và nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục. Sở cũng ban hành hướng dẫn về kinh phí tuyển sinh cho các cấp học, đảm bảo quá trình tuyển sinh diễn ra minh bạch và đúng quy định. 5. Tình hình an ninh, trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 54 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (tăng 12 vụ so với tháng trước) làm 01 người chết, 16 người bị thương, thiệt hại tài sản 11,2 tỷ đồng, đã điều tra làm rõ 50/54 vụ (đạt 92,6%), bắt giữ 99 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 733,5 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/5/2025, toàn tỉnh xảy ra 118 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 70 người chết và 105 người bị thương (so với cùng kỳ giảm 9 vụ, tăng 15 người chết, tăng 02 người bị thương). Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/5/2025, toàn tỉnh xảy ra 27 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người. Số tiền thiệt hại khoảng 102,2 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ cháy, nổ giảm 43 vụ, giá trị thiệt hại giảm 329,4 triệu đồng.  Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến 15/5/2025, toàn tỉnh phát hiện 102 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 99 vụ với số tiền xử phạt là 1.050,5 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ vi phạm giảm 319 vụ, số vụ xử phạt giảm 262 vụ, số tiền xử phạt giảm 2.753 triệu đồng./.

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2025
  •   05/05/2025 08:32

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Tháng 4/2025, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định. Các địa phương hoàn thành gieo trồng vụ Xuân đúng khung thời vụ, đảm bảo điều kiện sinh trưởng cho cây trồng. Sản xuất chăn nuôi tiếp tục phát triển tích cực nhờ giá bán sản phẩm ổn định và công tác phòng, chống dịch bệnh được thực hiện hiệu quả, không phát sinh dịch bệnh nguy hiểm. Lĩnh vực lâm nghiệp và thủy sản duy trì tăng trưởng ổn định, sản lượng khai thác và nuôi trồng tăng so với cùng kỳ, góp phần đảm bảo nguồn cung cho thị trường. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Tính đến 20/4/2025, các địa phương trong tỉnh đã gieo trồng xong các loại cây trồng vụ xuân theo đúng khung thời vụ. Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 36.950,0 ha, đạt 99,33% kế hoạch và giảm 1,07% so với cùng kỳ. b. Chăn nuôi Tháng 4/2025, thời tiết bắt đầu vào thời kỳ nắng nóng, nên công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh, tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm đã được tăng cường trên địa bàn. Ước tính đến cuối tháng 4/2025, đàn trâu, bò toàn tỉnh giảm 11,76% so với cùng kỳ, riêng đàn bò sữa ổn định và tăng nhẹ. Đàn lợn tăng 2,62% nhờ giá bán sản phẩm duy trì ở mức cao; chăn nuôi gia cầm có dấu hiệu phục hồi, tổng đàn tăng 1,55% khi giá sản phẩm ổn định hơn so với tháng trước. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng ước đạt 10.818,4 tấn, tăng 2,35% so cùng kỳ (trong đó thịt lợn tăng 3,22%; thịt gia cầm tăng 0,81%); trứng gia cầm đạt 67,3 triệu quả, tăng 3,94%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, tổng sản lượng thịt hơi đạt 48.875,8 tấn, tăng 2,11%; trứng gia cầm đạt 288,4 triệu quả, tăng 3,97% so cùng kỳ. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Tháng 4/2025, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 165,2 ha, tăng 0,98% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm đạt 374,0 ha, tăng 13,37%. Sản lượng gỗ khai thác tháng 4 đạt 4.385,0 m³, tăng 4,68%; cộng dồn 4 tháng đạt 16.011,8 m³, tăng 3,27% so với cùng kỳ.  1.3. Sản xuất thuỷ sản Sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh trong tháng ổn định; các cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất thủy sản tiếp tục được thực hiện và phát huy hiệu quả. Tổng sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.912,9 tấn, tăng 3,52% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng cá đạt 1.910,0 tấn (tăng 3,54%). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2025, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 7.440,9 tấn, tăng 3,54% so với cùng kỳ, chủ yếu tăng từ nuôi cá. 2. Sản xuất công nghiệp Tháng 4/2025, sản xuất công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực mặc dù chịu tác động từ chính sách thương mại quốc tế[1]. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tăng 6,15% so với tháng trước và tăng 14,39% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, ước tính IIP tăng 13,36%, cao hơn mức tăng 9,13% cùng kỳ năm 2024. - So với cùng kỳ: Ngành khai khoáng giảm 41,89%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,45%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 7,03%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,39%. Chỉ số sản xuất các ngành công nghiệp chủ lực tháng 4/2025 và 4 tháng đầu năm so với cùng kỳ cụ thể như sau: Ngành sản xuất linh kiện điện tử tăng mạnh nhờ đa dạng hóa thị trường và nhiều dự án mới vào hoạt động (tháng 4/2025 tăng 27,37%, lũy kế 4 tháng đầu năm tăng 15,30%); ngành sản xuất ô tô duy trì ổn định nhờ sức mua cải thiện (giảm 0,27% trong tháng 4 và tăng 16,28% trong 4 tháng đầu năm); ngành sản xuất xe máy gặp khó khăn do cầu tiêu dùng yếu và cạnh tranh từ xe điện nên sản xuất giảm (giảm 19,52% trong tháng 4 và tăng 0,06% trong 4 tháng); ngành sản xuất gạch chịu tác động từ thị trường bất động sản trầm lắng và cạnh tranh sản phẩm nhập khẩu (giảm 10,00% trong tháng 4 và tăng 2,66% trong 4 tháng); ngành sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng mạnh nhờ duy trì đơn hàng xuất khẩu và cải tiến công nghệ (tăng 18,46% trong tháng 4 và tăng 34,12% trong 4 tháng đầu năm). Sản phẩm sản xuất chủ yếu: Tháng 4/2025, ngoài gạch ốp lát và xe máy các loại có sản lượng giảm so với cùng kỳ năm trước, các sản phẩm chủ yếu còn lại đều có sản lượng tăng. Tính chung 4 tháng đầu năm, ước tính sản lượng sản xuất của một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh như thức ăn gia súc, giày thể thao, gạch ốp lát, doanh thu linh kiện điện tử, xe ô tô các loại đều tăng so với cùng kỳ; riêng sản lượng xe máy các loại giảm với mức giảm 1,42%. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 4/2025, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 4,95% so với tháng trước và giảm 1,77% so với cùng kỳ. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 4/2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho giảm 7,44% so với tháng trước và giảm 16,64% so với cùng kỳ. So với tháng trước, 09 ngành công nghiệp cấp 2 có chỉ số tồn kho tăng, 08 ngành có chỉ số tồn kho giảm, riêng ngành sản xuất kim loại có chỉ số tồn kho không thay đổi.  3. Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp 3.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước Tháng 4/2025, tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn NSNN ước đạt 601,58 tỷ đồng, tăng 16,95% so với tháng trước, giảm 5,88% so với cùng kỳ năm trước Vốn đầu tư thực hiện chủ yếu gia tăng từ các công trình trọng điểm có nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh (ước đạt 282,22 tỷ đồng, giảm 0,10%). Tính chung 4 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư ước đạt 2.051,55 tỷ đồng, đạt 25,64% kế hoạch Trung ương giao năm 2025 và tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 778,35 tỷ đồng, tăng 2,26%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 716,13 tỷ đồng, giảm 9,37%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 557,07 tỷ đồng, tăng 30,32% so với cùng kỳ năm trước. 3.2. Thu hút đầu tư trực tiếp Bốn tháng đầu năm 2025, kết quả thu hút đầu tư ở khu vực DDI có sự khởi sắc: Tính đến ngày 15/4/2025, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký cho 16 dự án (07 dự án cấp mới, 09 dự án điều chỉnh) với tổng vốn đăng ký đạt 1.841,26 tỷ đồng; tăng 33,33% số dự án so với cùng kỳ và đạt 61,38% kế hoạch cả năm. Khu vực FDI, tính đến 15/4/2025, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận cho 27 dự án (11 dự án cấp mới và 16 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 163,17 triệu USD, giảm 55,06% so với cùng kỳ. Các quốc gia đầu tư truyền thống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc vẫn là những đối tác quan trọng và gắn bó lâu dài trong định hướng phát triển kinh tế của tỉnh; trong đó, Hàn Quốc là quốc gia đầu tư lớn nhất với 70,72 triệu USD (cho 11 dự án), chiếm 43,34% tổng vốn đăng ký. Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là ngành mũi nhọn về thu hút đầu tư FDI với 26 dự án; tổng số vốn 162,22 triệu USD, chiếm 99,42% tổng vốn đăng ký. 3.3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Tháng 4/2025, tình hình đăng ký doanh nghiệp ghi nhận sự chuyển biến tích cực với số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng khá; có 203 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký đạt 1.492 tỷ đồng; so với tháng trước, tăng 32,68% về số doanh nghiệp và tăng 82,29% về vốn đăng ký. Lũy kế đến 20/4/2025, toàn tỉnh có 547 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 3.378 tỷ đồng và 4.321 lao động; so với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 18,91%, vốn đăng ký giảm 32,62% và số lao động giảm 5,80%. Trong 4 tháng đầu năm 2025, có 221 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp mới thành lập và quay trở lại lên 768 doanh nghiệp, tăng 18,52% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giải thể vẫn có chiều hướng gia tăng với 851 doanh nghiệp, tăng 25,70% so với năm trước, cho thấy còn nhiều khó khăn và thách thức đối với một số ngành kinh doanh.  4. Thương mại, dịch vụ Tháng 4/2025, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ sự ổn định của thị trường hàng hóa và nhu cầu sử dụng dịch vụ gia tăng trong dịp các kỳ nghỉ lễ dài ngày. Nguồn cung hàng hóa thiết yếu và nguyên vật liệu sản xuất được đảm bảo, các hoạt động vui chơi giải trí, du lịch, ăn uống diễn ra sôi động, thúc đẩy tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng cao so với cùng kỳ. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 4/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.399,4 tỷ đồng, tăng 5,84% so với tháng trước và tăng 16,84% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2025, tổng mức ước đạt 28.416,8 tỷ đồng, tăng 13,32% so với cùng kỳ. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 4/2025 ước đạt 5.866,9 tỷ đồng, tăng 6,62% so với tháng trước và tăng 16,23% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 22.516,4 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 4/2025 ước đạt 654,3 tỷ đồng, tăng 2,71% so với tháng trước và tăng 26,22% so với cùng kỳ, nhờ nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng, tổ chức liên hoan trong dịp lễ tăng cao. Lũy kế 4 tháng đầu năm, doanh thu đạt 2.486,7 tỷ đồng, tăng 22,47% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành tháng 4/2025 đạt 24,0 tỷ đồng, tăng mạnh 62,20% so với tháng trước nhưng giảm 9,02% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm, doanh thu đạt 64,3 tỷ đồng, giảm 3,82% do xu hướng du lịch tự túc và đặt dịch vụ trực tuyến. Doanh thu dịch vụ khác tháng 4/2025 đạt 854,2 tỷ đồng, tăng 2,15% so với tháng trước và tăng 15,38% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng, đạt 3.349,3 tỷ đồng, tăng 15,82% so với cùng kỳ, trong đó dịch vụ hành chính hỗ trợ, giáo dục và các dịch vụ khác có mức tăng trưởng cao. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Tháng 4/2025, hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc diễn ra ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân và vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh, đặc biệt trong dịp các kỳ nghỉ lễ dài ngày. Doanh thu toàn ngành vận tải ước đạt 777,6 tỷ đồng, tăng 1,34% so với tháng trước và tăng 13,37% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 175,3 tỷ đồng, giảm 3,30% so với tháng trước do nhu cầu đi lại giảm sau cao điểm mùa lễ hội đầu năm, nhưng vẫn tăng 21,90% so với cùng kỳ. Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 508,1 tỷ đồng, tăng 2,49% so với tháng trước và tăng 7,03% so với cùng kỳ. Khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 4,6 triệu tấn, khối lượng luân chuyển đạt 456,8 triệu tấn.km.  Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tiếp tục phát triển ổn định với doanh thu ước đạt 94,2 tỷ đồng, tăng 4,28% so với tháng trước và tăng mạnh 39,78% so với cùng kỳ.  5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 5.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nướcThu ngân sách Nhà nước tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, các nguồn thu chính từ khu vực doanh nghiệp FDI, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước và thu hải quan tăng khá. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến ngày 20/4/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 11,14 nghìn tỷ đồng, tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước.  Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 20/4/2025 đạt 8,75 nghìn tỷ đồng, bằng 89,73% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển (gồm cả tạm ứng) đạt 4,26 nghìn tỷ đồng, giảm 27,61%; chi thường xuyên đạt 4,40 nghìn tỷ đồng, tăng 15,38% so với cùng kỳ năm trước. 5.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụngTổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 30/4/2025 đạt 145.371 tỷ đồng, tăng 3,74% so với cuối năm 2024.Tổng dư nợ cho vay dự kiến tại thời điểm 30/4/2025 đạt 149.489 tỷ đồng, tăng 4,04% so với cuối năm 2024. Nợ xấu toàn địa bàn ước tại thời điểm 30/4/2025 là 1.380 tỷ đồng; chiếm tỷ lệ 0,92% trên tổng dư nợ. 6. Chỉ số giáSau 3 tháng liên tiếp tăng, chỉ số giá nhóm thực phẩm tháng 4/2025 đã giảm 0,90% so với tháng trước nhờ sự chỉ đạo kịp thời của Chính phủ trong việc đảm bảo cân đối cung cầu và bình ổn giá thị trường. Bên cạnh đó, mặc dù giá xăng dầu được điều chỉnh 4 lần trong tháng (2 lần tăng, 2 lần giảm), nhưng giá bán bình quân vẫn giảm 2,80% so với tháng 3/2025. Đây là những yếu tố chủ yếu góp phần làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2025 trên địa bàn tỉnh giảm 0,39% so với tháng trước. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 4 vẫn tăng 3,12%. Tính bình quân 4 tháng đầu năm 2025, CPI tăng 2,19% so với cùng kỳ. Bình quân 4 tháng đầu năm 2025, CPI tăng 2,19% so với cùng kỳ. Các yếu tố làm tăng CPI chủ yếu đến từ nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,12% do điều chỉnh giá dịch vụ khám chữa bệnh; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,73% do giá vàng và mức đóng BHYT tăng; nhóm điện sinh hoạt tăng 4,74% theo quyết định điều chỉnh giá điện; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,86%; nhóm thực phẩm tăng 3,89% do giá thịt lợn và gia cầm tăng mạnh dịp Tết; nhóm đồ uống và thuốc lá và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch lần lượt tăng 1,15% và 0,77% do nhu cầu tiêu dùng và du lịch tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số yếu tố góp phần làm giảm CPI, trong đó đáng kể nhất là nhóm giáo dục giảm 12,37% nhờ chính sách hỗ trợ học phí; nhóm giao thông giảm 2,94% do giá xăng dầu liên tục được điều chỉnh giảm; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 1,50% nhờ các chương trình khuyến mãi kích cầu tiêu dùng. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 4/2025, chỉ số giá vàng tăng 11,00% so với tháng trước, tăng 38,79% so với cùng kỳ, bình quân 4 tháng đầu năm tăng 34,95% so với cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2025 tăng 1,30% so với tháng trước, tăng 3,31% so cùng kỳ, bình quân 4 tháng đầu năm tăng 3,80% so cùng kỳ. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, giải quyết việc làm Lao động việc làm, giải quyết việc làm: Tháng 4/2025, thị trường lao động có sự biến động với xu hướng dịch chuyển công việc, số lao động thôi việc, mất việc trong kỳ tăng cao, cùng với đó là sự gia tăng đáng kể số lao động được giải quyết việc làm mới. Tính từ ngày 15/3 đến 14/4/2025, số lao động thôi việc, mất việc trên địa bàn tỉnh là 2.443 người, tăng 6,45% so với tháng trước và tăng 124,9% so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu ở khu vực công nghiệp với 2.249 người, chiếm 92% tổng số lao động thôi việc (riêng ngành sản xuất linh kiện điện tử ghi nhận 1.154 người, chiếm 47,2% tổng số lao động biến động toàn tỉnh). Số lao động được có việc làm mới tính đến ngày 15/4/2025 đạt 10.016 lao động, tăng 16,51% so với cùng kỳ và bằng 58,92% kế hoạch năm, tập trung nhiều ở khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2025 tăng 2,60% so với tháng trước và tăng 4,78% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng đầu năm, chỉ số này tăng nhẹ 0,08%. 2. Hoạt động văn hóa, thể thao Trong tháng 4/2025, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật và thể thao sôi nổi, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, tạo không khí vui tươi, phấn khởi và thu hút đông đảo du khách. Ngày 24/4/2025, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh tổ chức trưng bày chuyên đề “Văn học, nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phúc – 50 năm sau ngày đất nước thống nhất” tại thành phố Vĩnh Yên. Sự kiện giới thiệu hàng trăm tài liệu, hiện vật tiêu biểu nhằm tôn vinh những thành tựu nổi bật của đội ngũ văn nghệ sĩ Vĩnh Phúc trong nửa thế kỷ qua. Cuối tháng 4/2025, tỉnh tổ chức khai mạc Du lịch hè 2025 với chủ đề “Vĩnh Phúc - Một hành trình, vạn trải nghiệm” tại Quảng trường Hồ Chí Minh, thành phố Vĩnh Yên. Trong khuôn khổ sự kiện, nhiều hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch được triển khai tại các khu, điểm du lịch trọng điểm như Tam Đảo, Tây Thiên, Đại Lải, góp phần quảng bá hình ảnh du lịch Vĩnh Phúc an toàn, thân thiện và hấp dẫn. Bên cạnh đó, tỉnh tích cực chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Festival Khinh khí cầu Vĩnh Phúc 2025 diễn ra từ ngày 30/4 đến 04/5/2025. Sự kiện dự kiến quy tụ 30 khinh khí cầu với nhiều hoạt động phong phú như bay trải nghiệm, đại nhạc hội, diễu hành Carnaval, trưng bày sản phẩm OCOP, gian hàng ẩm thực và các trò chơi dân gian phục vụ nhân dân và du khách. Trong lĩnh vực thể thao, tỉnh tiếp tục triển khai kế hoạch tổ chức Đại hội Thể dục Thể thao các cấp lần thứ VII, giai đoạn 2025–2026. Các hoạt động thể thao được tổ chức rộng khắp tại 9 huyện, thành phố nhằm duy trì và đẩy mạnh phong trào luyện tập thể dục thể thao, nâng cao sức khỏe cộng đồng, chào mừng các ngày lễ lớn trong năm. 3. Y tế Tình hình dịch bệnh: Ngành Y tế của tỉnh tiếp tục duy trì tốt hoạt động phòng, chống dịch bệnh. Do đó, không có tình trạng dịch bệnh bất thường xảy ra và không ghi nhận trường hợp tử vong do bệnh truyền nhiễm. Trong tháng, một số bệnh truyền nhiễm phát sinh so với tháng trước: 02 ca mắc Sốt xuất huyết, giảm 01 ca; 28 ca Tay - Chân - Miệng, tăng 16 ca; 442 ca Cúm, giảm 287 ca; 78 ca Sởi, tăng 47 ca; 23 ca Thủy đậu, giảm 02 ca; 01 ca Ho gà, tăng 01 ca... các ca mắc bệnh đã được các cơ sở y tế thực hiện điều trị kịp thời, không để dịch bệnh bùng phát xảy ra. Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác phòng, chống ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm được thực hiện chủ động, thường xuyên tại tất cả các tuyến thông qua các hoạt động thanh tra, kiểm tra, truyền thông giáo dục… Trong tháng, các ngành chức năng đã tổ chức kiểm tra, giám sát 259 lượt cơ sở về vệ sinh an toàn thực phẩm; số cơ sở đạt 229 cơ sở chiếm tỷ lệ 88,42%; số cơ sở không đạt là 30 cơ sở với lỗi chủ yếu là công tác vệ sinh môi trường khu chế biến chưa đảm bảo vệ sinh. Các Đoàn thanh, kiểm tra đã tuyên truyền, nhắc nhở và hướng dẫn các cơ sở đảm bảo điều kiện ATTP trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Trong tháng 4, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Giáo dục và đào tạo Trong tháng 4/2025, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và chuẩn bị cho năm học 2025-2026. Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức tập huấn công tác tuyển sinh vào lớp 1, đảm bảo quy trình tuyển sinh diễn ra đúng quy định, minh bạch và công bằng tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn. Bên cạnh đó, ngành giáo dục cũng triển khai thực hiện Nghị định số 68/2025/NĐ-CP của Chính phủ, hướng dẫn các đơn vị giáo dục thực hiện hiệu quả các chính sách mới liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động của nhà trường. Hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4, các trường học trong toàn tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa như trưng bày sách, tọa đàm, giới thiệu sách, nhằm khuyến khích thói quen đọc sách, góp phần phát triển văn hóa đọc trong học sinh, sinh viên. 5. Tình hình an ninh, trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Tháng Tư, toàn tỉnh xảy ra 42 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (tăng 15 vụ so với tháng trước) làm 07 người bị thương, thiệt hại tài sản 3.730,83 triệu đồng, đã điều tra làm rõ 39/42 vụ (đạt 92,86%), bắt giữ 93 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 730,98 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/4/2025, toàn tỉnh xảy ra 94 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 54 người chết và 76 người bị thương (so với cùng kỳ giảm 03 vụ, tăng 13 người chết, giảm 06 người bị thương). Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/4/2025, toàn tỉnh xảy ra 25 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người. Số tiền thiệt hại khoảng 102,2 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ cháy, nổ giảm 40 vụ, giá trị thiệt hại giảm 167,4 triệu đồng.  Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến 15/4/2025, toàn tỉnh phát hiện 92 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 92 vụ với số tiền xử phạt là 730,46 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ vi phạm giảm 155 vụ, số vụ xử phạt giảm 148 vụ, số tiền xử phạt giảm 1.387,9 triệu đồng./.