Tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp năm 2025 cấp huyện
- 20/06/2025 07:58
Thực hiện Kế hoạch số 19/KH-CCTK ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc về việc tập huấn Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 (viết gọn TĐTNN 2025) trên địa bàn tỉnh; công văn số 223/BCĐT-TTT ngày 05/6/2025 của Ban chỉ đạo TĐTNN 2025 tỉnh Vĩnh Phúc về việc hướng dẫn qui trình tập huấn nghiệp vụ TĐTNN 2025, từ ngày 11/6 Ban chỉ đạo Tổng điều tra (TĐT) cấp huyện đã bắt đầu tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ TĐTNN 2025. Thành phần tham dự Hội nghị là thành viên Ban chỉ đạo cấp huyện, cấp xã; Tổ thường trực, giám sát viên cấp huyện; tổ trưởng và điều tra viên (ĐTV).Ông Trương Đức Giáp - Phó Trưởng ban thường trực phát biểu khai mạc hội tập huấn TĐTNN 2025 huyện Tam DươngTại các lớp tập huấn, học viên được giới thiệu tổng quan về phương án TĐT; tìm hiểu mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của cuộc TĐT; vai trò, trách nhiệm của điều tra viên; các quy định về nghiệp vụ và quy trình ghi phiếu điều tra. Nội dung tập huấn cũng bao gồm hướng dẫn ghi thông tin về phiếu hộ, phiếu trang trại và phiếu xã; hướng dẫn cài đặt và thực hành sử dụng phần mềm điều tra điện tử CAPI phiếu hộ, phiếu trang trại. Hội nghị cũng dành thời gian để các đại biểu thảo luận, giải đáp thắc mắc nhằm thống nhất quy trình, đảm bảo việc thu thập số liệu chính xác, đầy đủ, đúng tiến độ.Đối với công tác thu thập thông tin tại địa bàn, toàn tỉnh huy động gần 2.000 ĐTV và Tổ trưởng, theo kế hoạch toàn tỉnh tổ chức 31 lớp tập huấn cấp huyện. ĐTV được tuyển chọn đều là những người am hiểu địa bàn điều tra và biết thông tin về các hộ sống trên địa bàn điều tra, ưu tiên những người sinh sống tại địa bàn điều tra, trưởng thôn/tổ trưởng dân phố. Dự và chỉ đạo Hội nghị các lớp tập huấn đều có các đồng chí trong Ban chỉ đạo, Tổ thường trực cấp huyện, các đồng chí là giám sát viên cấp tỉnh.Hội nghị tập huấn TĐTNN 2025 tại huyện Lập ThạchCông tác tập huấn nghiệp vụ cho điều tra viên có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo cuộc TĐT diễn ra thành công, chính xác và hiệu quả. Việc tập huấn giúp điều tra viên nắm vững kiến thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc, từ đó thu thập thông tin đầy đủ, chính xác, phục vụ cho việc đánh giá thực trạng và xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp.Dự kiến đến hết ngày 25/6/2025 Ban Chỉ đạo TĐTNN 2025 các huyện, thành phố kết thúc đợt tập huấn Hội nghị tập huấn nghiệp vụ TĐTNN 2025 cho lực lượng tham gia cuộc Tổng điều tra trên địa bàn. Đồng thời, khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị như lập tài khoản người dùng và phân quyền sử dụng để sẵn sàng cho giai đoạn quan trọng nhất của cuộc Tổng điều tra là thu thập thông tin tại địa bàn diễn ra đồng loạt trên phạm vi cả nước vào thời điểm 01/7/2025./. Tin bài, Phòng Nông nghiệp và Xã hội, Chi cục Thống kê tỉnh.
Hội nghị tập huấn Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp năm 2025
- 06/06/2025 15:13
Sáng ngày 04/6/2025, tại Hội trường Chi cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra tỉnh đã tổ chức Hội nghị tập huấn Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp năm 2025. Đây là hoạt động trọng tâm nhằm chuẩn bị cho cuộc Tổng điều tra quy mô lớn, triển khai đồng loạt trên phạm vi toàn tỉnh trong thời gian tới. Tham dự Hội nghị có đồng chí Nguyễn Hồng Phong – Phó trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Tổng điều tra tỉnh, Chi cục trưởng Chi cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc; Tổ thường trực Ban chỉ đạo tỉnh; các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo tỉnh; Ban chỉ đạo cấp huyện và các đồng chí công chức, viên chức hỗ trợ tổ chức tập huấn cấp huyện. Tổ thường trực Ban chỉ đạo tỉnh; lãnh đạo, công chức tại Chi cục Thống kê tỉnh và các Đội Thống kê cấp huyện. Phát biểu khai mạc, đồng chí Nguyễn Hồng Phong nhấn mạnh vai trò, ý nghĩa của cuộc Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp năm 2025 – một trong những cuộc điều tra thống kê quy mô lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thu thập thông tin toàn diện về nông thôn, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Mục đích của cuộc điều tra là nhằm cung cấp dữ liệu phục vụ xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; đánh giá toàn diện thực trạng và chiến lược phát triển nông thôn, khu vực Nông, lâm, thủy sản (NLTS) đời sống dân cư nông thôn; nghiên cứu quy mô và cơ cấu lao động trong lĩnh vực NLTS; theo dõi kết cấu hạ tầng nông thôn; đồng thời là cơ sở dữ liệu đầu vào phục vụ các chương trình mục tiêu quốc gia như xây dựng nông thôn mới, phát triển nông nghiệp bền vững, chuyển đổi số nông nghiệp; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu về nông thôn và NLTS phục vụ công tác nghiên cứu chuyên sâu. Hội nghị tập huấn diễn ra trong 03 ngày, từ ngày 04 đến ngày 06/6/2025, các đại biểu tham gia hội nghị được nghe phổ biến nội dung phương án điều tra và các nghiệp vụ quan trọng như: Hướng dẫn chi tiết cách ghi phiếu điều tra bao gồm Phiếu 03 (Điều tra hộ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản), Phiếu 04 (Trang trại) và Phiếu 06 (thu thập thông tin cấp xã). Hướng dẫn sử dụng phần mềm điều tra điện tử (CAPI và Webform) và thực hành thao tác thu thập và nhập dữ liệu trực tiếp trên thiết bị di động, đồng bộ hóa qua mạng. Hướng dẫn quy trình tập huấn; quy trình kiểm tra, giám sát; công tác tuyên truyền cho Tổng điều tra Nông nghiệp 2025. Trong suốt buổi tập huấn, các đại biểu luôn chấp hành nghiêm túc nội quy, tham gia đầy đủ, đúng giờ. Phần trao đổi thảo luận, các đại biểu tích cực trao đổi, đặt câu hỏi, thảo luận các nội dung trong tài liệu, phân tích nhiều tình huống, đặc biệt liên quan đến xử lý phiếu khó, địa bàn điều tra phức tạp. Giảng viên đã giải đáp cụ thể từng vướng mắc, hướng dẫn chi tiết các phương án xử lý linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo đúng quy trình và nguyên tắc của cuộc điều tra. Những nội dung thảo luận tập trung vào các tình huống thực tiễn, giúp học viên củng cố kiến thức, nâng cao kỹ năng xử lý tình huống và thống nhất cách hiểu, cách làm trong toàn bộ đội ngũ điều tra viên. Phần trao đổi diễn ra sôi nổi, thể hiện tinh thần nghiêm túc và trách nhiệm cao của các học viên đối với nhiệm vụ chuẩn bị cho cuộc Tổng điều tra sắp tới. Kết thúc buổi tập huấn, các đại biểu đã nắm vững nội dung được truyền đạt, hiểu rõ quy trình và sử dụng thành thạo công cụ điều tra theo hướng dẫn./. Một số hình ảnh tại Hội nghịĐ/c Nguyễn Hồng Phong, Phó Trưởng ban, Ban chỉ đạo TĐT tỉnh, Chi cục trưởng Chi cục Thống kê Vĩnh Phúc phát biểu khai mạcĐ/c Đỗ Minh Tâm, Tổ trưởng Tổ thường trực giúp việc BCĐ tỉnh, Phó chi cục trưởng Chi cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc giới thiệu Phương án Tổng điều tra NTNN năm 2025Quang cảnh hội nghị tập huấn Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp
Báo cáo tình hình Kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2025
- 03/06/2025 08:18
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Trong tháng 5/2025, các địa phương tiếp tục thực hiện chăm sóc lúa và các loại cây trồng vụ Xuân; công tác phòng, trừ sâu bệnh được quan tâm thực hiện, cây trồng sinh trưởng và phát triển ổn định. Tổng diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân ước đạt 51.637,4 ha, giảm 1,04% so với cùng kỳ. b. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi tháng 5/2025 cơ bản ổn định; tổng đàn giảm nhẹ nhưng sản lượng thịt hơi và trứng gia cầm tiếp tục tăng. Ước tính đến cuối tháng 5/2025: Đàn lợn giảm 0,52%; đàn gia cầm giảm 0,94%; đàn trâu, bò toàn tỉnh giảm 11,47% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 11.394 tấn, tăng 1,52% so cùng kỳ (trong đó thịt lợn tăng 2,45%; thịt gia cầm giảm 0,26%); trứng gia cầm đạt 67,5 triệu quả, tăng 4,90%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2025, tổng sản lượng thịt hơi đạt 60.383 tấn, tăng 2,19%; trứng gia cầm đạt 355,9 triệu quả, tăng 4,16% so cùng kỳ. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Tháng 5/2025, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 111,0 ha tăng 4,72% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm đạt 485,0 ha tăng 11,26%. Sản lượng gỗ khai thác tháng 5 đạt 3.827,6 m3 tăng 3,45%; lũy kế 5 tháng đạt 19.989,4 m3 tăng 3,30% với cùng kỳ. Công tác quản lý, bảo vệ rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng được tăng cường, thực hiện chủ động và triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các giải pháp về phòng cháy, chữa cháy rừng. Trong tháng 5/2025 không xảy ra cháy rừng. 1.3. Sản xuất thuỷ sản Sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh trong tháng ổn định; các cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất thủy sản tiếp tục được thực hiện và phát huy hiệu quả. Tổng sản lượng thủy sản tháng 5/2025 ước đạt 2.250,9 tấn tăng 3,19% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2025, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 10.268,8 tấn tăng 3,25% so với cùng kỳ. 2. Sản xuất công nghiệpTháng 5/2025, sản xuất công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục xu hướng phát triển tích cực. So với tháng trước: Ngành khai khoáng tăng 2,0%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,20%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 8,54%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,89%.So với cùng kỳ: Ngành khai khoáng giảm 15,0%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 5,87%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 21,12%.Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 5/2025, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 1,47% so với tháng trước và tăng 14,44% so với cùng kỳ. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 5/2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho tăng 0,20% so với tháng trước và giảm 14,43% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp 3.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nướcTháng 5/2025, công tác giải ngân vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tiếp tục được các cấp, ngành và địa phương tập trung triển khai, đạt nhiều kết quả tích cực, tác động lan toả tới sự hồi phục, phát triển của các lĩnh vực khác trong nền kinh tế của tỉnh. Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng ước đạt 752,86 tỷ đồng, tăng 1,02% so với tháng trước và tăng 8,72% so với cùng kỳ. 3.2. Thu hút đầu tư trực tiếpTháng 5/2025, kết quả thu hút đầu tư có sự cải thiện rõ rệt, tăng cao nhất kể từ đầu năm, đặc biệt ở khu vực DDI. Trong tháng, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký cho 12 dự án DDI với tổng vốn đăng ký 2.361,4 tỷ đồng. So với tháng trước, tăng 50% về số dự án và tăng 69,21% về vốn đăng ký. So với cùng kỳ, tăng gấp 2 lần về số dự án và tăng gấp 8 lần về vốn đăng ký. Lũy kế tính đến ngày 15/5/2025, có 28 dự án (11 dự án cấp mới và 17 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký 4.202,7 tỷ đồng, tăng 33,33% về số dự án và tăng 76,54% về vốn đăng ký, vượt 40,09% kế hoạch đầu năm (3.000 tỷ đồng). Khu vực FDI, tính đến ngày 15/5/2025, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận cho 40 dự án (18 dự án cấp mới và 22 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký 218,3 triệu USD, giảm 47,28% so với cùng kỳ. 3.3. Tình hình đăng ký doanh nghiệpTình hình đăng ký doanh nghiệp trong 5 tháng đầu năm 2025 có nhiều tín hiệu tích cực với số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng khá. Tính đến ngày 20/5/2025, toàn tỉnh có 693 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 4.206 tỷ đồng, tăng 21,37% về số doanh nghiệp và giảm 24,43% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; dự kiến tạo thêm việc làm cho 5.529 lao động. Lũy kế 5 tháng đầu năm, số lượng doanh nghiệp tham gia quay trở lại thị trường là 248 doanh nghiệp, tăng 23,38% so với cùng kỳ; nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động lên 941 doanh nghiệp, tăng 21,89% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giải thể vẫn có chiều hướng gia tăng với 949 doanh nghiệp, tăng 29,82% so với cùng kỳ; để duy trì đà tăng trưởng, tỉnh cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó khăn. 4. Thương mại, dịch vụ Tháng 5/2025, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ sự ổn định của thị trường hàng hóa và nhu cầu sử dụng dịch vụ gia tăng trong dịp các kỳ nghỉ lễ dài ngày. Các khu du lịch, nghỉ dưỡng trên địa bàn được tăng cường quảng bá; chất lượng phục vụ tại các nhà hàng, khách sạn ngày càng nâng cao, đáp ứng tốt nhu cầu du khách. Doanh thu các ngành thương mại, dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống 5 tháng đầu năm tăng khá so với cùng kỳ. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùngTháng 5/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.508,3 tỷ đồng, tăng 1,83% so với tháng trước và tăng 15,81% so với cùng kỳ. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2025, tổng mức ước đạt 35.898,9 tỷ đồng, tăng 13,75%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 5/2025 ước đạt 5.943,7 tỷ đồng, tăng 1,73% so với tháng trước và tăng 14,82% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 28.435,8 tỷ đồng, tăng 12,55% so với cùng kỳ.Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 5/2025 ước đạt 687,6 tỷ đồng, tăng 2,26% so với tháng trước và tăng 24,28% so với cùng kỳ, nhờ nhu cầu vui chơi, ẩm thực tăng cao trong kỳ nghỉ lễ và các sự kiện văn hóa, thể thao lớn trong tháng. Lũy kế 5 tháng, doanh thu đạt 3.232,7 tỷ đồng, tăng 21,96% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành lưu trú tăng 22,40%; ngành dịch vụ ăn uống tăng 23,03%; ngành lữ hành giảm 4,01%. 4.2. Hoạt động vận tải Tháng 5/2025, hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục ổn định và phát triển, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa tăng cao trong dịp nghỉ lễ dài ngày và các hoạt động văn hóa, giải trí diễn ra tại địa phương. Doanh thu toàn ngành vận tải, kho bãi ước đạt 774,5 tỷ đồng, tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 12,52% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 158,6 tỷ đồng, giảm 7,03% so với tháng trước nhưng tăng 33,24% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển được 3,45 triệu lượt hành khách, khối lượng luân chuyển đạt 201,92 triệu hành khách.km. Vận tải hành khách đường bộ chiếm chủ yếu với doanh thu 158,5 tỷ đồng, vận chuyển 3,43 triệu lượt hành khách. Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 523,5 tỷ đồng, tăng 4,00% so với tháng trước và tăng 6,42% so với cùng kỳ. Khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 4,77 triệu tấn, khối lượng luân chuyển đạt 477,7 triệu tấn.km. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát duy trì tăng trưởng ổn định với doanh thu ước đạt 92,4 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 19,42% so với cùng kỳ. Sự phát triển của thương mại điện tử và nhu cầu vận chuyển, hậu cần từ các doanh nghiệp tiếp tục là động lực thúc đẩy tăng trưởng lĩnh vực này trong thời gian tới. 5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 5.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định và phát triển. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước tính đến 20/5/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 13,95 nghìn tỷ đồng, tăng 6,04% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 11,91 nghìn tỷ đồng, tăng 3,99%, tăng đều cả 3 khu vực: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 7,93 nghìn tỷ đồng, tăng 2,60%; thu từ doanh nghiệp ngoài Nhà nước 1,23 nghìn tỷ đồng, tăng 19,30%; doanh nghiệp Nhà nước tăng 27,12% (đạt 119,08 tỷ đồng). Hoạt động xuất, nhập khẩu gia tăng, đóng góp vào nguồn thu hải quan của tỉnh với 2,02 nghìn tỷ đồng, tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 20/5/2025 đạt 10,71 nghìn tỷ đồng, giảm 2,01% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển (bao gồm cả tạm ứng) đạt 4,88 nghìn tỷ đồng, giảm 21,25%, chi thường xuyên đạt 5,73 nghìn tỷ đồng, tăng 22,66%. 5.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng Tổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 31/5/2025 đạt 146.648 tỷ đồng; tăng 4,65% so với cuối năm 2024. Chủ yếu huy động từ nguồn tiền gửi dân cư, ước đạt 100.743 tỷ đồng, tăng 9,68%, bù đắp cho sự thiếu hụt từ tiền gửi của các tổ chức kinh tế (ước đạt 45.905 tỷ đồng, giảm 4,92%) do doanh nghiệp tập trung vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, một số doanh nghiệp nước ngoài chuyển lợi nhuận về nước nên không có nguồn tiền nhàn rỗi. Tổng dư nợ cho vay dự kiến tại thời điểm 31/5/2025 đạt 153.162 tỷ đồng, tăng 6,60% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, ước đạt 114.723 tỷ đồng, tăng 7,53% so với cuối năm 2024, chiếm 74,90% tổng dư nợ. Cơ cấu dư nợ tập trung vào các hoạt động sản xuất, dịch vụ và đầu tư phát triển, trong đó dư nợ khu vực hộ gia đình, tư nhân, cá thể chiếm 61,19% tổng dư nợ và dư nợ khu vực doanh nghiệp chiếm 38,81% tổng dư nợ. Nợ xấu ước tại thời điểm 31/5/2025 chiếm tỷ lệ 0,87% trên tổng dư nợ. 6. Chỉ số giá Tháng 5/2025, giá lương, thực phẩm giảm, giá xăng, dầu bình quân giảm theo giá nhiên liệu thế giới là những nguyên nhân chính khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn giảm 0,08% so với tháng trước; tuy nhiên, so với cùng kỳ, CPI tháng Năm vẫn tăng 2,85%. Bình quân năm tháng đầu năm 2025, CPI tăng 2,32% so với bình quân cùng kỳ.So với tháng trước: CPI tháng 5/2025 giảm 0,08% (khu vực thành thị tăng 0,01%; khu vực nông thôn giảm 0,12%); trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 04 nhóm giảm giá; 06 nhóm tăng giá và 01 nhóm ổn định. Bình quân 5 tháng đầu năm 2025, CPI tăng 2,32% so với cùng kỳ. Các yếu tố làm tăng CPI chủ yếu đến từ nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,16% do tỉnh áp dụng giá dịch vụ y tế mới; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,86% do giá trang sức tăng mạnh theo giá vàng, đồng thời mức đóng BHYT điều chỉnh theo lương tối thiểu; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,91% do giá điện sinh hoạt và chi phí thuê nhà tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,81%; nhóm thực phẩm tăng 3,32%; nhóm đồ uống và thuốc lá và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch lần lượt tăng 1,31% và 0,73%. Ở chiều ngược lại, một số yếu tố góp phần làm giảm CPI, trong đó đáng kể nhất là nhóm giáo dục giảm 9,54% do thực hiện chính sách hỗ trợ học phí theo Nghị quyết của HĐND tỉnh; nhóm giao thông giảm 3,39% do giá xăng dầu trong nước liên tục được điều chỉnh giảm; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,86% do thị trường triển khai nhiều chương trình giảm giá để kích cầu tiêu dùng. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 5/2025, chỉ số giá vàng tăng 6,70% so với tháng trước, tăng 44,05% so với cùng kỳ, bình quân 5 tháng đầu năm tăng 36,72% so với cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2025 tăng 0,42% so với tháng trước, tăng 2,93% so cùng kỳ, bình quân 5 tháng đầu năm tăng 3,63% so cùng kỳ. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, giải quyết việc làm Tháng 5/2025, thị trường lao động có chuyển biến tích cực, số lao động thôi việc, mất việc trong kỳ giảm, trong khi công tác giải quyết việc làm đạt kết quả khả quan, góp phần ổn định thị trường lao động. Tính từ ngày 15/4 đến 14/5/2025, số lao động thôi việc, mất việc trên địa bàn tỉnh là 1.712 người, giảm 29,92% so với tháng trước và giảm 8,25% so với cùng kỳ. Trong kỳ không có doanh nghiệp nào cho lao động nghỉ giãn việc. Lũy kế đến ngày 15/5/2025, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 12.636 lao động, tăng 46,98% so cùng kỳ, trong đó: giải quyết 2.252 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 5.647 việc làm trong khu vực công nghiệp; 4.438 việc làm khu vực dịch vụ; 299 người đi xuất khẩu lao động. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2025 tăng 3,23% so với tháng trước và tăng 5,37% so với cùng kỳ. 2. Hoạt động văn hóa, thể thao Trong tháng 5/2025, các hoạt động văn hóa, thể thao trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc diễn ra sôi nổi, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong Nhân dân. Lĩnh vực văn hóa tiếp tục được quan tâm tổ chức với nhiều hoạt động ý nghĩa kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước như: 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều chương trình văn nghệ được tổ chức tại các địa phương với nội dung ca ngợi Đảng, Bác Hồ và tình yêu quê hương, đất nước, thu hút đông đảo người dân tham gia và cổ vũ. Đặc biệt, Festival Khinh khí cầu Vĩnh Phúc 2025 với chủ đề “Vĩnh Phúc bay lên cùng đất nước” được tổ chức tại Quảng trường Hồ Chí Minh – TP. Vĩnh Yên đã tạo điểm nhấn nổi bật trong chuỗi hoạt động văn hóa tháng 5. Festival diễn ra trong 5 ngày với nhiều hoạt động phong phú như trưng bày sản phẩm OCOP, trình diễn nghệ thuật đường phố, Carnaval và bay khinh khí cầu phục vụ du khách. Trong lĩnh vực thể thao, nhiều giải đấu phong trào được tổ chức rộng khắp ở cơ sở với các môn như bóng chuyền hơi, bóng bàn, kéo co,… chào mừng các ngày lễ lớn, thu hút đông đảo người dân tham gia. Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh tiếp tục duy trì tập luyện cho 11 đội tuyển. Trong tháng, Vĩnh Phúc tham gia 2 giải thể thao, giành tổng cộng 4 huy chương, gồm 1 vàng, 2 bạc và 1 đồng. 3. Y tế Tình hình dịch bệnh: Do thời tiết chuyển mùa, diễn biến khí hậu thất thường làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là các bệnh lây qua đường hô hấp. Ngành y tế đã chủ động tăng cường giám sát dịch tễ tại các cơ sở y tế, trường học, doanh nghiệp và cộng đồng nhằm phát hiện sớm các ca bệnh, kịp thời cách ly, điều trị và hạn chế lây lan. Trong tháng, ghi nhận một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh tay chân miệng 13 ca (giảm 15 ca), cúm 333 ca (giảm 109 ca), sởi 170 ca (tăng 92 ca), thủy đậu 32 ca (tăng 9 ca). Các trường hợp mắc bệnh đều được theo dõi và điều trị kịp thời tại cơ sở y tế. Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm: Sở Y tế đã phối hợp tổ chức phát động Tháng hành động vì An toàn thực phẩm năm 2025 với chủ đề tập trung vào bếp ăn tập thể, dịch vụ ăn uống và thức ăn đường phố. Hoạt động này nhằm tuyên truyền nâng cao ý thức, thay đổi hành vi trong chế biến và sử dụng thực phẩm vì sức khỏe cộng đồng. Trong tháng, không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra trên địa bàn tỉnh. 4. Giáo dục và đào tạo Trong tháng 5/2025, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc tập trung hoàn thành chương trình năm học 2024–2025 và chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 cũng như kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia. Tính đến 15h ngày 20/5, toàn tỉnh ghi nhận 18.775 thí sinh đăng ký dự thi vào lớp 10, vượt 21,36% so với tổng chỉ tiêu 15.470 học sinh, cho thấy tỷ lệ cạnh tranh cao trong kỳ tuyển sinh năm nay. Sở Giáo dục và Đào tạo đã triển khai các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định số 93/2025/NĐ-CP của Chính phủ, nhằm đảm bảo các cơ sở giáo dục thực hiện đúng quy định và nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục. Sở cũng ban hành hướng dẫn về kinh phí tuyển sinh cho các cấp học, đảm bảo quá trình tuyển sinh diễn ra minh bạch và đúng quy định. 5. Tình hình an ninh, trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 54 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (tăng 12 vụ so với tháng trước) làm 01 người chết, 16 người bị thương, thiệt hại tài sản 11,2 tỷ đồng, đã điều tra làm rõ 50/54 vụ (đạt 92,6%), bắt giữ 99 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 733,5 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/5/2025, toàn tỉnh xảy ra 118 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 70 người chết và 105 người bị thương (so với cùng kỳ giảm 9 vụ, tăng 15 người chết, tăng 02 người bị thương). Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/5/2025, toàn tỉnh xảy ra 27 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người. Số tiền thiệt hại khoảng 102,2 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ cháy, nổ giảm 43 vụ, giá trị thiệt hại giảm 329,4 triệu đồng. Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến 15/5/2025, toàn tỉnh phát hiện 102 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 99 vụ với số tiền xử phạt là 1.050,5 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ vi phạm giảm 319 vụ, số vụ xử phạt giảm 262 vụ, số tiền xử phạt giảm 2.753 triệu đồng./.
Tưng bừng Ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6 tại Chi cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc
- 31/05/2025 15:58
Hòa chung không khí vui tươi, rộn ràng của ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6, chiều ngày 30/5/2025, Công đoàn phối hợp với Đoàn Thanh niên Chi cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức chương trình chào mừng ngày Quốc tế Thiếu nhi và khen thưởng các cháu có thành tích trong năm học 2024-2025. Tham dự có đồng chí Đỗ Minh Tâm – Chủ tịch Công đoàn, đồng chí Nguyễn Minh Vinh – Phó chi cục trưởng; toàn thể các cháu thiếu niên, nhi đồng là con công chức, người lao động trong đơn vị. Phát biểu tại chương trình, đồng chí Nguyễn Minh Vinh gửi lời chúc mừng đến các cháu nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi, đồng thời mong muốn các cháu tiếp tục chăm ngoan, học giỏi, là niềm tự hào của gia đình và xã hội. Đồng chí Nguyễn Minh Vinh phát biểu tại chương trình Đại diện lãnh đạo cơ quan đã trao quà cho các cháu có thành tích trong học tập và đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Phần thưởng là sự ghi nhận và khích lệ tinh thần, góp phần tiếp thêm động lực để các con tiếp tục cố gắng trong chặng đường học tập sắp tới.Đ/c Đỗ Minh Tâm và đ/c Nguyễn Minh Vinh trao thưởng cho các cháu có thành tích trong năm học Bên cạnh nội dung trao thưởng, chương trình còn tổ chức các hoạt động vui chơi, giao lưu tạo ra không khí vui tươi, thân mật để lại nhiều kỷ niệm đẹp trong lòng các con. Chương trình đã thể hiện sự quan tâm thiết thực của lãnh đạo cơ quan đối với thế hệ măng non – những chủ nhân tương lai của đất nước, góp phần tạo động lực tinh thần cho công chức, người lao động yên tâm công tác, gắn bó với cơ quan. Tin bài: Nguyễn Thị Huyền Trang
Lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
- 09/05/2025 15:33
TTĐT - Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 tổ chức lấy ý kiến Nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.Thời gian lấy ý kiến bắt đầu từ ngày 06/5/2025 và hoàn thành vào ngày 05/6/2025.Việc lấy ý kiến nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động trí tuệ, tâm huyết và tạo sự đồng thuận, thống nhất cao của toàn dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013, bảo đảm Hiến pháp phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.Đối tượng lấy ý kiến: Các tầng lớp Nhân dân; các cơ quan, tổ chức ở Trung ương và địa phương; MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên; các chuyên gia, nhà khoa học.Nội dung lấy ý kiến: Toàn bộ dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, bao gồm bố cục, nội dung và kỹ thuật trình bày.Các cá nhân có thể góp ý kiến trực tiếp trên ứng dụng VNeID, Cổng Thông tin điện tử Quốc hội, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cổng Thông tin điện tử các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc gửi ý kiến bằng văn bản gửi đến các cơ quan có trách nhiệm tổng hợp ý kiến của Nhân dân.Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bình Dương đăng tải toàn văn các tài liệu phục vụ lấy ý kiến, bao gồm: Kế hoạch số 05/KH-UBDTSĐBSHP ngày 05/5/2025 của Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 về tổ chức lấy ý kiến Nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013; Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013; Bản thuyết minh về dự thảo Nghị quyết; Bản so sánh các nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 với quy định hiện hành của Hiến pháp. Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp
Giao lưu thể thao ngành Thống kê Vĩnh Phúc năm 2025
- 05/05/2025 10:22
Thiết thực chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025); ngày Quốc tế lao động 01/5; 71 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2025) và 79 năm ngày thành lập ngành Thống kê Việt Nam (06/5/1946 - 06/5/2025), Cơ quan phối hợp với Công đoàn, Chi đoàn thanh niên Chi cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức Giao lưu thể thao ngành Thống kê Vĩnh Phúc năm 2025. Tham gia giao lưu thể thao có 35 vận động viên là công chức và người lao động đang làm việc tại các Phòng thuộc cơ quan Chi cục và Đội Thống kê các huyện, thành phố thuộc tỉnh. Các VĐV tham gia thi đấu ở 02 nội dung: Cầu lông và Bóng chuyền hơi. Với tinh thần giao lưu, đoàn kết và vui khỏe, các vận động viên đã thi đấu nhiệt tình, nghiêm túc chấp hành quy định của Ban Tổ chức, mang đến những trận đấu sôi nổi, gần gũi và đầy tiếng cười. Sự điều hành khách quan của tổ trọng tài cùng sự cổ vũ nhiệt tình từ khán giả đã góp phần tạo nên bầu không khí thân thiện, hào hứng và gắn kết. Bên cạnh ý nghĩa chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của Đất nước, ngày kỷ niệm của Ngành, giao lưu thể thao còn là hoạt động nhằm thắt chặt tinh thần đoàn kết, gắn bó của công chức và người lao động trong toàn ngành; tạo điều kiện giao lưu, học tập, trao đổi kinh nghiệm, đẩy mạnh phong trào văn nghệ, thể thao trong toàn ngành; góp phần rèn luyện sức khỏe cho công chức và người lao động phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ngành. Một số khoảnh khắc ấn tượng của các VĐV tham gia giao lưu thể thao ngành Thống kê Vĩnh Phúc: Tin bài: Phùng Thị Kiều Loan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2025
- 05/05/2025 08:32
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Tháng 4/2025, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định. Các địa phương hoàn thành gieo trồng vụ Xuân đúng khung thời vụ, đảm bảo điều kiện sinh trưởng cho cây trồng. Sản xuất chăn nuôi tiếp tục phát triển tích cực nhờ giá bán sản phẩm ổn định và công tác phòng, chống dịch bệnh được thực hiện hiệu quả, không phát sinh dịch bệnh nguy hiểm. Lĩnh vực lâm nghiệp và thủy sản duy trì tăng trưởng ổn định, sản lượng khai thác và nuôi trồng tăng so với cùng kỳ, góp phần đảm bảo nguồn cung cho thị trường. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Tính đến 20/4/2025, các địa phương trong tỉnh đã gieo trồng xong các loại cây trồng vụ xuân theo đúng khung thời vụ. Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 36.950,0 ha, đạt 99,33% kế hoạch và giảm 1,07% so với cùng kỳ. b. Chăn nuôi Tháng 4/2025, thời tiết bắt đầu vào thời kỳ nắng nóng, nên công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh, tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm đã được tăng cường trên địa bàn. Ước tính đến cuối tháng 4/2025, đàn trâu, bò toàn tỉnh giảm 11,76% so với cùng kỳ, riêng đàn bò sữa ổn định và tăng nhẹ. Đàn lợn tăng 2,62% nhờ giá bán sản phẩm duy trì ở mức cao; chăn nuôi gia cầm có dấu hiệu phục hồi, tổng đàn tăng 1,55% khi giá sản phẩm ổn định hơn so với tháng trước. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng ước đạt 10.818,4 tấn, tăng 2,35% so cùng kỳ (trong đó thịt lợn tăng 3,22%; thịt gia cầm tăng 0,81%); trứng gia cầm đạt 67,3 triệu quả, tăng 3,94%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, tổng sản lượng thịt hơi đạt 48.875,8 tấn, tăng 2,11%; trứng gia cầm đạt 288,4 triệu quả, tăng 3,97% so cùng kỳ. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Tháng 4/2025, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 165,2 ha, tăng 0,98% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm đạt 374,0 ha, tăng 13,37%. Sản lượng gỗ khai thác tháng 4 đạt 4.385,0 m³, tăng 4,68%; cộng dồn 4 tháng đạt 16.011,8 m³, tăng 3,27% so với cùng kỳ. 1.3. Sản xuất thuỷ sản Sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh trong tháng ổn định; các cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất thủy sản tiếp tục được thực hiện và phát huy hiệu quả. Tổng sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.912,9 tấn, tăng 3,52% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng cá đạt 1.910,0 tấn (tăng 3,54%). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2025, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 7.440,9 tấn, tăng 3,54% so với cùng kỳ, chủ yếu tăng từ nuôi cá. 2. Sản xuất công nghiệp Tháng 4/2025, sản xuất công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực mặc dù chịu tác động từ chính sách thương mại quốc tế[1]. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tăng 6,15% so với tháng trước và tăng 14,39% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, ước tính IIP tăng 13,36%, cao hơn mức tăng 9,13% cùng kỳ năm 2024. - So với cùng kỳ: Ngành khai khoáng giảm 41,89%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,45%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 7,03%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,39%. Chỉ số sản xuất các ngành công nghiệp chủ lực tháng 4/2025 và 4 tháng đầu năm so với cùng kỳ cụ thể như sau: Ngành sản xuất linh kiện điện tử tăng mạnh nhờ đa dạng hóa thị trường và nhiều dự án mới vào hoạt động (tháng 4/2025 tăng 27,37%, lũy kế 4 tháng đầu năm tăng 15,30%); ngành sản xuất ô tô duy trì ổn định nhờ sức mua cải thiện (giảm 0,27% trong tháng 4 và tăng 16,28% trong 4 tháng đầu năm); ngành sản xuất xe máy gặp khó khăn do cầu tiêu dùng yếu và cạnh tranh từ xe điện nên sản xuất giảm (giảm 19,52% trong tháng 4 và tăng 0,06% trong 4 tháng); ngành sản xuất gạch chịu tác động từ thị trường bất động sản trầm lắng và cạnh tranh sản phẩm nhập khẩu (giảm 10,00% trong tháng 4 và tăng 2,66% trong 4 tháng); ngành sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng mạnh nhờ duy trì đơn hàng xuất khẩu và cải tiến công nghệ (tăng 18,46% trong tháng 4 và tăng 34,12% trong 4 tháng đầu năm). Sản phẩm sản xuất chủ yếu: Tháng 4/2025, ngoài gạch ốp lát và xe máy các loại có sản lượng giảm so với cùng kỳ năm trước, các sản phẩm chủ yếu còn lại đều có sản lượng tăng. Tính chung 4 tháng đầu năm, ước tính sản lượng sản xuất của một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh như thức ăn gia súc, giày thể thao, gạch ốp lát, doanh thu linh kiện điện tử, xe ô tô các loại đều tăng so với cùng kỳ; riêng sản lượng xe máy các loại giảm với mức giảm 1,42%. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 4/2025, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 4,95% so với tháng trước và giảm 1,77% so với cùng kỳ. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 4/2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho giảm 7,44% so với tháng trước và giảm 16,64% so với cùng kỳ. So với tháng trước, 09 ngành công nghiệp cấp 2 có chỉ số tồn kho tăng, 08 ngành có chỉ số tồn kho giảm, riêng ngành sản xuất kim loại có chỉ số tồn kho không thay đổi. 3. Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp 3.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước Tháng 4/2025, tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn NSNN ước đạt 601,58 tỷ đồng, tăng 16,95% so với tháng trước, giảm 5,88% so với cùng kỳ năm trước Vốn đầu tư thực hiện chủ yếu gia tăng từ các công trình trọng điểm có nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh (ước đạt 282,22 tỷ đồng, giảm 0,10%). Tính chung 4 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư ước đạt 2.051,55 tỷ đồng, đạt 25,64% kế hoạch Trung ương giao năm 2025 và tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 778,35 tỷ đồng, tăng 2,26%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 716,13 tỷ đồng, giảm 9,37%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 557,07 tỷ đồng, tăng 30,32% so với cùng kỳ năm trước. 3.2. Thu hút đầu tư trực tiếp Bốn tháng đầu năm 2025, kết quả thu hút đầu tư ở khu vực DDI có sự khởi sắc: Tính đến ngày 15/4/2025, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký cho 16 dự án (07 dự án cấp mới, 09 dự án điều chỉnh) với tổng vốn đăng ký đạt 1.841,26 tỷ đồng; tăng 33,33% số dự án so với cùng kỳ và đạt 61,38% kế hoạch cả năm. Khu vực FDI, tính đến 15/4/2025, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận cho 27 dự án (11 dự án cấp mới và 16 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 163,17 triệu USD, giảm 55,06% so với cùng kỳ. Các quốc gia đầu tư truyền thống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc vẫn là những đối tác quan trọng và gắn bó lâu dài trong định hướng phát triển kinh tế của tỉnh; trong đó, Hàn Quốc là quốc gia đầu tư lớn nhất với 70,72 triệu USD (cho 11 dự án), chiếm 43,34% tổng vốn đăng ký. Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là ngành mũi nhọn về thu hút đầu tư FDI với 26 dự án; tổng số vốn 162,22 triệu USD, chiếm 99,42% tổng vốn đăng ký. 3.3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Tháng 4/2025, tình hình đăng ký doanh nghiệp ghi nhận sự chuyển biến tích cực với số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng khá; có 203 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký đạt 1.492 tỷ đồng; so với tháng trước, tăng 32,68% về số doanh nghiệp và tăng 82,29% về vốn đăng ký. Lũy kế đến 20/4/2025, toàn tỉnh có 547 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 3.378 tỷ đồng và 4.321 lao động; so với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 18,91%, vốn đăng ký giảm 32,62% và số lao động giảm 5,80%. Trong 4 tháng đầu năm 2025, có 221 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp mới thành lập và quay trở lại lên 768 doanh nghiệp, tăng 18,52% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giải thể vẫn có chiều hướng gia tăng với 851 doanh nghiệp, tăng 25,70% so với năm trước, cho thấy còn nhiều khó khăn và thách thức đối với một số ngành kinh doanh. 4. Thương mại, dịch vụ Tháng 4/2025, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ sự ổn định của thị trường hàng hóa và nhu cầu sử dụng dịch vụ gia tăng trong dịp các kỳ nghỉ lễ dài ngày. Nguồn cung hàng hóa thiết yếu và nguyên vật liệu sản xuất được đảm bảo, các hoạt động vui chơi giải trí, du lịch, ăn uống diễn ra sôi động, thúc đẩy tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng cao so với cùng kỳ. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 4/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.399,4 tỷ đồng, tăng 5,84% so với tháng trước và tăng 16,84% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2025, tổng mức ước đạt 28.416,8 tỷ đồng, tăng 13,32% so với cùng kỳ. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 4/2025 ước đạt 5.866,9 tỷ đồng, tăng 6,62% so với tháng trước và tăng 16,23% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 22.516,4 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 4/2025 ước đạt 654,3 tỷ đồng, tăng 2,71% so với tháng trước và tăng 26,22% so với cùng kỳ, nhờ nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng, tổ chức liên hoan trong dịp lễ tăng cao. Lũy kế 4 tháng đầu năm, doanh thu đạt 2.486,7 tỷ đồng, tăng 22,47% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành tháng 4/2025 đạt 24,0 tỷ đồng, tăng mạnh 62,20% so với tháng trước nhưng giảm 9,02% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm, doanh thu đạt 64,3 tỷ đồng, giảm 3,82% do xu hướng du lịch tự túc và đặt dịch vụ trực tuyến. Doanh thu dịch vụ khác tháng 4/2025 đạt 854,2 tỷ đồng, tăng 2,15% so với tháng trước và tăng 15,38% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng, đạt 3.349,3 tỷ đồng, tăng 15,82% so với cùng kỳ, trong đó dịch vụ hành chính hỗ trợ, giáo dục và các dịch vụ khác có mức tăng trưởng cao. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Tháng 4/2025, hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc diễn ra ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân và vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh, đặc biệt trong dịp các kỳ nghỉ lễ dài ngày. Doanh thu toàn ngành vận tải ước đạt 777,6 tỷ đồng, tăng 1,34% so với tháng trước và tăng 13,37% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 175,3 tỷ đồng, giảm 3,30% so với tháng trước do nhu cầu đi lại giảm sau cao điểm mùa lễ hội đầu năm, nhưng vẫn tăng 21,90% so với cùng kỳ. Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 508,1 tỷ đồng, tăng 2,49% so với tháng trước và tăng 7,03% so với cùng kỳ. Khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 4,6 triệu tấn, khối lượng luân chuyển đạt 456,8 triệu tấn.km. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tiếp tục phát triển ổn định với doanh thu ước đạt 94,2 tỷ đồng, tăng 4,28% so với tháng trước và tăng mạnh 39,78% so với cùng kỳ. 5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 5.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nướcThu ngân sách Nhà nước tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, các nguồn thu chính từ khu vực doanh nghiệp FDI, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước và thu hải quan tăng khá. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến ngày 20/4/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 11,14 nghìn tỷ đồng, tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 20/4/2025 đạt 8,75 nghìn tỷ đồng, bằng 89,73% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển (gồm cả tạm ứng) đạt 4,26 nghìn tỷ đồng, giảm 27,61%; chi thường xuyên đạt 4,40 nghìn tỷ đồng, tăng 15,38% so với cùng kỳ năm trước. 5.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụngTổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 30/4/2025 đạt 145.371 tỷ đồng, tăng 3,74% so với cuối năm 2024.Tổng dư nợ cho vay dự kiến tại thời điểm 30/4/2025 đạt 149.489 tỷ đồng, tăng 4,04% so với cuối năm 2024. Nợ xấu toàn địa bàn ước tại thời điểm 30/4/2025 là 1.380 tỷ đồng; chiếm tỷ lệ 0,92% trên tổng dư nợ. 6. Chỉ số giáSau 3 tháng liên tiếp tăng, chỉ số giá nhóm thực phẩm tháng 4/2025 đã giảm 0,90% so với tháng trước nhờ sự chỉ đạo kịp thời của Chính phủ trong việc đảm bảo cân đối cung cầu và bình ổn giá thị trường. Bên cạnh đó, mặc dù giá xăng dầu được điều chỉnh 4 lần trong tháng (2 lần tăng, 2 lần giảm), nhưng giá bán bình quân vẫn giảm 2,80% so với tháng 3/2025. Đây là những yếu tố chủ yếu góp phần làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2025 trên địa bàn tỉnh giảm 0,39% so với tháng trước. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 4 vẫn tăng 3,12%. Tính bình quân 4 tháng đầu năm 2025, CPI tăng 2,19% so với cùng kỳ. Bình quân 4 tháng đầu năm 2025, CPI tăng 2,19% so với cùng kỳ. Các yếu tố làm tăng CPI chủ yếu đến từ nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,12% do điều chỉnh giá dịch vụ khám chữa bệnh; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,73% do giá vàng và mức đóng BHYT tăng; nhóm điện sinh hoạt tăng 4,74% theo quyết định điều chỉnh giá điện; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,86%; nhóm thực phẩm tăng 3,89% do giá thịt lợn và gia cầm tăng mạnh dịp Tết; nhóm đồ uống và thuốc lá và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch lần lượt tăng 1,15% và 0,77% do nhu cầu tiêu dùng và du lịch tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số yếu tố góp phần làm giảm CPI, trong đó đáng kể nhất là nhóm giáo dục giảm 12,37% nhờ chính sách hỗ trợ học phí; nhóm giao thông giảm 2,94% do giá xăng dầu liên tục được điều chỉnh giảm; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 1,50% nhờ các chương trình khuyến mãi kích cầu tiêu dùng. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 4/2025, chỉ số giá vàng tăng 11,00% so với tháng trước, tăng 38,79% so với cùng kỳ, bình quân 4 tháng đầu năm tăng 34,95% so với cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2025 tăng 1,30% so với tháng trước, tăng 3,31% so cùng kỳ, bình quân 4 tháng đầu năm tăng 3,80% so cùng kỳ. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, giải quyết việc làm Lao động việc làm, giải quyết việc làm: Tháng 4/2025, thị trường lao động có sự biến động với xu hướng dịch chuyển công việc, số lao động thôi việc, mất việc trong kỳ tăng cao, cùng với đó là sự gia tăng đáng kể số lao động được giải quyết việc làm mới. Tính từ ngày 15/3 đến 14/4/2025, số lao động thôi việc, mất việc trên địa bàn tỉnh là 2.443 người, tăng 6,45% so với tháng trước và tăng 124,9% so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu ở khu vực công nghiệp với 2.249 người, chiếm 92% tổng số lao động thôi việc (riêng ngành sản xuất linh kiện điện tử ghi nhận 1.154 người, chiếm 47,2% tổng số lao động biến động toàn tỉnh). Số lao động được có việc làm mới tính đến ngày 15/4/2025 đạt 10.016 lao động, tăng 16,51% so với cùng kỳ và bằng 58,92% kế hoạch năm, tập trung nhiều ở khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2025 tăng 2,60% so với tháng trước và tăng 4,78% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng đầu năm, chỉ số này tăng nhẹ 0,08%. 2. Hoạt động văn hóa, thể thao Trong tháng 4/2025, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật và thể thao sôi nổi, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, tạo không khí vui tươi, phấn khởi và thu hút đông đảo du khách. Ngày 24/4/2025, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh tổ chức trưng bày chuyên đề “Văn học, nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phúc – 50 năm sau ngày đất nước thống nhất” tại thành phố Vĩnh Yên. Sự kiện giới thiệu hàng trăm tài liệu, hiện vật tiêu biểu nhằm tôn vinh những thành tựu nổi bật của đội ngũ văn nghệ sĩ Vĩnh Phúc trong nửa thế kỷ qua. Cuối tháng 4/2025, tỉnh tổ chức khai mạc Du lịch hè 2025 với chủ đề “Vĩnh Phúc - Một hành trình, vạn trải nghiệm” tại Quảng trường Hồ Chí Minh, thành phố Vĩnh Yên. Trong khuôn khổ sự kiện, nhiều hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch được triển khai tại các khu, điểm du lịch trọng điểm như Tam Đảo, Tây Thiên, Đại Lải, góp phần quảng bá hình ảnh du lịch Vĩnh Phúc an toàn, thân thiện và hấp dẫn. Bên cạnh đó, tỉnh tích cực chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Festival Khinh khí cầu Vĩnh Phúc 2025 diễn ra từ ngày 30/4 đến 04/5/2025. Sự kiện dự kiến quy tụ 30 khinh khí cầu với nhiều hoạt động phong phú như bay trải nghiệm, đại nhạc hội, diễu hành Carnaval, trưng bày sản phẩm OCOP, gian hàng ẩm thực và các trò chơi dân gian phục vụ nhân dân và du khách. Trong lĩnh vực thể thao, tỉnh tiếp tục triển khai kế hoạch tổ chức Đại hội Thể dục Thể thao các cấp lần thứ VII, giai đoạn 2025–2026. Các hoạt động thể thao được tổ chức rộng khắp tại 9 huyện, thành phố nhằm duy trì và đẩy mạnh phong trào luyện tập thể dục thể thao, nâng cao sức khỏe cộng đồng, chào mừng các ngày lễ lớn trong năm. 3. Y tế Tình hình dịch bệnh: Ngành Y tế của tỉnh tiếp tục duy trì tốt hoạt động phòng, chống dịch bệnh. Do đó, không có tình trạng dịch bệnh bất thường xảy ra và không ghi nhận trường hợp tử vong do bệnh truyền nhiễm. Trong tháng, một số bệnh truyền nhiễm phát sinh so với tháng trước: 02 ca mắc Sốt xuất huyết, giảm 01 ca; 28 ca Tay - Chân - Miệng, tăng 16 ca; 442 ca Cúm, giảm 287 ca; 78 ca Sởi, tăng 47 ca; 23 ca Thủy đậu, giảm 02 ca; 01 ca Ho gà, tăng 01 ca... các ca mắc bệnh đã được các cơ sở y tế thực hiện điều trị kịp thời, không để dịch bệnh bùng phát xảy ra. Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác phòng, chống ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm được thực hiện chủ động, thường xuyên tại tất cả các tuyến thông qua các hoạt động thanh tra, kiểm tra, truyền thông giáo dục… Trong tháng, các ngành chức năng đã tổ chức kiểm tra, giám sát 259 lượt cơ sở về vệ sinh an toàn thực phẩm; số cơ sở đạt 229 cơ sở chiếm tỷ lệ 88,42%; số cơ sở không đạt là 30 cơ sở với lỗi chủ yếu là công tác vệ sinh môi trường khu chế biến chưa đảm bảo vệ sinh. Các Đoàn thanh, kiểm tra đã tuyên truyền, nhắc nhở và hướng dẫn các cơ sở đảm bảo điều kiện ATTP trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Trong tháng 4, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Giáo dục và đào tạo Trong tháng 4/2025, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và chuẩn bị cho năm học 2025-2026. Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức tập huấn công tác tuyển sinh vào lớp 1, đảm bảo quy trình tuyển sinh diễn ra đúng quy định, minh bạch và công bằng tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn. Bên cạnh đó, ngành giáo dục cũng triển khai thực hiện Nghị định số 68/2025/NĐ-CP của Chính phủ, hướng dẫn các đơn vị giáo dục thực hiện hiệu quả các chính sách mới liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động của nhà trường. Hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4, các trường học trong toàn tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa như trưng bày sách, tọa đàm, giới thiệu sách, nhằm khuyến khích thói quen đọc sách, góp phần phát triển văn hóa đọc trong học sinh, sinh viên. 5. Tình hình an ninh, trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Tháng Tư, toàn tỉnh xảy ra 42 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (tăng 15 vụ so với tháng trước) làm 07 người bị thương, thiệt hại tài sản 3.730,83 triệu đồng, đã điều tra làm rõ 39/42 vụ (đạt 92,86%), bắt giữ 93 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 730,98 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/4/2025, toàn tỉnh xảy ra 94 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 54 người chết và 76 người bị thương (so với cùng kỳ giảm 03 vụ, tăng 13 người chết, giảm 06 người bị thương). Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/4/2025, toàn tỉnh xảy ra 25 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người. Số tiền thiệt hại khoảng 102,2 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ cháy, nổ giảm 40 vụ, giá trị thiệt hại giảm 167,4 triệu đồng. Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến 15/4/2025, toàn tỉnh phát hiện 92 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 92 vụ với số tiền xử phạt là 730,46 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ vi phạm giảm 155 vụ, số vụ xử phạt giảm 148 vụ, số tiền xử phạt giảm 1.387,9 triệu đồng./.
Kiểm tra việc thực hiện Phương án điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình; điều tra chăn nuôi thời điểm 01/4/2025
- 22/04/2025 15:43
Thực hiện Quyết định số 1693/QĐ-BKHĐT ngày 05/8/2024 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Phương án điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình (BĐDS&KHHGĐ); Quyết định số 1698/QĐ-BKHĐT ngày 05/8/2024 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) ban hành Phương án điều tra chăn nuôi. Ngày 16/4/2025; Phòng Thống kê Nông nghiệp và Xã hội - Chi cục Thống kê tỉnh tiến hành kiểm tra 02 cuộc điều tra nói trên tại huyện Bình Xuyên (Đội Thống kê số 3) và huyện Vĩnh Tường (Đội Thống kê số 5) theo Kế hoạch kiểm tra năm 2025 ban hành kèm theo Quyết định số 01/QĐ-CTK ngày 16/01/2025 của Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc.Đoàn Kiểm tra làm việc tại huyện Vĩnh Tường Tại huyện Vĩnh Tường. Theo báo cáo của Đội Thống kê số 5; căn cứ Kế hoạch số 779/KH-CCTK ngày 26/11/2025 của Chi cục Thống kê tỉnh về Phương án thực hiện điều tra BĐDS&KHHGĐ, Đội Thống kê đã tổ chức triển khai thực hiện cuộc điều tra trên địa bàn từ công tác rà soát cập nhật địa bàn, lập bảng kê hộ, tuyển chọn ĐTV, tập huấn nghiệp vụ và tổ chức cho ĐTV thực hiện điều tra tại địa bàn theo đúng thời gian quy định; Đồng thời, thường xuyên kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, sửa chữa những sai sót trong quá trình thu thập thông tin, ghi phiếu điều tra của ĐTV. Toàn huyện có 22 địa bàn với 880 hộ mẫu (40 hộ mẫu/1 địa bàn); tính đến hết ngày 16/4/2025, đã điều tra được 751/880 hộ đạt 85,3%.Đối với cuộc điều tra chăn nuôi thời điểm 01/4/2025; Đội Thống kê triển khai thực hiện theo Kế hoạch số 772/KH-CTK ngày 25/12/2024 của Cục Thống kê tỉnh về thực hiện phương án điều tra chăn nuôi. Tính đến ngày 16/4/2025, Đội Thống kê đã hoàn thành điều tra phiếu của 04 DN, HTX; 239 hộ mẫu chăn nuôi lợn và gia cầm. Công tác kiểm tra, hoàn thiện lỗi logic được Đội Thống kê khẩn trương hoàn thiện để kịp thời nghiệm thu kết quả điều tra với phòng Nông nghiệp và Xã hội - Chi cục Thống kê tỉnh vào ngày 22/4/2025.Đoàn Kiểm tra làm việc tại huyện Bình Xuyên Tại huyện Bình Xuyên; cuộc điều tra BĐDS&KHHGĐ toàn huyện có 10 địa bàn mẫu, tính đến hết ngày 16/4/2025 đã điều tra được 205/400 hộ đạt 51,25%; điều tra chăn nuôi thời điểm 01/4/2025 toàn huyện đã hoàn thành điều tra phiếu của 01 DN, HTX; 109 hộ mẫu chăn nuôi lợn và gia cầm.Đoàn Kiểm tra tại mỗi huyện chia làm 02 dây để đi kiểm tra xác minh thông tin đã được thu thập, ghi phiếu của ĐTV.Đoàn Kiểm tra tại Thôn Mỹ Khê, xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên Kết thúc quá trình kiểm tra tại cơ sở, Trưởng đoàn Kiểm tra đánh giá các Đội Thống kê đã triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định Phương án của 02 cuộc điều tra trên địa bàn. Đồng thời, chỉ ra những sai sót trong quá trình thu thập thông tin, ghi phiếu điều tra của ĐTV trên địa bàn cần được khắc phục, hoàn thiện đảm bảo công tác nghiệm thu của tỉnh. Các ý kiến, đề xuất, kiến nghị của Đoàn cũng như của các Đội Thống kê được Trưởng đoàn Kiểm tra tổng hợp, báo cáo Lãnh đạo Chi cục Thống kê tỉnh theo quy định./. Phòng Thống kê Nông nghiệp và Xã hội
Tập huấn Lập Bảng kê hộ và trang trại Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025
- 11/04/2025 10:35
Thực hiện Phương án Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 (viết gọn là TĐTNN năm 2025) được ban hành theo Quyết định số 2235/QĐ-BCĐTW ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Trưởng Ban Chỉ đạo TĐTNN năm 2025 Trung ương, Chi cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Kế hoạch tập huấn TĐTNN năm 2025 trên địa bàn tỉnh theo Văn bản số 19/KH-CCTK ngày 19/3/2025.TĐTNN năm 2025 là một trong ba cuộc Tổng điều tra thống kê quốc gia, được thực hiện định kỳ 10 năm một lần. Cuộc điều tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thu thập thông tin đầy đủ, toàn diện về thực trạng nông thôn, nông nghiệp, nông dân; phục vụ cho việc hoạch định chính sách phát triển bền vững ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và cải thiện đời sống người dân.Hội nghị tập huấn Lập bảng kê hộ và trang trạihuyện Vĩnh Tường ngày 09-11/4/2025 Tỉnh Vĩnh Phúc có 121 xã/phường/thị trấn với số lượng 1.242 thôn/TDP, số lượng TDP có hoạt động NLTS là 320; công tác tập huấn Lập bảng kê hộ và trang trại cho giám sát viên cấp tỉnh, BCĐ, Tổ thường trực và giảng viên cấp huyện được tổ chức trong hai ngày 25-26/3/2025 tại Hội trường tầng 3 của Chi cục Thống kê tỉnh. Đối với các huyện, thành phố; công tác tập huấn được các đơn vị khẩn trương triển khai, thực hiện hướng dẫn chi tiết về quy trình phân chia địa bàn điều tra, lập bảng kê hộ và bảng kê trang trại – đây là bước khởi đầu có vai trò then chốt, quyết định chất lượng toàn bộ quá trình thu thập thông tin sau này. Việc lập bảng kê chính xác sẽ đảm bảo đối tượng điều tra được xác định đúng, tránh bỏ sót hoặc trùng lặp, từ đó góp phần đảm bảo tính đại diện, độ tin cậy và hiệu quả của điều tra.Hội nghị tập huấn Lập bảng kê hộ và trang trạihuyện Yên Lạc ngày 09/4/2025 Công tác tuyên truyền cuộc Tổng điều tra cũng được BCĐ các cấp đẩy mạnh tuyên truyền với nhiều hình thức đảm bảo thực hiện thắng lợi cuộc TĐTNN năm 2025 theo quy định của BCĐTW. Tin bài: Phòng Thống kê Nông nghiệp và Xã hội
Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc quý I năm 2025
- 03/04/2025 08:03
Nhờ sự quyết liệt trong chỉ đạo điều hành và nỗ lực từ các ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp, kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc trong quý I/2025 đạt được nhiều kết quả tích cực. GRDP toàn tỉnh ước tăng 8,75% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 4,25% của quý I/2024, tiếp tục khẳng định vai trò động lực của khu vực công nghiệp – xây dựng. Các lĩnh vực khác như thu ngân sách, đầu tư phát triển, thương mại – dịch vụ, hỗ trợ doanh nghiệp và an sinh xã hội đều ghi nhận kết quả khả quan, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội những quý tiếp theo. I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) quý I/2025 ước tăng 8,75% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 4,25% của quý I/2024 và là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2020 - 2025. Cụ thể tăng trưởng các ngành như sau: 1.1. Tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì mức tăng trưởng ổn định 1,18%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 0,91%, lâm nghiệp tăng 3,20%, thủy sản tăng 3,72%. 1.2. Tăng trưởng khu vực công nghiệp - xây dựngTrong mức tăng chung, khu vực công nghiệp – xây dựng tiếp tục đóng vai trò trụ cột, tăng 12,55%, đóng góp 6,09 điểm phần trăm. Ngành xây dựng tăng 9,15%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm, cho thấy sự quyết liệt của tỉnh trong công tác đầu tư công, duy trì hoạt động đầu tư phát triển hạ tầng trên địa bàn tỉnh. 1.3. Tăng trưởng khu vực dịch vụ Quý I/2025, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn diễn ra sôi động, các lễ hội, điểm du lịch tâm linh, khu du lịch, nghỉ dưỡng trên địa bàn thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách thập phương, chất lượng phục vụ tại các nhà hàng, khách sạn… ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân. Doanh thu các ngành thương mại, dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống quý I/2025 tăng khá so với cùng kỳ. Ước tính tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt mức tăng 8,77% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 2,04 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP toàn tỉnh. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản Quý I/2025, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc diễn ra thuận lợi. Tiến độ thu hoạch cây vụ đông và gieo trồng vụ xuân đảm bảo khung thời vụ; chăn nuôi lợn phát triển tốt, sản lượng tăng khá so cùng kỳ; lĩnh vực lâm nghiệp và thủy sản duy trì ổn định, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trên địa bàn tỉnh. 2.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt: + Kết quả thu hoạch vụ đông: Năng suất, sản lượng một số cây trồng vụ đông như sau: Ngô năng suất đạt 50,31 tạ/ha (+1,85%), sản lượng 24.579,7 tấn (-5,82%); khoai lang năng suất 123,23 tạ/ha (-1,02%), sản lượng 17.283,3 tấn (+8,60%); đậu tương năng suất 21,88 tạ/ha (+4,39%), sản lượng 916,4 tấn (+9,64%); rau các loại 5.215,5 ha (-1,51%), năng suất 234,80 tạ/ha (+1,46%), sản lượng 121.848,6 tấn (-0,07%). + Gieo trồng vụ Xuân: Tính đến 20/3/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng được 36.731,2 ha cây vụ xuân, đạt 98,74% kế hoạch và giảm 1,29% (-478,6 ha) so với cùng kỳ năm 2024; trong đó, diện tích trồng lúa đạt 28.738,0 ha, giảm 0,56% so với cùng kỳ. Vụ lúa xuân năm 2025, tỉnh chủ yếu gieo cấy trà xuân với các giống ngắn ngày, năng suất cao như TBR225, Thiên ưu 8, ADI 28, ADI 168... Diện tích gieo trồng lúa xuân có xu hướng giảm qua các năm, chủ yếu do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hiệu quả kinh tế ngành nông nghiệp thấp. b. Chăn nuôi: Trong quý I/2025, chăn nuôi trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định. Công tác tuyên truyền, hướng dẫn quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, tái đàn, duy trì quy mô hợp lý được đẩy mạnh sau Tết Nguyên đán. Biện pháp phòng, chống dịch bệnh mùa rét được thực hiện hiệu quả; ngành chức năng tăng cường kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, vệ sinh thú y. Đến ngày 20/3, không ghi nhận ổ dịch nguy hiểm; các bệnh thông thường trên vật nuôi được xử lý kịp thời. Mặc dù tổng đàn một số vật nuôi giảm nhưng sản lượng chăn nuôi quý I/2025 vẫn ghi nhận mức tăng nhẹ so với cùng kỳ. Đến cuối tháng 3/2025, đàn trâu bò toàn tỉnh giảm 11,50% so với cùng kỳ; đàn bò sữa tăng nhẹ; đàn lợn tăng 2,07% nhờ giá lợn hơi duy trì ở mức khá cao; chăn nuôi gia cầm gặp khó khăn do giá sản phẩm giảm, tổng đàn giảm 0,60% so với cùng kỳ[1]. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong quý I/2025 đạt 38.057,3 tấn, tăng 2,04% so cùng kỳ (trong đó thịt lợn đạt 25.500,9 tấn, tăng 2,89%; thịt gia cầm đạt 10.944,4 tấn, tăng 0,51%); trứng gia cầm đạt 221,1 triệu quả, tăng 3,98%. 2.2. Sản xuất lâm nghiệp Quý I/2025, hoạt động lâm nghiệp tập trung vào trồng rừng, cây phân tán, chăm sóc rừng trồng, giữ ổn định độ che phủ rừng. Ước tính tháng 3/2025, các cơ sở trồng rừng trên toàn tỉnh trồng được 125,0 ha rừng trồng mới, tăng 77,48%; trồng được 237,4 nghìn cây trồng phân tán, tăng 53,16%; khai thác được 5.385,0 m3 gỗ, tăng 0,99% so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2025, toàn tỉnh trồng mới được 208,8 ha rừng tập trung, tăng 25,53% và 343,9 nghìn cây phân tán tăng 25,74%; sản lượng gỗ khai thác đạt 11.626,8 m³, tăng 2,74%. 2.3. Sản xuất thuỷ sản Sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh ổn định và tăng so với cùng kỳ nhờ mở rộng diện tích nuôi, đầu tư giống cá năng suất cao và áp dụng kỹ thuật tiên tiến. Tháng 3/2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1.703,3 tấn (+6,73%). Tính chung quý I/2025, sản lượng nuôi trồng đạt 5.528,0 tấn (+3,54%), trong đó sản lượng cá 5.523,3 tấn (+3,55%), thủy sản khác 5,7 tấn (+0,53%). Sản lượng con giống sản xuất đạt 999,5 triệu con, tăng 1,68% so với cùng kỳ. 3. Sản xuất công nghiệp Quý I/2025, tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân ổn định sản xuất, đồng thời đẩy mạnh cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng hiện đại, ưu tiên phát triển các ngành công nghệ cao. Cùng với sự hỗ trợ của các cấp ngành chức năng, các doanh nghiệp trên địa bàn đã chủ động mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhờ đó, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) quý I/2025 ghi nhận mức tăng khá (+12,74%) so với cùng kỳ, chỉ thấp hơn mức tăng 13,91% của quý I/2022 trong giai đoạn 2021-2025.Tháng 3/2025, ước tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 13,05% so với tháng trước và tăng 14,90% so với cùng kỳ. Quý I/2025, ước tính IIP tăng 12,74% so với cùng kỳ năm trước. So với cùng kỳ, ngành khai khoáng giảm 43,70%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,70%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 6,89%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 27,59%. Quý I/2025, trong các ngành công nghiệp cấp II, có tới 23/25 ngành công nghiệp có IIP tăng và chỉ có 02/25 ngành có IIP giảm so cùng kỳ. Sản lượng sản xuất một số sản phẩm: Tháng 3/2025, ngoài xe máy các loại có sản lượng giảm 7,91% so với cùng kỳ năm trước, các sản phẩm chủ yếu còn lại đều có sản lượng tăng; trong đó, thức ăn chăn nuôi tăng mạnh với mức tăng 47,95% so với cùng kỳ. Quý I/2025, ước tính sản lượng sản xuất của một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đều tăng so với cùng kỳ năm trước; trong đó, tăng cao nhất là sản phẩm điện thoại di động với mức tăng 106,5%. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn: Quý I/2025, một số doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực như dệt may, da giày, linh kiện điện tử… ký thêm được nhiều đơn hàng nên đã tăng cường tuyển dụng lao động, đáp ứng tiến độ giao hàng cho đối tác. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tháng Ba tăng 1,28% so với tháng trước và tăng 1,80% so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2025, chỉ số sử dụng lao động toàn ngành tăng 0,09% so với quý I/2024. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 3/2025, ước tăng 11,56% so với tháng trước và tăng 3,63% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, 11 ngành công nghiệp cấp 2 có chỉ số tiêu thụ tăng, một số ngành có mức tăng cao là: Ngành dệt tăng 38,97%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 57,41%; ngành sản xuất xe có động cơ tăng 97,63%. Ngược chiều, 07 ngành còn lại có chỉ số tiêu thụ giảm; trong đó, giảm mạnh nhất là ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 23,60% và ngành sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 15,96%. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 3/2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho giảm 7,75% so với tháng trước và giảm 17,10% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động của doanh nghiệp 3.1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Tình hình đăng ký doanh nghiệp trong 3 tháng đầu năm 2025 có nhiều tín hiệu tích cực với số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng khá. Tính đến ngày 20/3/2025, toàn tỉnh có 344 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.886 tỷ đồng, tăng 12,05% về số doanh nghiệp, giảm 46,36% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; dự kiến tạo thêm việc làm cho 2.489 lao động. Lũy kế 3 tháng đầu năm, số lượng doanh nghiệp tham gia quay trở lại thị trường là 189 doanh nghiệp, tăng 16,67% so với cùng kỳ, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 3 tháng đầu năm lên 533 doanh nghiệp (tăng 13,65% so với cùng kỳ); cho thấy những tín hiệu lạc quan về thị trường khi số lượng doanh nghiệp đã vượt qua khó khăn, tìm kiếm được khách hàng, thị trường và quay trở lại hoạt động cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giải thể vẫn có chiều hướng gia tăng với 764 doanh nghiệp, tăng 29,49% so với cùng kỳ; để duy trì đà tăng trưởng, tỉnh cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó khăn. 3.2. Xu hướng SXKD ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Theo đánh giá của các DN ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động SXKD quý I/2025 tích cực hơn quý IV/2024 với 70,4% DN đánh giá hoạt động tốt hơn và giữ ổn định, 29,6% DN đánh giá sẽ khó khăn hơn . Trong quý I/2025, hai yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và “tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước cao” vẫn là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động SXKD của DN với tỉ lệ DN lựa chọn lần lượt là 50,9% và 45,4%; 18,5% DN lựa chọn yếu tố “khó khăn về tài chính”, giảm 8,9 điểm phần trăm so với quý IV/2024. Dự báo tình hình SXKD trong quý II/2025: 57,4% số DN được hỏi đánh giá tốt hơn quý I/2025; 27,8% DN nhận định giữ ở mức ổn định và 14,8% DN đánh giá sẽ gặp khó khăn hơn. 4. Thương mại, dịch vụ Quý I/2025, hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng, đi lại và sản xuất kinh doanh. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng khá 11,88% so với cùng kỳ. Hoạt động vận tải ổn định, doanh thu toàn ngành tăng 8,47%; trong đó vận tải hành khách tăng mạnh 25,40% nhờ nhu cầu đi lại, du xuân đầu năm cao. 4.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 3/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (viết gọn là tổng mức) trên địa bàn ước đạt 6.943,8 tỷ đồng, tăng 5,59% so với tháng Hai và tăng 12,42% so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2025, tổng mức ước đạt 20.970,3 tỷ đồng, tăng 11,88% so với cùng kỳ. Trong đó: + Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.609,4 tỷ đồng, tăng 10,43% so với cùng kỳ. Trong 12 nhóm ngành, có 10/12 ngành hàng có doanh thu tăng, trong đó 6 ngành tăng với tốc độ hai con số: Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 68,11%; hàng may mặc tăng 30,91%; hàng hóa khác tăng 17,88%; ô tô con tăng 14,67%; nhiên liệu khác tăng 12,38%; lương thực, thực phẩm tăng 10,04%. Ngược chiều, nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 3,40% do quy định hạn chế dạy thêm; dịch vụ sửa chữa ô tô, xe máy và xe cơ giới khác giảm 11,54% do nhu cầu bảo dưỡng giảm và xu hướng sử dụng xe điện ngày càng nhiều. + Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.823,5 tỷ đồng, tăng 20,59% so với cùng kỳ. Trong đó: dịch vụ lưu trú đạt 179,9 tỷ đồng, tăng 21,68%; dịch vụ ăn uống đạt 1.643,6 tỷ đồng, tăng 20,47%. Hoạt động lễ hội, du lịch tâm linh và chất lượng phục vụ ngày càng tốt đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng doanh thu. + Doanh thu du lịch lữ hành quý ước đạt 38,6 tỷ đồng, giảm 4,85% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do xu hướng du lịch tự túc ngày càng phổ biến, người dân hạn chế sử dụng tour trọn gói từ các công ty lữ hành. + Doanh thu các ngành dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 2.498,8 tỷ đồng, tăng 16,14% so với cùng kỳ. Một số ngành có mức tăng mạnh như: dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 302,5 tỷ đồng, tăng 74,01%; dịch vụ khác đạt 419,5 tỷ đồng, tăng 67,10%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ đạt 590,6 tỷ đồng, tăng 14,5%. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Quý I/2025, hoạt động giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, thông suốt, đảm bảo an toàn và đáp ứng tốt nhu cầu di chuyển, vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán và mùa lễ hội đầu năm. Doanh thu toàn ngành vận tải, kho bãi ước đạt 2.141,1 tỷ đồng, tăng 8,47% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động vận tải hành khách tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng khá. Doanh thu quý I ước đạt 487,4 tỷ đồng, tăng 25,40% so với cùng kỳ; vận chuyển 11,5 triệu lượt hành khách, luân chuyển đạt 670,2 triệu hành khách.km. Trong quý, nhu cầu đi lại, du xuân, tham gia lễ hội, thăm thân gia tăng rõ rệt. Đặc biệt, lượng khách đến khu du lịch tâm linh Tây Thiên tăng đáng kể, góp phần làm tăng doanh thu vận tải hành khách trên địa bàn. Hoạt động vận tải hàng hóa trong quý I có phần chững lại. Doanh thu ước đạt 1.395,2 tỷ đồng, giảm 1,05% so với cùng kỳ; vận chuyển hơn 12,5 triệu tấn hàng hóa và luân chuyển đạt 1.216,9 triệu tấn.km. Trong đó, vận tải hàng hóa đường bộ đạt doanh thu 1.001,8 tỷ đồng, tăng 2,62% so với cùng kỳ; vận chuyển 5,7 triệu tấn hàng và luân chuyển 496,6 triệu tấn.km. Vận tải hàng hóa đường thủy nội địa đạt doanh thu 393,4 tỷ đồng, giảm 9,29% so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do mực nước trên sông Hồng và sông Lô ở mức thấp, ảnh hưởng đến việc di chuyển của các tàu hàng, đặc biệt là tàu có trọng tải lớn, khiến các doanh nghiệp phải giảm số chuyến vận chuyển. Hoạt động hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát diễn ra sôi động, với doanh thu quý I ước đạt 258,5 tỷ đồng, tăng 47,45% so với cùng kỳ năm trước, riêng doanh thu bưu chính chuyển phát tăng tới 140,69%. Sự phát triển của thị trường thương mại điện tử, kết hợp với hạ tầng logistics ngày càng hoàn thiện và dịch vụ giao hàng tiện lợi, nhanh chóng đã góp phần đưa lĩnh vực này trở thành một trong những điểm sáng của ngành vận tải trong quý đầu năm. II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ 1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước Quý I/2025, thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt mức tăng khá, thu từ khu vực sản xuất kinh doanh tiếp tục là nguồn đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng nguồn thu ngân sách của tỉnh. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến ngày 14/3/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 8.339,7 tỷ đồng, tăng 2,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa tăng 2,78% so cùng kỳ, tăng cao ở nguồn thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài nhà nước đạt 723,8 tỷ đồng, tăng 31,61%; thu từ doanh nghiệp nước ngoài tăng 6,03% (đạt 5.391,8 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm trước. Thu từ Hải quan đạt 984,3 tỷ đồng, tăng 4,46% so với cùng kỳ năm trước. Quản lý chi ngân sách được tăng cường, kiểm soát chi chặt chẽ, quản lý chi theo dự toán, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tính đến ngày 14/3/2025, tổng chi NSNN đạt 6.713,2 tỷ đồng, giảm 15,44% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển (bao gồm cả tạm ứng) đạt 3.637,6 tỷ đồng, giảm 32,50%; chi thường xuyên đạt 3.063,7 tỷ đồng, tăng 20,74% so với cùng kỳ. 2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn dự kiến tại thời điểm 31/3/2025 đạt 138 nghìn tỷ đồng, giảm 1,52% so với cuối năm 2024. Chủ yếu huy động từ nguồn tiền gửi dân cư, ước đạt 97 nghìn tỷ đồng, tăng 5,60%, bù đắp cho sự thiếu hụt từ tiền gửi của các tổ chức kinh tế (ước đạt 40,8 nghìn tỷ đồng, giảm 15,23%) do doanh nghiệp không có nguồn tiền nhàn rỗi, tập trung cho hoạt động sản xuất kinh doanh, một số doanh nghiệp nước ngoài chuyển lợi nhuận về nước,... nên không có tiền nhàn rỗi gửi ngân hàng dẫn đến lượng tiền gửi vào các tổ chức tín dụng trên địa bàn chưa cao. Tổng dư nợ cho vay dự kiến tại thời điểm 31/3/2025 đạt 146 nghìn tỷ đồng, tăng 1,61% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, ước đạt 108 nghìn tỷ đồng, tăng 1,23% so với cuối năm 2024, chiếm 73,97% tổng dư nợ. Nợ xấu trên địa bàn ước tại thời điểm 31/3/2025 là 1.380 tỷ đồng; chiếm 0,95% trên tổng dư nợ. 3. Hoạt động đầu tư - Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội: Tình hình thực hiện vốn đầu tư quý I/2025 trên địa bàn duy trì đà tăng trưởng tích cực, cả 3 khu vực kinh tế đều ghi nhận mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2024. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 9.682,8 tỷ đồng, tăng 8,33% so với cùng kỳ. Cụ thể: + Khu vực Nhà nước ước đạt 1.723,6 tỷ đồng, tăng 2,68%. Công tác giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh theo chỉ đạo của Chính phủ cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị đã thúc đẩy vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tăng 9,12% so với cùng kỳ năm trước (ước đạt 1.461,8 tỷ đồng), bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 492,1 tỷ đồng, tăng 2,80%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 534,1 tỷ đồng, giảm 14,33%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 435,7 tỷ đồng, tăng 83,38% so với cùng kỳ năm trước. + Khu vực ngoài Nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ lực với tổng vốn đầu tư ước đạt 4.643,2 tỷ đồng, chiếm 47,95% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tăng 12,99%. + Khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 3.316,0 tỷ đồng, tăng 5,25%, chiếm 34,25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. - Thu hút đầu tư trực tiếp: Tình hình thu hút đầu tư vẫn gặp khó khăn với mức giảm mạnh về vốn đăng ký so với cùng kỳ ở cả khu vực FDI và DDI. Tính đến ngày 15/3/2025, tỉnh đã thu hút được 08 dự án DDI (03 dự án cấp mới và 05 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đạt 445,7 tỷ đồng, giảm 78,77% so với cùng kỳ năm 2024 và đạt 14,86% so với kế hoạch năm (3.000 tỷ đồng). Môi trường đầu tư tại tỉnh Vĩnh Phúc đang tiếp tục được cải thiện và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp; chủ động nắm bắt, triển khai các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắt cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư. Khu vực FDI, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 16 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 73,24 triệu USD, giảm 36,00% về số dự án và giảm 78,90% về tổng vốn đăng ký so với cùng kỳ (trong đó cấp mới 06 dự án với tổng vốn đăng ký 21,95 triệu USD và 10 dự án điều chỉnh vốn với số vốn 51,29 triệu USD). 4. Chỉ số giá 4.1. Chỉ số giá tiêu dùng Tháng 3/2025, giá lợn hơi tăng cao do nguồn cung hạn chế tác động tới nhóm thực phẩm tăng; giá tiêu dùng điện, nước tăng do nhu cầu sử dụng của người dân tăng... là những nguyên nhân chính khiến cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Ba trên địa bàn tỉnh tăng 0,40% so với tháng trước, tăng 3,46% so với cùng kỳ. Bình quân 3 tháng đầu năm 2025, CPI tăng 1,88% so với bình quân cùng kỳ năm 2024. So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2025 tăng 0,40%. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 3/2025 tăng 3,47%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, có 8 nhóm tăng giá và 3 nhóm giảm giá. - Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 03/2024, chỉ số giá vàng tăng 5,08% so với tháng trước, tăng 34,71% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,34% so với tháng trước, tăng 3,63% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân ba tháng so cùng kỳ, chỉ số giá vàng tăng 33,69%, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,97%. 4.2. Chỉ số giá sản xuất - Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2025 giảm 1,47% so với quý trước và tăng 8,74% so với cùng kỳ năm trước. So với quý trước, mức giảm chủ yếu do nhóm cây hàng năm giảm 6,11%, trong đó giá rau, đậu và hoa giảm mạnh 14,01% nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi làm sản lượng tăng cao sau Tết. Ngược lại, nhóm cây lâu năm tăng 3,12%, và giá sản phẩm chăn nuôi lợn tăng 7,91% là các yếu tố chính kéo chỉ số chung không giảm sâu hơn. Giá sản phẩm chăn nuôi biến động trái chiều giữa các nhóm. Cụ thể, giá lợn giống và sản phẩm từ lợn tăng do nguồn cung giống giảm, các doanh nghiệp lớn chăn nuôi khép kín không bán giống ra thị trường, trong khi các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thu hẹp quy mô tái đàn. Ngược lại, giá sản phẩm gia cầm giảm 8,41% do người dân tăng đàn sau Tết nhưng sức tiêu thụ yếu. Chỉ số giá sản xuất ngành lâm nghiệp tăng 0,73% so với quý trước và tăng 0,95% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ giá lâm sản ngoài gỗ tăng 5,21%. Ngành thủy sản giảm nhẹ 0,40% so với quý trước nhưng vẫn tăng 0,58% so với cùng kỳ, trong đó nhóm nuôi trồng giảm 0,42%. - Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý I/2025 tăng 0,86% so với quý trước và tăng 0,47% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,14%, chủ yếu do chi phí nhân công, vận chuyển tăng, tác động đến giá đá xây dựng. Nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,85%; trong đó, giấy và sản phẩm từ giấy tăng 2,42%, thiết bị điện tử tăng 2,55%, sản phẩm từ cao su và plastic tăng 1,83% do giá nguyên vật liệu đầu vào và tỷ giá USD tăng. Ở chiều ngược lại, một số nhóm giảm giá như: sản phẩm trang phục giảm 2,13%, sản phẩm khoáng phi kim loại giảm 2,17%, ô tô và xe có động cơ giảm 3,87% do tồn kho lớn, doanh nghiệp giảm giá để kích cầu. Nhóm sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nước tăng 1,74% so với quý trước và tăng 7,48% so với cùng kỳ do tác động từ điều chỉnh giá điện. Nhóm xử lý nước thải, rác thải tăng 2,88% so với quý trước và 5,23% so cùng kỳ. 4.3. Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất Quý I năm 2025, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng nhẹ 0,06% so với quý trước nhưng giảm 0,54% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,06% so với quý trước và tăng 10,18% so với cùng kỳ. So với quý trước, giá giống vật nuôi tăng (lợn giống tăng 0,57%, trâu bò giống tăng 0,92%) và giá cá giống tăng 1,72% khi bước vào vụ nuôi trồng mới. Bên cạnh đó, chi phí điện phục vụ tưới tiêu tăng 0,68%. Ngược lại, giá thức ăn chăn nuôi giảm 0,82% nhờ giá nhập khẩu ngô, đậu tương giảm. Nhóm nguyên, nhiên vật liệu phục vụ công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,15% so với quý trước, ổn định so với cùng kỳ. Một số mặt hàng tăng như: thịt và sản phẩm từ thịt tăng 2,23% do dịch bệnh khiến nguồn cung giảm; sản phẩm từ dầu mỏ tăng 0,77%; hạt nhựa và hương liệu bánh kẹo tăng trên 0,5%. Trong khi đó, giá trứng gà giảm sâu 14,43% do nguồn cung dư thừa sau Tết. Nhóm nguyên, nhiên vật liệu dùng cho ngành xây dựng tăng 0,67% so với quý trước và 0,62% so với cùng kỳ. Một số mặt hàng có mức tăng: cát, đá tăng 0,93%, thiết bị chiếu sáng tăng 2,25%. Ngược lại, giá plastic, sắt thép, đồ điện dân dụng giảm nhẹ do nhu cầu tiêu thụ giảm và giá nguyên liệu đầu vào hạ nhiệt. III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Lực lượng lao động, lao động có việc làm: Quý I/2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh ước đạt 600,31 nghìn người, giảm 18,46 nghìn người (-2,98%) so với quý IV/2024 và tăng 3,91 nghìn người (+0,66%) so với cùng kỳ. Xét theo cơ cấu, lao động khu vực thành thị chiếm 32,9% (197,5 nghìn người), khu vực nông thôn chiếm 67,1% (402,8 nghìn người). Theo giới tính, lực lượng lao động nam giới chiếm 51,1% (306,9 nghìn người), nữ giới chiếm 48,9% (293,4 nghìn người). Số lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trên toàn tỉnh ước đạt 588,2 nghìn người, giảm 11,2 nghìn người (-1,87%) so với quý trước và tăng 9,48 nghìn người (+1,64%) so với cùng kỳ. Lao động đang làm việc khu vực thành thị chiếm 33,3% (195,9 nghìn người), khu vực nông thôn chiếm 66,7% (392,3 nghìn người). Về giới tính, lao động nam đang làm việc chiếm 51,6% (303,7 nghìn người), nữ chiếm 48,4% (284,5 nghìn người).Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ước đạt 1,5%, giảm 0,24 điểm phần trăm so với quý trước (1,74%) và giảm 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (1,72%). Tỷ lệ lao động có trình độ đào tạo từ sơ cấp trở lên đạt 36,5%.Số lao động thôi việc, mất việc: Tính từ ngày 15/02/2025 đến 14/03/2025, số lao động thôi việc, mất việc là 2.295 người tăng 410% so với tháng trước, tăng 38,59% so với cùng kỳ. Biến động lao động trong kỳ phản ánh đặc điểm thường gặp sau Tết Nguyên đán, khi thị trường bước vào giai đoạn chuyển đổi mùa vụ, doanh nghiệp cơ cấu lại sản xuất theo nhu cầu mới, đồng thời ghi nhận tâm lý chuyển việc của người lao động sau kỳ nghỉ dài ngày. Công tác hỗ trợ việc làm: Công tác hỗ trợ lao động tiếp tục được triển khai thông qua các chương trình tư vấn việc làm, đào tạo nâng cao tay nghề và kết nối cung - cầu lao động. Tính đến ngày 15/03/2025, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 6.423 lao động, tăng 3,63% so cùng kỳ. Trong đó: giải quyết 1.110 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 2.937 việc làm trong khu vực công nghiệp - xây dựng; 2.194 việc làm khu vực dịch vụ; 182 người đi xuất khẩu lao động. Trong quý, Trung tâm Dịch vụ việc làm đã tiếp nhận 731 lượt người đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, giải quyết 43 hồ sơ hỗ trợ học nghề, và tư vấn, giới thiệu việc làm cho 6.859 lượt người. 2. An sinh xã hội Công tác an sinh xã hội tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm triển khai hiệu quả, góp phần hỗ trợ kịp thời cho các đối tượng yếu thế, ổn định đời sống dân cư. Trong quý I/2025, công tác bảo trợ xã hội được duy trì thường xuyên. Các cơ sở bảo trợ thực hiện tốt việc chăm sóc, quản lý đối tượng, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán. Toàn tỉnh có 44.132 người đang hưởng trợ cấp xã hội, trong đó 43.671 người hưởng trợ cấp tại cộng đồng. Tổng kinh phí chi trả trong quý đạt 88,77 tỷ đồng, thực hiện theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP. Công tác chính sách đối với người có công được thực hiện đầy đủ, đúng quy trình. Tính đến nay, toàn tỉnh có 183.624 người thuộc diện người có công và đối tượng liên quan, trong đó 127.891 người được hưởng ưu đãi theo Pháp lệnh, với 17.000 người nhận trợ cấp hàng tháng. Tổng số tiền chi trả trong quý đạt 162,98 tỷ đồng, gồm trợ cấp thường xuyên và trợ cấp đột xuất. Việc hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn tiếp tục được đẩy mạnh. Tỉnh đã cấp 10.546 thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng nghèo, cận nghèo. Mặt trận Tổ quốc các cấp tăng cường huy động nguồn lực xã hội, triển khai các chương trình như “Xóa nhà tạm, nhà dột nát”, xây dựng nhà đại đoàn kết, góp phần giúp người nghèo từng bước ổn định cuộc sống và vươn lên thoát nghèo. Hoạt động cho vay chính sách được duy trì hiệu quả. Tính đến đầu tháng 3/2025, có 110.753 khách hàng đang tiếp cận nguồn vốn với tổng dư nợ trên 5.066 tỷ đồng. Trong đó, hộ nghèo là 2.390 hộ (dư nợ 173,5 tỷ đồng), hộ cận nghèo là 4.844 hộ (dư nợ 357,7 tỷ đồng). Tỉnh đã chi hỗ trợ 42,5 tỷ đồng cho các hộ nghèo, cận nghèo từ ngân sách và các nguồn vận động tài trợ. Về cấp phát thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, trong quý đã cấp 362.966 thẻ, giảm nhẹ 0,75% so với quý IV/2024. Trong đó, nhóm do tổ chức Bảo hiểm xã hội đóng là 47.948 thẻ, nhóm do ngân sách nhà nước đóng là 315.018 thẻ. 2. Giáo dục, đào tạo Lĩnh vực giáo dục và đào tạo tiếp tục được tỉnh quan tâm chỉ đạo toàn diện, triển khai nhiều giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục ở các cấp học: Bố trí nguồn kinh phí để sửa chữa trường, lớp; tuyển dụng giáo viên; đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số; liên kết hợp tác trong và ngoài nước; rà soát, quy hoạch lại mạng lưới trường lớp; đổi mới tư duy, phương pháp dạy và học nhằm phát triển toàn diện năng lực học sinh. Thực hiện Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về dạy thêm, học thêm, Sở Giáo dục và Đào tạo đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện thống nhất trên toàn tỉnh từ ngày 14/02/2025. Đồng thời, phát động phong trào thi đua năm 2025 với chủ đề: “Đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng, đoàn kết kỷ cương”, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch và tiêu chí thi đua năm học 2024–2025. Thí điểm triển khai dạy học 5 ngày/tuần đối với cấp THCS, THPT và giáo dục thường xuyên tại các cơ sở có đủ điều kiện, áp dụng từ học kỳ II năm học 2024–2025. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN) tiếp tục được chú trọng, đặc biệt trong công tác hướng nghiệp và đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Các ngành chức năng đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả quản lý đối với các cơ sở GDNN, trong đó chú trọng cơ sở ngoài công lập và trực thuộc bộ, ngành. Công tác chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, giảng viên và trách nhiệm quản lý nhà nước về GDNN cũng được tăng cường. 3. Y tế Công tác phòng bệnh và khám chữa bệnh cho Nhân dân: Trong quý I/2025, thời tiết giao mùa tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn, vi-rút gây bệnh phát triển, làm gia tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh. Ngành Y tế đã tăng cường tuyên truyền, khuyến cáo người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh như: tiêm vắc-xin đúng lịch đối với các bệnh truyền nhiễm (sởi, rubella, cúm, ho gà...), giữ ấm cơ thể, đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, vệ sinh cá nhân và môi trường. Các đơn vị y tế trên địa bàn tiếp tục chú trọng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh nhằm cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cao tại tuyến cơ sở. Nhờ triển khai đồng bộ các biện pháp, trong quý không ghi nhận các ổ dịch lớn xảy ra trên địa bàn. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác truyền thông, giáo dục và phổ biến kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường. Công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành thường xuyên thực hiện, tập trung vào các nhóm thực phẩm tiêu dùng nhiều trong dịp Tết và các cơ sở dịch vụ ăn uống. Qua kiểm tra, đã kịp thời phát hiện, xử lý những vi phạm về an toàn thực phẩm. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra. 4. Văn hóa, thể thao Hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và sức khỏe cho Nhân dân. Trong quý I/2025, tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức thành công nhiều hoạt động văn hóa kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, tiêu biểu như: Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Chào xuân mới Ất Tỵ 2025 – Tiến vào kỷ nguyên mới”; Gặp mặt kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập tỉnh Vĩnh Phúc (12/02/1950 – 12/02/2025); Triển lãm tranh cổ động kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2025); tổ chức thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ mở rộng năm 2025. Các chương trình nghệ thuật chào năm mới được đồng loạt tổ chức tại 9 huyện/thành phố với không khí vui tươi, sôi nổi, tạo điểm nhấn trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân. Hoạt động thể thao được tổ chức rộng khắp, thu hút đông đảo Nhân dân tham gia. Một số giải thể thao nổi bật gồm: Giải thể thao “Mừng Đảng – Mừng Xuân” Ất Tỵ 2025; Giải bóng chuyền da truyền thống Tây Thiên lần thứ VIII; Giải đua xe đạp đường trường “Về đất Mẫu Tây Thiên”; Lễ phát động Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2025. Phong trào luyện tập thể thao tiếp tục lan tỏa sâu rộng, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực Nhân dân, đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh. 5. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy nổ và bảo vệ môi trường. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định. Các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn xã hội được ngành chức năng xử lý kịp thời, không để xảy ra điểm nóng (đặc biệt là thời điểm diễn ra Tết Nguyên Đán). Trong quý, xảy ra 143 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội, làm 08 người chết và 30 người bị thương (giảm 44 vụ, tăng 03 người chết, tăng 11 người bị thương so với cùng kỳ năm trước), thiệt hại tài sản 29.528,025 triệu đồng, đã điều tra làm rõ 123 vụ, bắt giữ 238 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 2.471,676 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/3/2025, toàn tỉnh xảy ra 74 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 38 người chết và bị thương 63 người. So với cùng kỳ năm trước tăng 03 vụ, tăng 05 người chết và tăng 04 người bị thương. Tình hình cháy, nổ: Tính đến ngày 15/3/2025, tỉnh Vĩnh Phúc xảy ra 22 vụ cháy (04 vụ cháy rừng), giá trị thiệt hại 20,6 triệu đồng và 8 ha rừng. So với cùng kỳ, giảm 27 vụ, giảm 107 triệu đồng giá trị thiệt hại. Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/3/2025, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 91 vụ và xử lý 90 vụ vi phạm môi trường với số tiền phạt là 692 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ VPMT đã phát hiện giảm 80 vụ, đã xử lý giảm 81 vụ; số tiền xử phạt giảm 921,1 triệu đồng./.