Họp báo thông tin tình hình kinh tế - xã hội năm 2024
- 30/12/2024 15:56
Chiều 27/12, Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh tổ chức họp báo thông tin về tình hình kinh tế - xã hội năm 2024, phương hướng nhiệm vụ năm 2025. Các đồng chí: Phan Thế Huy, Tỉnh ủy viên, Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Nguyễn Hồng Phong, Cục trưởng Cục thống kê tỉnh; Lê Anh Tân, Quyền Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì hội nghị. Cùng dự có đại diện lãnh đạo một số sở, ngành, địa phương và các cơ quan báo chí, thông tin truyền thông thường trú trên địa bàn. Năm 2024, tỉnh Vĩnh Phúc triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện thuận lợi, khó khăn đan xen, trong đó có nhiều khó khăn chưa có tiền lệ. Song với sự nỗ lực, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2024 đã có sự phục hồi tốt, hầu hết các chỉ tiêu có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm 2023. Ước tính GRDP cả năm tăng 7,52% so với năm 2023, cao hơn tốc độ tăng bình quân chung của cả nước (6,8 - 7%), đạt mục tiêu kế hoạch đề ra (mục tiêu tăng từ 7,5 - 8,5%), xếp thứ 8/11 vùng Đồng bằng sông Hồng; thứ 28/63 cả nước. Giá trị GRDP bình quân đầu người ước đạt 141,3 triệu đồng/người/năm, tăng 8,7%, tương đương tăng khoảng 11,3 triệu đồng so với năm 2023. Tổng thu ngân sách Nhà nước ước đạt 31.486,9 tỷ đồng, tăng 3,5% so với dự toán Trung ương giao và tăng 4,1% so với năm 2023; thu hút đầu tư vốn FDI đạt 637,3 triệu USD, vốn đầu tư DDI đạt 5.776,5 tỷ đồng. Cùng với đó, các lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế tiếp tục được quan tâm, chỉ đạo với hơn 20.000 lao động được giải quyết; tỷ lệ hộ nghèo ước còn 0,44%, giảm 0,17% so với năm 2023.Đại diện lãnh đạo các đơn vị chủ trì hội nghịNăm 2025, Cục Thống kê tỉnh sẽ phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành để thực hiện đồng bộ việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu thống kê, đáp ứng yêu cầu phục vụ các chính sách phát triển bền vững của tỉnh. Đồng thời, các cơ chế, chính sách sẽ được triển khai hiệu quả nhằm khai thông nguồn lực, thúc đẩy hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý, tận dụng tối đa các nguồn vốn đầu tư công, và phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội.Tại buổi họp báo, đại diện các cơ quan báo chí đánh giá cao những kết quả tỉnh đạt được trong năm 2024, đồng thời, đã nêu nhiều ý kiến về các vấn như: Thu hút vốn đầu tư, hiệu quả sử dụng ngân sách, tiến độ các dự án đầu tư công, và quy hoạch đất đai. Đại diện lãnh đạo các sở, ngành đã giải đáp và cam kết khắc phục những tồn tại, tạo điều kiện phát triển đồng bộ hơn trong thời gian tới.Đại diện sở Kế hoạch - Đầu tư đọc Thông cáo báo chí tại hội nghịPhát biểu kết luận, đồng chí Phan Thế Huy ghi nhận đóng góp của các phóng viên, cơ quan báo chí trong việc phản ánh trung thực và xây dựng giải pháp cho tỉnh. Đồng chí bày tỏ mong muốn sự đồng hành của báo chí trong năm 2025 sẽ tiếp tục là động lực để Vĩnh Phúc ngày càng phát triển bền vững.Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp
Hội nghị triển khai Kế hoạch công tác năm 2025
- 20/12/2024 22:39
Ngày 20/12/2024 , Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch công tác năm 2025. Đồng chí Nguyễn Hồng Phong - Cục trưởng, chủ trì hội nghị, tham dự hội nghị có Ban lãnh đạo Cục; toàn bộ Lãnh đạo, công chức, người lao động Văn phòng Cục; Chi cục Thống kê các huyện, thành phố.Toàn bộ cán bộ, công chức Cục Thống kê, chi cục Thống kê các huyện Năm 2024, ngành Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tổng cục Thống kê (TCTK), Tỉnh ủy, UBND tỉnh; sự ủng hộ, phối hợp của các Sở, ngành, địa phương, các tổ chức và người sử dụng thông tin thống kê. Toàn ngành đã phát huy tinh thần chủ động, đoàn kết, trách nhiệm, tiếp tục đổi mới, khắc phục khó khăn, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị, nâng cao hiệu quả hoạt động; do vậy, đã hoàn thành tất cả các nhiệm vụ đặt ra tại Hội nghị triển khai Kế hoạch công tác năm 2024. Tính từ 01/10/2023-30/9/2024, toàn ngành đã giao và triển khai thực hiện trên phần mềm quản lý công việc (Taskgov) tổng số 4.357 công việc theo kế hoạch công tác, trong đó: 4.149 công việc hoàn thành đúng hạn (chiếm 95,23%); 103 công việc hoàn thành trễ hạn (chiếm 2,36%); 98 công việc chưa hoàn thành (trễ hạn) (chiếm 2,25%); 07 công việc chưa hoàn thành (còn hạn) (chiếm 0,16%). Trong năm 2024, không có công việc tồn đọng từ năm 2023 chuyển sang; các công việc phát sinh công việc ngoài kế hoạch và công việc đột xuất đều được hoàn thành. Với kết quả đỏ, cơ quan Cục đã hoàn thành toàn diện Kế hoạch công tác của Tổng cục và địa phương giao. Theo kết quả chấm điểm thi đua của Tổng cục Thống kê, đơn vị đã hoàn thành 99,21% điểm Kế hoạch được giao, xếp thứ 6/8 của vùng và thi đua thứ 25/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Đồng thời, CCTK cấp huyện đã toàn thành toàn diện kế hoạch công tác theo Quyết định số 70/QĐ-CTK ngày 02/10/2023 của Cục trưởng về việc giao kế hoạch công tác và điểm thi đua năm đạt tỷ lệ bình quân chung là 97,55%; 9/9 huyện, thành phố đều đạt trên 97% điểm kế hoạch.Cục trưởng Nguyễn Hồng Phong phát biểu tại Hội nghị Bên cạnh những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới đã được chỉ rõ cùng với các giải pháp khắc phục cụ thể vào năm 2025. Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị trong năm 2025, toàn ngành cần thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm đó là: Tổ chức triển khai, thực hiện tốt cuộc các cuộc điều tra thường xuyên theo đúng phương án điều tra, đảm bảo chất lượng thông tin được thu thập từ đơn vị điều tra; Nâng cao chất lượng biên soạn, phổ biến các báo cáo thống kê, niên giám thống kê, các ấn phẩm thống kê, đảm bảo thông tin thống kê theo Kế hoạch của Trung ương và địa phương; Thực hiện tốt công tác đánh giá, xếp loại công chức, bình xét thi đua, khen thưởng; Quản lý các nguồn kinh phí được cấp năm 2025 đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả và đúng quy định của pháp luật. Nhiệm vụ công tác của năm 2025 rất lớn với nhiều công việc quan trọng. Để thực hiện thành công Kế hoạch công tác của ngành, Lãnh đạo Cục yêu cầu Lãnh đạo các Phòng, CCTK cấp huyện ngay sau Hội nghị này cần chủ động xây dựng Kế hoạch công tác cụ thể cho đơn vị mình để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm nêu trên. Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương thức, lề lối làm việc, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ. Đối với mỗi công chức và người lao động trong toàn ngành, cần nêu cao ý thức trách nhiệm, nỗ lực khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ chính trị, xây dựng ngành Thống kê Vĩnh Phúc ngày càng phát triển. Nhân dịp này, Lãnh đạo Cục đã trao thưởng cho các đơn vị,cá nhân trong ngành có nhiều thành tích trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2023 và năm 2024. Các cá nhân có thành tích xuất sắc trong năm 2024 Tin bài: Phòng Tổ chức - Hành chính
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2024
- 02/12/2024 14:30
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản Tháng 11/2024, các địa phương trong tỉnh đã thu hoạch xong các cây trồng chính vụ mùa và triển khai gieo trồng cây vụ đông 2024-2025. Sản xuất chăn nuôi tập trung phòng dịch, chăm sóc đàn gia súc, gia cầm, chuẩn bị nguồn cung thực phẩm phục vụ thị trường cuối năm và dịp Tết Nguyên đán. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt: - Kết quả sản xuất vụ mùa: Sản xuất vụ mùa 2024 bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 3 (Yagi) và hoàn lưu của bão xảy ra vào đầu tháng Chín khiến nhiều diện tích lúa, rau màu bị ngập úng, thiệt hại cho sản xuất trồng trọt của tỉnh, làm giảm năng suất, sản lượng cây trồng. Năng suất thu hoạch ước đạt 53,31 tạ/ha, giảm 3,25 tạ/ha; sản lượng ước đạt 114.899,0 tấn, giảm 13,72% (-18.273,7 tấn). Năng suất và sản lượng các loại cây hoa màu khác: Cây ngô, năng suất thu hoạch ước đạt 44,33 tạ/ha (giảm 2,31%), sản lượng 5.507,8 tấn (giảm 23,68%); khoai lang: 94,31 tạ/ha (giảm 2,92%), sản lượng 1.698,8 tấn (giảm nhẹ); đậu tương: 18,50 tạ/ha (giảm nhẹ), sản lượng 227,8 tấn (tăng 12,83%); cây lạc: 21,22 tạ/ha (giảm 2,26%), sản lượng 1.077,9 tấn (giảm 0,58%); rau các loại: 201,72 tạ/ha (giảm 1,25%), sản lượng 44.051,1 tấn (giảm 11,73%). - Tiến độ gieo trồng vụ đông năm 2024-2025: Tính đến 15/11, toàn tỉnh đã gieo trồng được 13.607,4 ha, giảm 4,94% (706,9 ha) so với cùng kỳ. b. Chăn nuôi: Tháng 11/2024, sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định. Tính chung 11 tháng đầu năm, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 4,73% (trong đó thịt lợn hơi tăng 8,22%; gia cầm hơi giảm 1,07%); sản lượng trứng tăng 10,46%; sản lượng sữa tươi tăng 2,85% so cùng kỳ. 2.2. Sản xuất lâm nghiệp Tính đến đầu tháng 11/2024, toàn tỉnh đã trồng được 602 ha rừng tập trung, đạt 100,29%; 774,8 nghìn cây trồng phân tán đạt 102,76% so với kế hoạch đặt ra đầu năm. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng đạt 5.260 m³, tăng 9,13%; lũy kế 11 tháng đạt 46.278 m³, tăng 4,56%. Sản lượng củi khai thác trong tháng đạt 4.082 ste, tăng 0,72%; lũy kế 11 tháng đạt 44.616 ste, tăng 0,60%. 2.3. Sản xuất thủy sảnTrong tháng 11, sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh ổn định. Tính chung 11 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản đạt 22.032 tấn, giảm 2,45% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 20.270 tấn (giảm 2,77%); sản lượng khai thác đạt 1.762 tấn (tăng 1,44%); sản lượng con giống đạt 3.171 triệu con, tăng 1,80% so với cùng kỳ. 2. Sản xuất công nghiệp Tháng 11/2024, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tăng trưởng tích cực nhờ sức mua nội địa và đơn hàng xuất khẩu gia tăng. Chỉ số sản xuất (IIP) so với cùng kỳ trở lại mức tăng 2 con số, đạt 10,16%, sau khi đạt mức tăng thấp ở tháng 10/2024 (2,32%). Tính chung 11 tháng năm 2024, chỉ số IIP toàn ngành công nghiệp ước tăng 11,11% so với cùng kỳ. Chỉ số IIP tháng 11/2024 ước tính tăng 9,29% so với tháng trước và tăng 10,16% so với cùng kỳ. Tình hình một số ngành công nghiệp chủ lực trong tháng như sau:Ngành sản xuất linh kiện điện tử tiếp tục dẫn đầu trong các ngành công nghiệp chủ lực với IIP tăng 14,50% so với tháng trước và 17,92% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất ô tô tăng 0,52% so với tháng trước nhưng giảm 14,45% so với cùng kỳ. Ngành xe máy tăng 1,49% so với tháng trước và giảm nhẹ 0,68% so với cùng kỳ.Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 6,52% so với tháng trước và tăng 5,98% so với cùng kỳ; Ngành sản xuất kim loại tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 19,61% so với cùng kỳ. Sản lượng sản xuất một số sản phẩm: Ước tính 11 tháng năm 2024, sản lượng sản xuất của một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh như thức ăn gia súc, gia cầm, giày thể thao, gạch ốp lát, xe máy các loại, doanh thu linh kiện điện tử đều tăng so với cùng kỳ; ngược chiều, sản lượng xe ô tô các loại giảm.Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 11/2024, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 1,09% so với tháng trước và giảm 0,91% so với cùng kỳ.Chỉ số tiêu thụ: Tháng 11/2024, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 5,44% so với tháng trước và giảm 2,83% so với cùng kỳ. Chỉ số tồn kho: Tháng 11/2024, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho tăng 3,39% so với tháng trước và giảm 34,56% so với cùng kỳ. 3. Tình hình đăng ký doanh nghiệpLũy kế đến 15/11/2024, toàn tỉnh có 1.353 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 13.822 tỷ đồng và 10.166 lao động. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giảm nhẹ 0,81%, vốn đăng ký tăng 34,37% và số lao động tăng 15,55%.Trong 11 tháng năm 2024, có 330 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, có 1.037 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, trong đó 866 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (chiếm 83,51%). Số doanh nghiệp giải thể là 171 doanh nghiệp, tăng 25,74% so với năm trước chủ yếu tập trung vào nhóm nhỏ lẻ hoạt động không hiệu quả. Để duy trì đà tăng trưởng, tỉnh cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó khăn. 4. Đầu tư 4.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước Tháng 11/2024, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước đạt 872,1 tỷ đồng, tăng 0,23% so với tháng trước. Trong đó, vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 574,0 tỷ đồng; cấp huyện đạt 51,1 tỷ đồng; cấp xã đạt 247,0 tỷ đồng. Lũy kế 11 tháng, tổng vốn đầu tư từ nguồn Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 7.370,5 tỷ đồng, giảm 19,33% so với cùng kỳ và bằng 76,52% kế hoạch giao. 4.2. Tình hình thu hút đầu tư: Tính đến ngày 15/11/2024, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 74 dự án FDI (32 dự án cấp mới, 42 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 590,0 triệu USD, tăng 5,71% về số dự án và tăng 1,15% về vốn đăng ký so với cùng kỳ, vượt 47,50% kế hoạch giao đầu năm (400 triệu USD). Lũy kế 11 tháng năm 2024, toàn tỉnh đã thu hút được 27 dự án DDI (16 dự án cấp mới, 11 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 5.150,77 tỷ đồng, bằng 93,65% kế hoạch giao đầu năm (5.500 tỷ đồng). 5. Thương mại, dịch vụ Tháng 11/2024, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng, nhờ các chương trình xúc tiến, bình ổn giá và kích cầu tiêu dùng. Các sự kiện mua sắm như Single Day, Black Friday và nhiều hoạt động văn hóa, giải trí khác đã tạo không khí mua sắm sôi động, góp phần gia tăng doanh thu của hầu hết các nhóm ngành hàng hóa và dịch vụ so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. 5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 11/2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.428,8 tỷ đồng, tăng 2,23% so với tháng trước và tăng 16,27% so với tháng 11/2023. Đáng chú ý, doanh thu của cả bốn thành phần cấu thành của tổng mức là hoạt động bán lẻ, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ du lịch lữ hành và dịch vụ khác đều tăng với tốc độ tăng 2 con số so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2024, tổng mức ước đạt 73.276,2 tỷ đồng, tăng 10,77% so với cùng kỳ. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11/2024 ước đạt 6.104,3 tỷ đồng, chiếm 82,17% tổng mức, tăng 1,98% so với tháng trước và tăng 16,78% so với cùng kỳ. Doanh thu các nhóm ngành hàng tăng cao gồm: Lương thực, thực phẩm (+26,11%), đồ dùng gia đình (+25,68%), hàng may mặc (+25,39%), và đá quý, kim loại quý (+35,76%). Lũy kế 11 tháng, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 59.713,8 tỷ đồng, tăng 10,29% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 11/2024 ước đạt 623,3 tỷ đồng, tăng 5,57% so với tháng trước và tăng 13,13% so với cùng kỳ. Trong đó, dịch vụ lưu trú đạt 60,5 tỷ đồng, tăng 12,28%; dịch vụ ăn uống đạt 562,8 tỷ đồng, tăng 13,22%. Lũy kế 11 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 6.290,0 tỷ đồng, tăng 9,37% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành: Tháng 11/2024 đạt 24,5 tỷ đồng, giảm 27,0% so với tháng trước nhưng tăng 23,54% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng, doanh thu đạt 496,5 tỷ đồng, tăng 106,41% so với cùng kỳ, nhờ sự phục hồi du lịch và sức hút của các điểm đến như Tam Đảo, Tây Thiên. Doanh thu dịch vụ khác tháng 11/2024 ước đạt 676,7 tỷ đồng, tăng 2,97% so với tháng trước và tăng 14,46% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng, doanh thu dịch vụ khác đạt 6.775,9 tỷ đồng, tăng 12,67% so với cùng kỳ. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Tháng 11/2024, nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách tăng cao dịp cuối năm, tổng doanh thu ngành vận tải kho bãi ước đạt 753,3 tỷ đồng, tăng 1,67% so với tháng trước và tăng 16,09% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng đầu năm, doanh thu toàn ngành ước đạt 7.641,3 tỷ đồng, tăng 24,67% so với cùng kỳ năm 2023. Vận tải hành khách: Doanh thu vận tải hành khách tháng 11/2024 ước đạt 121,6 tỷ đồng, tăng 3,54% so với tháng trước và tăng 52,60% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng, doanh thu đạt 1.350,8 tỷ đồng, tăng 58,98%. Tổng số hành khách vận chuyển trong tháng ước đạt 34.847 nghìn người, luân chuyển đạt 1.849,7 triệu HK.km, lần lượt tăng 52,82% và 78,88% so với cùng kỳ. Việc mở rộng mạng lưới xe khách, xe buýt và các tuyến vận tải đường bộ đã đáp ứng tốt nhu cầu di chuyển đa dạng của người dân, đặc biệt trong mùa cao điểm cuối năm. Vận tải hàng hóa: Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 11/2024 ước đạt 539,3 tỷ đồng, tăng 1,16% so với tháng trước và tăng 4,99% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải đường bộ đạt 385,0 tỷ đồng (+5,86%), và đường thủy đạt 154,3 tỷ đồng (+2,87%). Lũy kế 11 tháng, doanh thu đạt 5.463,8 tỷ đồng, tăng 14,41%. Tổng khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 38,8 triệu tấn, tăng 95,85%, tổng luân chuyển đạt 4.654,9 triệu tấn.km, tăng 31,28%. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: Tháng 11/2024, doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ và bưu chính chuyển phát ước đạt 92,4 tỷ đồng, tăng 2,27% so với tháng trước và tăng 66,44% so với cùng kỳ. 6. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 6.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 15/11/2024, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 23.133 tỷ đồng, tăng 2,44% so với cùng kỳ, bằng 72,83% dự toán giao đầu năm. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/11/2024 đạt 20.099 tỷ đồng, giảm 7,88% so với cùng kỳ nhưng vẫn đảm bảo tiến độ chi theo kế hoạch, đạt 96,92% dự toán năm. 6.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng Tổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 30/11/2024 đạt 135 nghìn tỷ đồng, tăng 6,96% so với cuối năm 2023. Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 30/11/2024 đạt 140 nghìn tỷ đồng, tăng 9,24% so với cuối năm 2023. Tỷ lệ nợ xấu: Ước tính tại thời điểm 30/11/2024 chiếm tỷ lệ 1,05% tổng dư nợ, tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn <2%. 6.3. Bảo hiểm Ước tính đến 30/11/2024, toàn tỉnh có 1.172.679 người tham gia bảo hiểm lao động (bao gồm: BHXH bắt buộc: 236.632 người; BHXH tự nguyện: 24.720 người); tham gia BH thất nghiệp có 228.503 người; tham gia BHYT có 1.153.341 người; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95.86% dân số. 7. Chỉ số giá tiêu dùng Giá lương thực, thực phẩm giảm do nguồn cung dồi dào và nhu cầu điện sinh hoạt giảm là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2024 giảm 0,68% so với tháng trước, sau 6 tháng tăng liên tiếp. Tuy nhiên, so với cùng tháng năm trước, CPI vẫn tăng 2,89%. Bình quân mười một tháng năm 2024, CPI tăng 2,77% so với bình quân cùng kỳ. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Công tác giải quyết việc làm duy trì ổn định và đạt được kết quả tích cực. Tính đến ngày 15/11/2024, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 20.399 lao động, tăng 9,33% so cùng kỳ, vượt 19,99% kế hoạch năm 2024. Trong đó: giải quyết 4.253 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 9.098 việc làm trong khu vực công nghiệp - xây dựng; 6.205 việc làm khu vực dịch vụ; 843 người đi xuất khẩu lao động. Tính từ 15/10/2024 đến 14/11/2024, số lao động thôi việc, mất việc là 1.737 lao động, giảm 517 người với tháng trước, số lao động nghỉ giãn việc là 53 người, tăng 09 người so với tháng 10/2024. 2. Giáo dục, đào tạo Tháng 11/2024, ngành Giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc triển khai nhiều hoạt động thiết thực, nâng cao chất lượng giáo dục và tôn vinh đội ngũ nhà giáo. Nhân dịp kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, từ ngày 15 đến 20/11, các trường học trên địa bàn tỉnh đã tổ chức loạt sự kiện tri ân, tạo không khí sôi nổi và ý nghĩa; Lãnh đạo tỉnh đã trực tiếp thăm hỏi, chúc mừng một số cơ sở giáo dục, thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến ngành. Trong tháng, Tỉnh đã tổ chức lễ tuyên dương 15 giáo viên, học sinh và sinh viên dân tộc thiểu số tiêu biểu, ghi nhận nỗ lực và thành tích xuất sắc của các cá nhân. 3. Y tế Ngành Y tế trong tỉnh tiếp tục chủ động, kịp thời triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; giám sát chặt chẽ các trường hợp mắc, nghi ngờ mắc các bệnh truyền nhiễm, không để dịch lớn xảy ra trên địa bàn. Trong tháng, các ca bệnh truyền nhiễm ghi nhận gồm: tay chân miệng 18 ca (cộng dồn từ đầu năm là 240 ca); Covid-19 không phát sinh ca mắc mới (cộng dồn 543 ca); sốt xuất huyết 46 ca (cộng dồn 179 ca); thủy đậu 5 ca (cộng dồn 157 ca); cúm 345 ca (cộng dồn 3.929 ca); ho gà 1 ca (cộng dồn 26 ca). Tất cả các ca bệnh truyền nhiễm trong tháng không ghi nhận trường hợp tử vong. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được duy trì triển khai đồng bộ thông qua các hoạt động như tuyên truyền, phổ biến kiến thức và giám sát. Trong kỳ, đã có 228 lượt cơ sở được kiểm tra; trong đó: Số cơ sở đạt là 203 cơ sở (chiếm tỷ lệ 89,03%); số cơ sở không đạt là 25 cơ sở (chiếm tỷ lệ 10,97%). Không phát hiện trường hợp ngộ độc thực phẩm trong tháng. 4. Văn hóa, thể thao Trong tháng 11/2024, tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức thành công chương trình khai mạc “Liên hoan Ca Múa Nhạc toàn quốc - 2024” đợt 1 tại Nhà hát tỉnh vào ngày 21/11/2024. Liên hoan diễn ra từ ngày 21/11 đến 30/11/2024, với sự tham gia của gần 1.000 nghệ sĩ đến từ 13 đơn vị trên cả nước. Các chương trình nghệ thuật đã thu hút sự tham gia, cổ vũ của đông đảo người dân thuộc mọi lứa tuổi trong và ngoài tỉnh. Hoạt động thể thao: Trong tháng 11/2024, có 07 đoàn vận động viên tham gia thi đấu tại 08 giải thể thao quốc gia, đạt tổng cộng 22 huy chương, gồm 08 Huy chương Vàng; 05 Huy chương Bạc; 09 Huy chương Đồng. 5. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy nổ và bảo vệ môi trường. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Trong tháng 11/2024, toàn tỉnh xảy ra 72 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (tăng 19 vụ so với tháng trước), làm 02 người chết và 24 người bị thương, thiệt hại tài sản 10.407 triệu đồng. Đã điều tra làm rõ 59/72 vụ (đạt 81,94%), bắt giữ 106 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 2.566,76 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/11/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 285 vụ tai nạn giao thông (282 vụ tai nạn đường bộ, 03 vụ tai nạn đường sắt) làm 127 người chết, 219 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ, giảm 04 người chết, tăng 06 người bị thương. Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/11/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 118 vụ cháy, nổ (trong đó, 118 vụ cháy và 01 vụ nổ), làm chết 03 người và 10 người bị thương với số tiền thiệt hại là trên 2.718 triệu đồng. Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/11/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 784 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 740 vụ với số tiền xử phạt là 7.210,5 triệu đồng./. Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2024 tỉnh Vĩnh Phúc
- 02/12/2024 10:44
Trong 11 tháng năm 2024, thị trường hàng hóa thế giới có nhiều biến động do ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia. Xung đột quân sự, biến động chính trị, bất ổn tiếp tục leo thang tại một số nước, kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, thiếu vững chắc. Thị trường tài chính, tiền tệ, giá vàng, xăng dầu, hàng hóa, vận tải thế giới biến động liên tục… Trong nước, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, giúp giá hàng hóa và dịch vụ ổn định. Tại tỉnh Vĩnh Phúc, do ảnh hưởng của cơn bão Yagi gây ra tình trạng khan hiếm các mặt hàng như rau, củ quả, thực phẩm dẫn đến tăng giá cục bộ. Các Sở, ngành, địa phương tăng cường công tác cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ nhân dân bị ảnh hưởng bởi bão lũ, khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai, đẩy mạnh khôi phục sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo đó, giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường nhìn chung không có biến động bất thường, lạm phát trong tầm kiểm soát. CPI tháng 11/2024 giảm 0,69% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,88%. Bình quân mười một tháng năm 2024, CPI tăng 2,77% so với bình quân cùng kỳ. So với tháng trước, CPI tháng 11/2024 giảm 0,69% (khu vực thành thị giảm 0,41%; khu vực nông thôn giảm 0,81%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 07 nhóm hàng tăng giá; 04 nhóm hàng giảm giá. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 11/2024 tăng 2,88%. Một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có sự biến động về giá và đóng góp vào mức tăng CPI chung như sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,16%, tác động làm CPI chung tăng 1,72 điểm phần trăm, trong đó nhóm lương thực tăng 8,22% chủ yếu ở mặt hàng gạo tăng 10,58% do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu; Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,68% tác động làm CPI chung tăng 0,69 điểm phần trăm chủ yếu do giá nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 5,44%; Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 6,17% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI chung tăng 0,44 điểm phần trăm do tỉnh áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT ngày 17/11/2023 của Bộ Y tế đã tác động làm cho nhóm dịch vụ y tế tăng 7,78%. Ở chiều ngược lại, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 3,88%, tác động làm CPI chung giảm 0,27 điểm phần trăm do nhiều cửa hàng mở các chương trình khuyến mãi để kích cầu tiêu dùng; Nhóm giao thông giảm 2,74% tác động làm CPI giảm 0,26 điểm phần trăm do sự điều chỉnh của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam đã làm cho nhóm nhiên liệu giảm 11,48%; Nhóm giáo dục giảm 0,88% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI giảm 0,06 điểm phần trăm do tỉnh được miễn học phí theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh đã tác động tới nhóm dịch vụ giáo dục giảm 1,46%. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 11/2024 so với cùng kỳ năm trước (%) Tính chung 11 tháng đầu năm nay, CPI tăng 2,77% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng cao theo nhu cầu của người dân; giá học phí của các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh được điều chỉnh tăng trong năm học 2024-2025; giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT của Bộ Y tế; bảo hiểm y tế tăng theo lương cơ sở và giá điện sinh hoạt tăng. Ảnh minh họa. Nguồn: Internet Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ: Tháng 11/2024, chỉ số giá vàng tăng 2,70% so với tháng trước, tăng 42,73% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,13% so với tháng trước; tăng 4,09% % so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 11 tháng năm 2024, chỉ số giá vàng tăng 32,69%; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 5,62% so với cùng kỳ. Tác giả: Bùi Thục Anh
Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội 10 tháng đầu năm 2024
- 04/11/2024 15:51
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ Tháng 10/2024, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định. Các địa phương hoàn thành thu hoạch cây trồng vụ mùa và triển khai gieo trồng vụ đông 2024-2025 đúng khung thời vụ. Trong chăn nuôi, người dân tập trung tái đàn và chăm sóc gia súc, gia cầm nhằm đảm bảo nguồn cung cho nhu cầu cuối năm và các dịp lễ, tết; tổng số lượng và sản lượng gia súc, gia cầm tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt: Diện tích trồng lúa vụ mùa toàn tỉnh đạt 23.430,81 ha, giảm 112,7 ha (chiếm 73,30% tổng diện tích gieo trồng vụ mùa); trong đó, có hơn 9.000 ha lúa bị ngập úng và mất trắng. Năng suất lúa thu hoạch đạt 53,05 tạ/ha, giảm 3,51 tạ/ha; sản lượng đạt 114.218,6 tấn, giảm 18.954,1 tấn. Các loại cây hoa màu khác cũng giảm về năng suất và sản lượng: Cây ngô, năng suất thu hoạch đạt 44,28 tạ/ha (giảm 1,1 tạ/ha), sản lượng 5.598,6 tấn (giảm 22,42%); Khoai lang: 94,31 tạ/ha (giảm 2,84 tạ/ha), sản lượng 1.698,8 tấn; Đậu tương: 18,50 tạ/ha, sản lượng 227,8 tấn (tăng 25,9 tấn); Cây lạc: 20,90 tạ/ha (tăng 0,17 tạ/ha), sản lượng 1.061,9 tấn (giảm 22,3 tấn); Rau các loại: 196,41 tạ/ha (giảm 7,79 tạ/ha), sản lượng 42.948,2 tấn (giảm 6.973,8 tấn). - Tiến độ gieo trồng vụ đông năm 2024-2025: Tính đến 15/10/2024, toàn tỉnh đã gieo trồng được 11.074,1 ha, đạt 76,37% kế hoạch, giảm 6,22% tương ứng giảm 734,6 ha so với cùng kỳ. b. Chăn nuôi: Tính chung 10 tháng đầu năm, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 4,51% (trong đó thịt lợn hơi tăng 8,27%; gia cầm hơi giảm 1,90%); sản lượng trứng tăng 9,80%; sản lượng sữa tươi tăng 2,93% so cùng kỳ. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Tính đến đầu tháng 10/2024, toàn tỉnh đã trồng được 600 ha rừng tập trung, hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2024. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán toàn tỉnh trong tháng Mười ước đạt 56,8 nghìn cây, lũy kế 10 tháng đầu năm đạt 770 nghìn cây, vượt 16 nghìn cây so với kế hoạch năm (754 nghìn cây). Sản lượng gỗ khai thác trong tháng đạt 5.077,0 m³, tăng 10,17% (468,7 m³); lũy kế 10 tháng đạt 41.018,1 m³, tăng 4,01% (1.579,8 m³). Sản lượng củi khai thác trong tháng đạt 4.101,0 ste, giảm 0,49% (20,3 ste); lũy kế 10 tháng đạt 40.534,4 ste, tăng 0,59% (237,1 ste). 1.3. Sản xuất thuỷ sản Tính chung 10 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản đạt 20.428,0 tấn, tăng 134,6 tấn so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 18.834,4 tấn (tăng 116,5 tấn); sản lượng khai thác 1.593,6 tấn (tăng 18,1 tấn); sản lượng con giống đạt 3.107,3 triệu con, tăng 1,74% so với cùng kỳ. 2. Sản xuất công nghiệp Tính chung 10 tháng đầu năm, chỉ số IIP toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc ước tính tăng 11,15% so với cùng kỳ. Tình hình một số ngành công nghiệp chủ lực trong tháng như sau: - Ngành sản xuất linh kiện điện tử chỉ số sản xuất tháng 10/2024 tăng 5,12% so với tháng trước và 3,89% so với cùng kỳ. - Ngành sản xuất ô tô tăng 8,77% so với tháng trước và giảm 6,10% so với cùng kỳ; ngành sản xuất xe máy tăng 12,85% so với tháng trước và giảm 6,23% so với cùng kỳ. - Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 4,45% so với tháng trước và tăng 14,54% so với cùng kỳ; ngành sản xuất kim loại tăng 22,50% so với tháng trước và tăng 5,95% so với cùng kỳ. Nhu cầu xây dựng cuối năm gia tăng thúc đẩy sản xuất, tuy nhiên ngành sản xuất khoáng phi kim loại giảm so tháng trước do lượng hàng tồn kho cao. - Ngành sản xuất trang phục tăng 6,33% so với tháng trước và tăng 2,28% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 10/2024, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 3,12% so với tháng trước và tăng 2,53% so với cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ: Tháng 10/2024, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 6,04% so với tháng trước và giảm 2,33% so với cùng kỳ. Chỉ số tồn kho: Tháng 10/2024, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho giảm 2,62% so với tháng trước và giảm 25,78% so với cùng kỳ. 3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Lũy kế đến 15/10/2024, toàn tỉnh có 1.226 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 10.137 tỷ đồng và 9.487 lao động. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giảm 1,61%, vốn đăng ký tăng 7,79% và số lao động tăng 18,09%. 4. Đầu tư 4.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước Lũy kế 10 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư từ nguồn Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 6.504,9 tỷ đồng, giảm 13,91% so với cùng kỳ và bằng 67,53% kế hoạch giao. So với kế hoạch năm, kết quả thực hiện vốn ngân sách nhà nước đạt tỷ lệ cao nhất ở cấp xã, với 1.576,2 tỷ đồng, bằng 79,93% kế hoạch; vốn ngân sách cấp tỉnh ước đạt 3.224,9 tỷ đồng, đạt 68,81%; ngân sách cấp huyện đạt 1.703,8 tỷ đồng, bằng 57,30%. 4.2. Tình hình thu hút đầu tư: Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/10/2024, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 69 dự án FDI, gồm 30 dự án cấp mới và 39 dự án điều chỉnh vốn, với tổng vốn đăng ký đạt 581,4 triệu USD. So với cùng kỳ, số dự án FDI thu hút trong năm tăng 6,15%, vốn đăng ký tăng 4,25%, vượt 45,35% so với kế hoạch đầu năm (400 triệu USD). Kết quả thu hút DDI đạt 23 dự án (15 dự án cấp mới, 08 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 4.968,5 tỷ đồng, bằng 90,34% kế hoạch giao đầu năm (5.500 tỷ đồng). 5. Thương mại, dịch vụ Tháng 10/2024, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tiếp tục đà tăng trưởng. Các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh bước vào giai đoạn cao điểm kinh doanh cuối năm nhằm tăng doanh thu và hoàn thành mục tiêu cả năm. Công tác bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu và các giải pháp kích cầu tiêu dùng nội địa được triển khai hiệu quả với nhiều chương trình khuyến mại từ các trung tâm thương mại, siêu thị bán lẻ, cửa hàng và chợ địa phương. 5.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 10/2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.326,2 tỷ đồng, tăng 1,59% so với tháng trước và 16,49% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm, tổng mức ước đạt 65.906,6 tỷ đồng, tăng 10,29% so với cùng kỳ. Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 10 đạt 6.074,5 tỷ đồng, chiếm 82,91% tổng mức, tăng 1,86% so với tháng trước và 17,81% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống: Ước đạt 589,9 tỷ đồng, tăng 3,02% so với tháng trước và tăng 11,32% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu lưu trú đạt 60 tỷ đồng, giảm 1,85% so với tháng trước; doanh thu dịch vụ ăn uống tăng 3,6%, đạt 529,9 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng, doanh thu lưu trú và ăn uống đạt 5.666,3 tỷ đồng, tăng 8,97% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành: Tháng 10/2024 đạt 24,5 tỷ đồng, giảm 46,87% so với tháng trước nhưng tăng 13,49% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm, doanh thu du lịch lữ hành đạt 462,8 tỷ đồng, tăng 109,73% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác đạt 637,3 tỷ đồng, tăng 1,27% so với tháng trước và tăng 9,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ khác đạt 6.079,4 tỷ đồng, tăng 12,11% so với cùng kỳ. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Lũy kế 10 tháng đầu năm, doanh thu ngành vận tải ước đạt 6.893,4 tỷ đồng, tăng 25,78% so với cùng kỳ. Hoạt động của từng loại hình vận tải trong tháng 10/2024 như sau: Vận tải hành khách: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 119,2 tỷ đồng, tăng 10,53% so với tháng trước và tăng 51,68% so với cùng kỳ. Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 532,2 tỷ đồng, tăng mạnh 28,64% so với tháng trước và tăng 6,89% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt hơn 3,1 triệu tấn, luân chuyển đạt 331,9 triệu tấn.km. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: Doanh thu ước đạt 95 tỷ đồng, tăng 16,77% so với tháng trước và tăng 78,52% so với cùng kỳ. 6. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 6.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 15/10/2024, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 21.320 tỷ đồng, tăng 10,44% so với cùng kỳ, bằng 67,12% dự toán giao đầu năm. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/10/2024 đạt 18.576 tỷ đồng, giảm 6,63% so với cùng kỳ nhưng vẫn đảm bảo tiến độ chi theo kế hoạch, đạt 89,58% dự toán năm. 6.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng Mặt bằng lãi suất trên địa bàn có xu hướng tăng lãi suất tiền gửi, giảm lãi suất cho vay, chủ yếu áp dụng cho các giao dịch phát sinh mới trong kỳ, cụ thể: Lãi suất của những khoản tiền gửi mới có xu hướng tăng, bình quân ở mức 3,8%/năm, tăng 0,28%; Lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,21%; giảm 0,88% so với cuối năm 2023. Tính chung, mặt bằng lãi suất huy động bằng VNĐ phổ biến từ 0,2-6%/năm đối với từng kỳ hạn; lãi suất cho vay trên địa bàn phổ biến từ 3,5-10,5%/năm đối với từng kỳ hạn và đối tượng. Tổng nguồn vốn huy động tại thời điểm 31/10/2024 dự kiến đạt 131 nghìn tỷ đồng, tăng 3,79% so với cuối năm 2023 Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 31/10/2024 đạt 138,5 nghìn tỷ đồng, tăng 8,07% so với cuối năm 2023. Tỷ lệ nợ xấu: Tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn <2%, ước tính tại thời điểm 31/10/2024 đạt 1.450 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,05%. 6.3. Bảo hiểm Ước tính đến 31/10/2024, toàn tỉnh có 1.185.853 người tham gia bảo hiểm các loại. Trong đó, có 262.029 người tham gia BHXH, chiếm 43,3% lực lượng lao động, tăng 5,75% so với cùng kỳ (bao gồm: BHXH bắt buộc: 237.390 người; BHXH tự nguyện: 24.639 người); tham gia BH thất nghiệp có 228.065 người; tham gia BHYT có 1.161.214 người; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95.86% dân số. Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại đến hết tháng 10 năm 2024 ước đạt 5.804 tỷ đồng, đạt 82,76% kế hoạch giao và tăng 15,73% so với cùng kỳ năm 2023. Trong 10 tháng đầu năm BHXH tỉnh đã giải quyết hưởng BHXH hàng tháng cho 645 người; giải quyết hưởng BHXH một lần cho 12.820 người; giải quyết ốm đau, thai sản, dưỡng sức cho 109.468 lượt người; lập danh sách chi trả cho 9.768 lượt người hưởng bảo hiểm thất nghiệp. 7. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2024 tăng 0,33% so với tháng trước, so với năm trước tăng 2,23%. Bình quân 10 tháng năm 2024, CPI tăng 2,76% so với bình quân cùng kỳ. - Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 10/2024, Chỉ số giá vàng tăng 6,63% so với tháng trước; tăng 44,10% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,40% so với tháng trước, tăng 5,78% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng so cùng kỳ, chỉ số giá vàng tăng 31,73%, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 5,78%. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Công tác giải quyết việc làm duy trì ổn định. Tính đến ngày 15/10/2024, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 19.604 lao động, tăng 8,83% so cùng kỳ, vượt 15,32% kế hoạch năm 2024. Trong đó: giải quyết 4.055 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 8.803 việc làm trong khu vực công nghiệp - xây dựng; 5.929 việc làm khu vực dịch vụ; 817 người đi xuất khẩu lao động. 2. Giáo dục, đào tạo Kỳ họp thứ 18 HĐND tỉnh Vĩnh Phúc khóa XVII, nhiệm kỳ 2021-2026 đã thông qua nghị quyết hỗ trợ học phí cho trẻ mầm non đến học sinh trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh trong năm học 2024-2025. Với ngân sách cấp tỉnh dự kiến khoảng 142 tỷ đồng, tỉnh sẽ hỗ trợ toàn bộ học phí cho học sinh tại các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập, bao gồm cả học sinh theo chương trình giáo dục thường xuyên. Chính sách này không chỉ thể hiện sự quan tâm của tỉnh đối với an sinh xã hội mà còn thúc đẩy ngành giáo dục và đào tạo phát triển theo hướng nhân văn và bền vững. 3. Y tế Trong tháng, các ca bệnh truyền nhiễm ghi nhận gồm: 12 ca mắc tay chân miệng (cộng dồn từ đầu năm là 222 ca); 4 ca nhiễm Covid-19 (cộng dồn 543 ca); 31 ca bệnh sốt xuất huyết (cộng dồn 133 ca); 8 ca bệnh thủy đậu (cộng dồn 152 ca); 282 ca mắc cúm (cộng dồn 3.584 ca); 2 ca mắc ho gà (cộng dồn 25 ca). Tất cả các ca bệnh truyền nhiễm trong tháng không có trường hợp tử vong. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Trong kỳ, đã có 647 lượt cơ sở đã được kiểm tra, trong đó: số cơ sở đạt 582 cơ sở (chiếm tỷ lệ 89,95%), số cơ sở không đạt 65 cơ sở (chiếm 10,04%). 4. Văn hóa, thể thao Trong tháng 10/2024, tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức thành công 15 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân nông thôn, miền núi và công nhân các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh; chào mừng diễn đàn và Đại hội Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh Vĩnh Phúc, lần thứ VI, nhiệm kỳ 2024 – 2029. Hoạt động thể thao trong tháng 10/2024: Tỉnh đã cử các đoàn vận động viên tham gia thi đấu tại 8 giải thể thao quốc gia, khu vực và châu lục, đạt tổng cộng 17 huy chương, gồm 5 Huy chương Vàng, 7 Huy chương Bạc và 5 Huy chương Đồng. 5. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy nổ và bảo vệ môi trường. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Tính đến 15/10/2024, toàn tỉnh xảy ra 53 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (giảm 09 vụ so với tháng trước) làm 02 người chết và 07 người bị thương, thiệt hại tài sản 5.986,0 triệu đồng, đã điều tra làm rõ 45/53 vụ (đạt 84,9%), bắt giữ 94 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 1.821,57 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/10/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 259 vụ tai nạn giao thông (256 vụ tai nạn đường bộ, 03 vụ tai nạn đường sắt) làm 117 người chết, 196 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước tăng 80 vụ, tăng 18 người chết, tăng 62 người bị thương. Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/10/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 107 vụ cháy, nổ (trong đó, 106 vụ cháy và 01 vụ nổ), làm chết 03 người và 10 người bị thương với số tiền thiệt hại là trên 2.713 triệu đồng. Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/10/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 780 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 727 vụ với số tiền xử phạt là 4.519,7 triệu đồng./. Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp
Xu hướng tích cực trong hoạt động đăng ký doanh nghiệp 10 tháng đầu năm 2024
- 04/11/2024 15:16
Trong 10 tháng đầu năm 2024, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục có nhiều tín hiệu tích cực. Mặc dù đối mặt với những thách thức từ sự biến động của thị trường toàn cầu, hoạt động đăng ký doanh nghiệp tại tỉnh vẫn duy trì sự ổn định. Nhiều ngành kinh tế chủ lực, như công nghiệp chế tạo, thương mại và dịch vụ, đã thể hiện sự hồi phục rõ rệt, giúp đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế của tỉnh. Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra một môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập và hoạt động, đặc biệt trong bối cảnh phục hồi kinh tế sau khó khăn. Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới: Theo số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 15/10/2024 có 1.226 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm nhẹ 1,61%, nhưng tăng về số vốn và số lao động đăng ký với mức tăng lần lượt là 7,79% và 18,09% so với cùng kỳ năm trước. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy sự mở rộng quy mô của các doanh nghiệp tại Vĩnh Phúc. Các ngành kinh tế chủ lực của tỉnh tiếp tục ghi nhận sự gia tăng trong số lượng và quy mô vốn đăng ký doanh nghiệp thành lập mới. Trong 17 ngành kinh tế chính, có 11 ngành có số doanh nghiệp mới tăng, và 14 ngành có tăng trưởng về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2023, một số ngành nổi bật như: Ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác có 475 doanh nghiệp, tăng 10,47%, với vốn đăng ký đạt 2.417 tỷ đồng, tăng 104,47%. Người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn cho phương tiện giao thông và các sản phẩm thiết yếu, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng quy mô đầu tư vào cơ sở vật chất và hệ thống phân phối. Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 43 doanh nghiệp, tăng 22,86%, với vốn đăng ký 648 tỷ đồng, tăng 187,36%. Nhu cầu du lịch nội địa phục hồi mạnh, đặc biệt là các loại hình lưu trú đa dạng từ khách sạn đến homestay. Doanh nghiệp trong ngành không ngừng mở rộng quy mô đầu tư vào hạ tầng và nâng cấp dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch.Homestay Tam Đảo Ngành thông tin và truyền thông có 19 doanh nghiệp, tăng 35,71%, vốn đăng ký tăng tới 839,81%, đạt 308 tỷ đồng. Sự bùng nổ của các dịch vụ trực tuyến, từ thương mại điện tử đến giải trí số, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư lớn vào hạ tầng kỹ thuật số, phần mềm và dịch vụ trực tuyến, đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao. Ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí có 12 doanh nghiệp, tăng 9,09%, với vốn đăng ký đạt 28 tỷ đồng, tăng 121,07%. Đời sống văn hóa và giải trí ngày càng phát triển, tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong ngành này mở rộng quy mô và đầu tư vào các hoạt động giải trí, nghệ thuật và sự kiện lớn. Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động Bên cạnh sự gia tăng số lượng doanh nghiệp mới, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng kinh doanh cũng ghi nhận những dấu hiệu tích cực. Trong 10 tháng đầu năm, có 318 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp mới thành lập và quay trở lại lên 1.544 doanh nghiệp. Tính riêng trong tháng 10 có tới 163 doanh nghiệp tham gia vào thị trường, trong đó, có 133 doanh nghiệp thành lập mới và 30 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Đây là tín hiệu lạc quan cho thấy niềm tin của doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanh tại tỉnh Vĩnh Phúc. Tình hình doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường Mặc dù có nhiều dấu hiệu tích cực, nhưng vẫn có 992 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 10 tháng đầu năm, trong đó, 836 doanh nghiệp lựa chọn tạm ngừng kinh doanh ngắn hạn, chiếm tỷ lệ 84,27%. Số doanh nghiệp giải thể trong cùng kỳ là 156 doanh nghiệp, tăng 36,84% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy vẫn còn những khó khăn và thách thức đối với một số ngành kinh doanh, đòi hỏi tỉnh cần tiếp tục hỗ trợ và cải thiện môi trường kinh doanh.Tình hình doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động 10 tháng đầu năm giai đoạn 2020-2024 Nhìn chung, hoạt động đăng ký doanh nghiệp tại Vĩnh Phúc trong 10 tháng đầu năm 2024 đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, góp phần gia tăng số lượng và quy mô các doanh nghiệp tham gia thị trường. Tính chung, có 552 doanh nghiệp mới được bổ sung vào nền kinh tế của tỉnh, bình quân mỗi tháng thêm 55 doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường tiếp tục chiếm ưu thế, với trung bình 154 doanh nghiệp/tháng, cao hơn 1,5 lần so với số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (99 doanh nghiệp/tháng). Để tiếp tục thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, tỉnh cần triển khai đồng bộ các biện pháp hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp, nhà đầu tư đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng. Đặc biệt, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch, và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, tạo niềm tin và ổn định môi trường kinh doanh. Tác giả: Nguyễn Thị Thu Thảo
Tình hình đời sống dân cư tỉnh Vĩnh Phúc 9 tháng đầu năm 2024
- 10/10/2024 15:07
Trong 9 tháng đầu năm 2024, đời sống dân cư tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều cải thiện tích cực nhờ phát triển kinh tế và thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội. Dù gặp khó khăn từ thiên tai và biến động kinh tế toàn cầu, tỉnh vẫn nỗ lực vượt qua thách thức, tạo việc làm, ổn định thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Tăng trưởng kinh tế và việc làm Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vĩnh Phúc đạt 7,95% trong 9 tháng đầu năm, nhờ sự phục hồi của ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Các ngành sản xuất chủ lực như linh kiện điện tử, ô tô, xe máy ghi nhận mức tăng trưởng đáng khích lệ. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này không chỉ duy trì sản xuất ổn định mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới, giúp cải thiện thu nhập cho người dân, đặc biệt là ở khu vực thành thị. Số lao động có việc làm trong tỉnh đạt 582,6 nghìn người, tương đương 97% lực lượng lao động, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 1,74%, thấp hơn 0,02% so với cùng kỳ năm trước.Sản xuất linh kiện điện tử: Nền tảng cho mọi thiết bị điện tử Đặc biệt, thị trường lao động có dấu hiệu tích cực khi 73,8% doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp duy trì ổn định số lượng lao động, và 17,5% doanh nghiệp có kế hoạch tuyển dụng thêm. Đã có 18.660 lao động được giải quyết việc làm trong 9 tháng qua, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2023 và vượt 9,8% kế hoạch năm 2024. Điều này phản ánh sự nỗ lực của tỉnh trong việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao đời sống người dân. Tình hình tiêu dùng và giá cả Sự khởi sắc của thị trường lao động kéo theo mức tiêu dùng tăng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 9 tháng đầu năm 2024 tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sức mua của người dân tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, khu vực nông thôn vẫn đối mặt với nhiều khó khăn do thiên tai, đặc biệt là cơn bão số 3, đã gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp. Hơn 1.700 ha lúa và hàng nghìn tấn thủy sản bị ngập úng, làm giảm đáng kể sản lượng. Các diện tích trồng cây hoa màu như ngô, lạc và rau cũng chịu tác động, ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ nông dân. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong 9 tháng đầu năm 2024 tăng 2,66% so với cùng kỳ, mức tăng này vẫn nằm trong tầm kiểm soát nhờ các biện pháp điều hành giá cả linh hoạt của tỉnh. Mặc dù giá lương thực tăng mạnh, với mức tăng 15,61%, nguyên nhân chủ yếu là do biến động của thị trường thế giới, nhưng các chính sách bình ổn đã giúp kiềm chế mức độ tăng giá, tránh tình trạng lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực đến chi phí sinh hoạt. Đây là nỗ lực đáng ghi nhận trong bối cảnh giá cả các mặt hàng thiết yếu trên thị trường quốc tế có nhiều biến động. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng đầu năm 2024 Chính sách an sinh xã hội và bảo hiểm Để giảm thiểu tác động của khó khăn kinh tế, tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai nhiều chính sách an sinh xã hội nhằm hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương. Tính đến tháng 9 năm 2024, Tỉnh đã trợ cấp cho 17.140 người có công với tổng số tiền 407,068 tỷ đồng, bao gồm trợ cấp hàng tháng và đột xuất, đảm bảo chế độ ưu đãi được giải quyết kịp thời, đúng quy trình. Công tác bảo trợ xã hội đạt nhiều kết quả tích cực với 44.364 người hưởng trợ cấp, tổng kinh phí 250,051 tỷ đồng. Các chương trình hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo, và người khó khăn cũng được triển khai, với chi phí 50,357 tỷ đồng. Ngoài ra, tỉnh đã cấp miễn phí 363.744 thẻ bảo hiểm y tế, mở rộng quyền tiếp cận chăm sóc sức khỏe. Về hỗ trợ tài chính, 107.697 đối tượng chính sách đã vay vốn với tổng dư nợ 4.499,870 tỷ đồng, giúp nâng cao thu nhập và tạo cơ hội thoát nghèo bền vững. Sau cơn bão số 3, tỉnh huy động trên 17 tỷ đồng từ các nguồn lực để hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng. Trong dịp Tết, đã có 34,2 tấn gạo được phân phát cho các hộ nghèo. Người dân Vĩnh Phúc cùng chung tay chia sẻ, ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do bão lũ gây ra Chính sách mở rộng bảo hiểm y tế giúp tỷ lệ bao phủ đạt 96,08% dân số, tương đương hơn 1,16 triệu người tham gia, đảm bảo quyền lợi chăm sóc sức khỏe cho người dân. Số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội cũng tăng lên đáng kể, với hơn 260.000 người, chiếm 43% lực lượng lao động, trong đó có 24.000 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Ngành y tế, giáo dục, các hoạt động, văn hóa thể thao Trong 9 tháng đầu năm, ngành y tế Vĩnh Phúc đã nỗ lực kiểm soát các dịch bệnh phổ biến, đặc biệt trong mùa mưa lũ, như sốt xuất huyết và tiêu chảy. Nhờ sự chủ động triển khai các biện pháp phòng chống, tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, không để bùng phát trên diện rộng. Bên cạnh đó, công tác giám sát an toàn thực phẩm được thực hiện chặt chẽ, giúp nâng cao chất lượng sức khỏe cộng đồng. Các chương trình tiêm chủng mở rộng cũng được duy trì thường xuyên, đảm bảo tiêm phòng đầy đủ cho trẻ em và người dân. Lĩnh vực giáo dục cũng đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 2024, Vĩnh Phúc có 89/98 học sinh dự thi đạt giải, xếp thứ 5 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải, trong đó có 9 học sinh lọt vào vòng 2 để chọn đội tuyển quốc gia dự thi quốc tế. Để hỗ trợ học sinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, tỉnh đã áp dụng chính sách giảm 50% học phí từ năm học 2024-2025, góp phần giảm gánh nặng tài chính cho các gia đình khó khăn. Công tác đào tạo nghề cũng được đẩy mạnh với gần 20.000 người tham gia các khóa đào tạo, đạt 88,7% kế hoạch năm. Việc tăng cường đào tạo nghề đã góp phần cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho các ngành kinh tế chủ lực, nâng cao năng suất lao động và cải thiện cơ hội việc làm cho người dân, nhất là lao động trẻ. Các hoạt động văn hóa, thể thao tại Vĩnh Phúc trong 9 tháng đầu năm diễn ra sôi nổi, thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng. Những sự kiện văn hóa như lễ hội truyền thống, các giải đấu thể thao thường xuyên được tổ chức đã tạo không khí phấn khởi, góp phần nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của người dân. Trong 9 tháng đầu năm 2024, tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế và nâng cao đời sống dân cư, mặc dù vẫn còn nhiều thách thức. Sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ đã tạo điều kiện cải thiện thu nhập và giảm tỷ lệ thất nghiệp. Các chính sách an sinh xã hội và hỗ trợ y tế được triển khai kịp thời, giúp bảo vệ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương, trong khi lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề tiếp tục phát huy hiệu quả, tạo nền tảng phát triển bền vững cho tỉnh. Tuy nhiên, tỉnh cần tiếp tục tăng cường hỗ trợ nông nghiệp, khắc phục hậu quả thiên tai và tìm kiếm các giải pháp lâu dài để nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, góp phần phát triển toàn diện và bền vững. Tác giả: Nguyễn Thị Huyền Trang
Chi bộ Cục Thống kê tổ chức Lễ kết nạp Đảng viên mới
- 10/10/2024 13:22
Ngày 09/10/2024 Chi bộ Cục Thống kê tổ chức lễ kết nạp Đảng viên cho quần chúng ưu tú Bùi Thục Anh theo Quyết định số 2474-QĐ/ĐUK ngày 16/9/2024 của Ban thường vụ Đảng uỷ Khối cơ quan tỉnh.Tham dự và chỉ đạo buổi lễ có đồng chí Nguyễn Hồng Phong - Bí thư Chi bộ cùng toàn thể các đồng chí đảng viên Chi bộ Cục Thống kê.Sau một thời gian dài phấn đấu, chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, rèn luyện đạo đức lối sống, trau dồi nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quần chúng ưu tú Bùi Thục Anh đã được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng.Đ/c Nguyễn Hồng Phong - Bí thư Chi bộ, Cục trưởng CTK trao quyết định kết nạp Đảng viên mớiLễ kết nạp đảng viên diễn ra trong không khí trang nghiêm, đúng trình tự, thủ tục Điều lệ Đảng. Tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Hồng Phong - Bí thư Chi bộ đã trao quyết định kết nạp, phân công nhiệm vụ cho đảng viên mới, đồng thời phân công đồng chí đảng viên chính thức trong Chi bộ tiếp tục giúp đỡ, đồng chí Bùi Thục Anh trong thời gian 12 tháng dự bị.Dưới cờ tổ quốc, cờ đảng và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng sự chứng kiến của các đảng viên trong Chi bộ, đồng chí Bùi Thục Anh đã tuyên thệ, hứa sẽ tiếp tục phấn đấu để luôn xứng đáng là người đảng viên gương mẫu, đóng góp sức mình thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị của Chi bộ, góp phần xây dựng Chi bộ ngày càng vững mạnh.Tại buổi lễ, Chi bộ đã trao quyết định chuyển đảng chính thức có đảng viên dự bị Trần Đại Thành theo Quyết định số 2469-QĐ/ĐUK ngày 16/9/2024 của Ban Thường vụ Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh. Đ/c Nguyễn Hồng Phong - Bí thư Chi bộ, Cục trưởng CTK trao quyết định chuyển Đảng chính thứcLễ kết nạp đảng viên là sinh hoạt chính trị trong Chi bộ, góp phần rèn luyện tư tưởng, phẩm chất đạo đức cho từng Đảng viên. Qua Lễ kết nạp, Chi bộ Cục Thống kê đã bổ sung đảng viên có trình độ, năng lực đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, tăng cường sức mạnh lãnh đạo của Đảng./.Bùi Thị Thùy
Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2024
- 03/10/2024 14:05
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)Quý III năm 2024, sản xuất công nghiệp có nhiều khởi sắc, giúp kinh tế Vĩnh Phúc tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và phát triển. Tốc độ tăng GRDP ước tăng 10,62% so với cùng kỳ, trong đó khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 16,09%, đóng góp 7,67 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP quý III. Tính chung 9 tháng đầu năm, GRDP tỉnh Vĩnh Phúc tăng 7,95% (đứng thứ 20/63 cả nước; đứng 8/11 vùng Đồng bằng sông Hồng). Trong đó, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,16%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,69%; khu vực dịch vụ tăng 7,21%; thuế sản phẩm (trừ trợ cấp sản phẩm) tăng 2,41%. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 2.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt: Diện tích gieo trồng lúa mùa năm 2024 ước đạt 23.434,2 ha, giảm 0,46% so cùng kỳ. Tính đến nay, tỉnh đã thu hoạch gần 56% diện tích lúa mùa, năng suất ước đạt 50,69 tạ/ha, giảm 5,88 tạ/ha so với năm trước; sản lượng ước đạt 118.778,9 tấn, giảm 14.393,8 tấn. b. Chăn nuôi: Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm đạt 102.848 tăng 4,45% (trong đó thịt lợn hơi tăng 8,35%; gia cầm hơi giảm 2,27%); sản lượng trứng tăng 9,87% so cùng kỳ. 2.2. Sản xuất lâm nghiệpTrong 9 tháng đầu năm 2024, tỉnh Vĩnh Phúc đã trồng 600 ha rừng tập trung, đạt 100% kế hoạch, giảm 9,31% so với năm trước do diện tích rừng khai thác giảm. 2.3. Sản xuất thuỷ sảnDo ảnh hưởng của mưa bão, nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản bị ngập, ảnh hưởng đến kết quả sản xuất thủy sản. Sản lượng thu hoạch thủy sản tháng 9/2024 đạt 2.520,2 tấn, giảm 7,40% so với cùng kỳ năm trước. 9 tháng đầu năm 2024, sản lượng thủy sản ước đạt 18.846 tấn, tăng 1,75% so cùng kỳ. 3. Sản xuất công nghiệpTháng 9/2024, chỉ số IIP ước tính giảm 0,97% so với tháng trước và tăng 16,56% so với cùng kỳ. Tình hình một số ngành công nghiệp chủ lực như sau:- Ngành sản xuất linh kiện điện tử tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của ngành công nghiệp tỉnh, chỉ số sản xuất tháng 9/2024 tăng 23,18% so với cùng kỳ. - Ngành sản xuất ô tô có IIP giảm 5,7% trong tháng 9 và chỉ tăng 0,37% trong 9 tháng đầu năm, do trong bối cảnh kinh tế khó khăn, người dân hạn chế mua sắm các sản phẩm có giá trị cao trong đó có sản phẩm ô tô.- Ngành sản xuất xe máy có chỉ số IIP tăng nhẹ 0,23% trong tháng 9 và tăng 8,28% trong 9 tháng đầu năm.- Ngành sản xuất kim loại và sản phẩm từ khoáng phi kim loại đều tăng trưởng tích cực: Chỉ số IIP ngành sản xuất kim loại tháng 9 tăng 4,34% so với cùng kỳ và trong 9 tháng đầu năm tăng 7,89%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng mạnh 38,70% trong tháng 9 và tăng 17,84% trong 9 tháng đầu năm. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 9/2024, thị trường lao động trong ngành công nghiệp ổn định và có sự tăng trưởng nhẹ, đặc biệt ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tăng 4,93% so với tháng trước và 4,71% so với cùng kỳ.Chỉ số tiêu thụ: Tháng 9/2024, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 3,92% so với tháng trước và 7,51% so với cùng kỳ. Chỉ số tồn kho: Tháng 9/2024, chỉ số tồn kho ngành chế biến, chế tạo giảm 6,55% so với tháng trước và 11,75% so với cùng kỳ, cho thấy sự cải thiện về tiêu thụ. 4. Hoạt động của doanh nghiệp 4.1. Tình hình đăng ký doanh nghiệpTính đến ngày 15/9/2024, toàn tỉnh có 1.093 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 9.482 tỷ đồng, giảm 1,53% về số doanh nghiệp, tăng 7,80% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp quay lại hoạt động là 288 doanh nghiệp, giảm 2,70% so cùng kỳ, trong khi số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 794 doanh nghiệp, tăng 25,04% so cùng kỳ, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể 144 doanh nghiệp, tăng 35,85%. 4.2. Xu hướng SXKD ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Theo đánh giá từ các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) trong quý III/2024 đã có sự khởi sắc so với quý II/2024, với 76,7% doanh nghiệp cho rằng hoạt động của họ đang tiến triển tốt hơn hoặc duy trì ổn định (38,4% tốt hơn và 38,3% ổn định). Ngược lại, 23,3% doanh nghiệp cảm thấy gặp khó khăn hơn. Dự báo cho quý IV/2024 có xu hướng tích cực, khi 39,2% dự đoán tình hình sẽ cải thiện, 41,2% tin rằng sẽ duy trì ổn định và 19,6% lo ngại về khó khăn trong sản xuất kinh doanh sắp tới. 5. Thương mại, dịch vụ 5.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (tổng mức) trên địa bàn trong tháng Chín đạt 6.919,7 tỷ đồng, tăng nhẹ 1,84% so với tháng trước và tăng 12,36% so với cùng kỳ. Quý III/2023, tổng mức ước đạt 20.609,3 tỷ đồng, tăng 7,23% so với quý trước và tăng 13,23% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2024, tổng mức ước đạt 58.288,5 tỷ đồng, tăng 9,01% so với cùng kỳ. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Trong 9 tháng đầu năm 2024, hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục phát triển, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh, mặc dù chịu ảnh hưởng từ cơn bão số 03 trong tháng 9, gây gián đoạn một phần hoạt động vận tải. Lũy kế doanh thu 9 tháng đầu năm 2024 ước đạt 6.156,5 tỷ đồng, tăng 26,92% so với cùng kỳ năm trước. II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ 1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nướcTheo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 15/9/2024 thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 19.950,6 tỷ đồng, tăng 9,67% so với cùng kỳ, đạt 62,81% dự toán giao đầu năm. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/9/2024 đạt 16.987,5 tỷ đồng, giảm 5,88% so với cùng kỳ, bằng 81,92% dự toán giao đầu năm. 2. Hoạt động ngân hàng, tín dụngTổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 30/9/2024 đạt 130,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,15% so với cuối năm 2023. Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 30/9/2024, đạt 136,5 nghìn tỷ đồng, tăng 6,51% so với cuối năm 2023. Tỷ lệ nợ xấu: Mặc dù được kiểm soát ở mức an toàn <2%, ước tính tại thời điểm 30/9/2024 đạt 1.450 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,06%. 3. Bảo hiểmƯớc tính đến 30/9/2024, toàn tỉnh có 1.187.845 người tham gia bảo hiểm các loại. Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại đến hết tháng 9 năm 2024 ước đạt 5.166,2 tỷ đồng, đạt 72,9% kế hoạch giao và tăng 19,56% so với cùng kỳ năm 2023. 4. Hoạt động đầu tư Quý III/2024, hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn phát triển ổn định đã thu hút không nhỏ lượng vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước, trong khi đó, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước giảm do thời tiết mưa nhiều, ngập úng ảnh hưởng tiến độ thi công các công trình. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn ước đạt 14.263,8 tỷ đồng, tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2024, tổng vốn đầu tư phát triển ước đạt 37.344,8 tỷ đồng, tăng 5,02% so với cùng kỳ, tăng ở cả 3 khu vực. Tình hình thu hút đầu tư: Chín tháng đầu năm 2024, tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực trong công tác thu hút đầu tư. Theo số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, đến ngày 15/9/2024, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 58 dự án FDI (28 dự án cấp mới, 30 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 507,94 triệu USD, tăng 3,44% so với cùng kỳ, vượt 26,99% kế hoạch giao đầu năm (400 triệu USD). Lũy kế 9 tháng đầu năm toàn tỉnh đã thu hút được 20 dự án DDI (13 dự án cấp mới, 07 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 4.640,18 tỷ đồng, bằng 84,37% kế hoạch giao đầu năm (5.500 tỷ đồng). 5. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa Chín tháng đầu năm, hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn đạt tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp chủ yếu từ nhóm ngành máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện và nhóm máy móc, thiết bị và phụ tùng.Theo số liệu báo cáo của Chi cục Hải quan tỉnh Vĩnh Phúc[1], tính đến ngày 15/9/2024 kim ngạch xuất khẩu ước đạt 13.049 triệu USD, tăng 12,58% so với cùng kỳ. Số liệu xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp thực hiện các thủ tục thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Vĩnh Phúc. 6. Chỉ số giá 6.1. Chỉ số giá tiêu dùng: Tháng 9/2024, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 2,93% so với cùng kỳ năm trước. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 9/2024 tăng 2,93%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, có 9 nhóm tăng giá và 2 nhóm giảm giá.Bình quân 9 tháng đầu năm 2024, CPI tăng 2,66% so với cùng kỳ năm trước. 6.2. Chỉ số giá sản xuất- Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2024 tăng 6,26% so với quý trước và tăng 10,97% so với cùng kỳ năm 2023. Tính chung 9 tháng đầu năm, chỉ số giá của nhóm này tăng 11,98%.- Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý III/2024 giảm 1,54% so với quý trước, tính chung 9 tháng giảm 0,82% so với cùng kỳ. 6.3. Chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất Trong quý III và 9 tháng đầu năm 2024, thị trường hàng hóa và dịch vụ phục vụ sản xuất tiếp tục chịu ảnh hưởng của biến động giá cả hàng hóa và dịch vụ thế giới. Nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản ghi nhận mức tăng mạnh với chỉ số giá quý III tăng 4,52%, trong đó giá lợn giống tăng tới 22,38%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá của nhóm này tăng 10,34%, cho thấy sự phục hồi của ngành chăn nuôi sau khi dịch bệnh được kiểm soát. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có xu hướng ổn định, với chỉ số giá giảm 0,25% trong quý III, do giá dầu mỏ và nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi giảm. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng, chỉ số giá tăng 0,84%.Ngành xây dựng bị ảnh hưởng bởi thời tiết xấu và các công trình khởi công ít, khiến chỉ số giá quý III giảm 1,08%. Trong 9 tháng đầu năm, chỉ số giá của ngành vẫn tăng 1,62% nhờ nhu cầu về dây điện và thiết bị điện tăng trưởng III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội Lực lượng lao động, lao động có việc làm: Trong quý III năm 2024, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh ước đạt 600,6 ngàn người, tăng 0,05% so với quý trước nhưng giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2023.Giải quyết việc làm: 9 tháng đầu năm, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 18.660 lao động, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2023; vượt 9,8% kế hoạch năm 2024Công tác giảm nghèo, an sinh xã hội: Tỉnh đã thực hiện tốt công tác hỗ trợ cho người có công, bảo trợ xã hội và các đối tượng khó khăn. Hiện có 17.140 người có công và thân nhân nhận trợ cấp với tổng số tiền 407.068 triệu đồng, bao gồm trợ cấp hàng tháng và trợ cấp đột xuất. Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Hiện nay, tổng số đối tượng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng trên địa bàn tỉnh là 17.140 người, số tiền trợ cấp trong 9 tháng cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng là 407.068 triệu đồng (trong đó, trợ cấp hàng tháng: 357.270,5 triệu đồng, trợ cấp đột xuất 49.797,5 triệu đồng). 2. Giáo dục, đào tạoNăm học 2023-2024, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc đạt nhiều thành tựu quan trọng. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, tỉnh có 89/98 học sinh đạt giải, xếp thứ 5 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải và số lượng giải Nhất. Ngoài ra, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-HĐND quy định mức thu học phí cho các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh từ năm học 2024-2025, có hiệu lực từ ngày 01/8/2024. Mức học phí này giảm đến 50% so với năm học 2023-2024, nhằm hỗ trợ học sinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng khó khăn khác. 3. Y tếNgành Y tế tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai sâu rộng công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, tập trung vào các dịch bệnh phổ biến trong mùa mưa lũ như sốt xuất huyết, tả, thương hàn, và tiêu chảy. Về vệ sinh an toàn thực phẩm, ngành Y tế đã đẩy mạnh tuyên truyền phòng chống ngộ độc thực phẩm thông qua các hoạt động truyền thông, giám sát và thanh tra. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, với tổng số 456 người mắc nhưng không có ca tử vong. 4. Văn hóa, thể thaoCác hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày kỷ niệm, ngày lễ lớn được tỉnh tổ chức long trọng với nội dung đa dạng, phong phú. Cùng với đó, phong trào văn hóa - văn nghệ quần chúng trên địa bàn tỉnh cũng phát triển mạnh mẽ, thu hút sự tham gia của đông đảo người dân thuộc mọi lứa tuổi, đáp ứng nhu cầu giải trí, nâng cao sức khỏe, đời sống văn hóa tinh thần cho người dân. 9 tháng đầu năm 2024, tỉnh đã tổ chức 68 buổi chiếu phim lưu động tại nông thôn, 110 buổi tại miền núi và 15 buổi tại khu công nghiệp, cùng với 202 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị và cộng đồng. 5. Tình hình trật tự an toàn xã hội và tai nạn giao thông Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 506 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội. làm chết 15 người, bị thương 64 người, thiệt hại tài sản 77,2 tỷ đồng, đã điều tra làm rõ 443 vụ (đạt 87,54%) với 1.082 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 5,9 tỷ đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/9/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 230 vụ tai nạn giao thông (228 vụ tai nạn đường bộ, 03 vụ tai nạn đường sắt) làm 103 người chết, 180 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 3.134,7 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 51 vụ, giảm 04 người chết, tăng 46 người bị thương. Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/9/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 103 vụ cháy, nổ (trong đó, 102 vụ cháy và 01 vụ nổ), làm chết 03 người và 10 người bị thương với số tiền thiệt hại là trên 2.299,9 triệu đồng 6. Tình hình thiệt hại thiên tai và công tác bảo vệ môi trường Tình hình thiên tai: Trong 9 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ thiên tai, làm chết 06 người; bị thương 03 người; sập 25 nhà, 460 nhà bị hư hại từ 30% trở lên; ngập úng 2.188,92 ha lúa, 1.017,26 ha hoa màu; 600 con gia súc và 25.559 con gia cầm bị chết và lũ cuốn trôi. Ước tính thiệt hại khoảng 322.439,62 triệu đồng. Trong đó, thiệt hại do cơn bão số 3 (Yagi) gây ra: ước tính 170.288,7 triệu đồng; làm 2 người chết, 2 người bị thương, sập 11 nhà và hư hại 96 nhà khác; 1.782,04 ha lúa và 657,72 ha hoa màu bị ngập úng, 600 con gia súc và 17.917 con gia cầm bị chết hoặc cuốn trôi. Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/9/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 768 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 705 vụ với số tiền xử phạt là 6.327,5 triệu đồng./. Phòng Thống kê Tổng hợp