02103 847 407 | phutho@nso.gov.vn
Điều tra Doanh nghiệp năm 2025
  •   19/02/2025 16:21

Thư gửi Quý Công ty, Doanh nghiệpĐịa chỉ cung cấp thông tin Điều tra Doanh nghiệp năm 2025Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được điều tra thống kêChương trình điều tra thống kê quốc gia (Quyết định số 03/2023/QĐ-TTg Ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ) Phương án điều tra doanh nghiệp năm 2025 (Quyết định số 1706/QĐ-BKHĐT ngày 05/8/2024)Kế hoạch và hướng dẫn thực hiện Phương án Điều tra doanh nghiệp năm 2025 (Quyết định số 1492/QĐ-BKHĐT ngày 17/12/2024)Sổ tay hướng dẫn điều tra Doanh nghiệp năm 2025

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 01 năm 2025
  •   03/02/2025 08:35

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt: Tháng 01/2025, các địa phương trong tỉnh tập trung thu hoạch cây trồng vụ Đông để đảm bảo tiến độ gieo trồng vụ Xuân năm 2025. Tính đến hết ngày 20/01/2025, toàn tỉnh đã hoàn tất thu hoạch các cây trồng chính như ngô, khoai lang và rau màu; tiến độ gieo trồng cây vụ Xuân đạt 7.451,1 ha, trong đó diện tích lúa ước đạt 7.123,0 ha, chiếm 95,6%, tăng gần 97% so với cùng thời điểm năm trước. b. Chăn nuôi: Trong kỳ, ngành chăn nuôi đẩy mạnh hướng dẫn quy trình chăn nuôi an toàn sinh học. Đồng thời, khuyến cáo biện pháp phòng chống rét, dịch bệnh để đảm bảo nguồn cung thực phẩm dịp Tết. Tháng 01/2025, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng cao, đáp ứng nguồn cung thực phẩm cho dịp Tết Cổ truyền. Tổng sản lượng thịt hơi ước đạt 14.636 tấn, tăng 14,67% so với cùng kỳ; trong đó thịt lợn đạt 9.568 tấn, tăng 15,77%; sản lượng thịt gia cầm đạt 4.455 tấn, tăng 13,50%. Sản lượng sữa bò tươi đạt 5,2 nghìn tấn, tăng 0,38%; sản lượng trứng gia cầm đạt 73,6 triệu quả, tăng 3,50%. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Ước tính tháng 01/2025, toàn tỉnh đã trồng được 3 ha rừng sản xuất tại huyện Lập Thạch; sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 3.529,8 m³, tăng 4,18%; sản lượng củi khai thác đạt 2.564 Ste tăng 0,02% so cùng kỳ. 1.3. Sản xuất thủy sản Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1.944,5 tấn, tăng 0,42% (+8,1 tấn). Trong đó, sản lượng cá nuôi trồng ước đạt 1.943,9 tấn, tăng 0,42%; sản lượng thủy sản khác ước đạt 0,6 tấn, tăng 3,23%. 2. Sản xuất công nghiệp Tháng 01/2025, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, các doanh nghiệp đã chủ động triển khai kế hoạch từ đầu năm. Tuy nhiên, do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Ất Tỵ kéo dài, số ngày sản xuất giảm 5-7 ngày, khiến sản lượng nhiều ngành công nghiệp giảm so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tháng 01/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) ước giảm 20,53% so với tháng trước và giảm 6,97% so với cùng kỳ. - So với tháng trước, chỉ số IIP của ngành khai khoáng giữ ổn định; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 20,75%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,25%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,85%. - So với cùng kỳ, chỉ số IIP của ngành khai khoáng giảm 61,96%[1]; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,18%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 11,37%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 21,69%. Sản lượng sản xuất một số sản phẩm: Tháng 01/2025, ngoài sản lượng thức ăn chăn nuôi và giày thể thao các loại tăng so với cùng kỳ năm trước, sản lượng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu còn lại đều giảm; trong đó, giảm nhiều nhất là sản phẩm máy tính xách tay với mức giảm 28,53%. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 01/2025, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 0,40% so với cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ: Tháng 01/2025, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 24,54% so với tháng trước và giảm 13,83% so với cùng kỳ. So với tháng trước. Chỉ số tồn kho: Tháng 01/2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho giảm 5,0% so với tháng trước và giảm 33,51% so với cùng kỳ. 3. Đầu tư 3.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước Năm 2025, Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách Nhà nước tỉnh được giao theo Quyết định 1943/QĐ-UBND ngày 24/12/2024 là 6.898,4 tỷ đồng, thấp hơn 869,3 tỷ đồng so với dự toán giao đầu năm 2024. Cụ thể: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh là 3.095,8 tỷ đồng; cấp huyện và xã là 2.652,6 tỷ đồng (trong đó, nguồn nguyên tắc và tiêu chí là 1.177,6 tỷ đồng và nguồn thu tiền sử dụng đất là 1.475,0 tỷ đồng). Ước tính vốn đầu tư ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý thực hiện tháng 01/2025 đạt 412,8 tỷ đồng, bằng 5,98% vốn kế hoạch năm 2025; giảm 35,26% so với tháng trước và giảm 9,96% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do kỳ nghỉ Tết kéo dài và nhiều công trình mới đang trong giai đoạn chuẩn bị. Về cơ cấu, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 175,2 tỷ đồng, cấp huyện 117,4 tỷ đồng và cấp xã 120,3 tỷ đồng. 3.2. Tình hình thu hút đầu tư Ngay từ tháng đầu năm, tỉnh Vĩnh Phúc ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trong hoạt động đầu tư, đặc biệt là các dự án trong nước (DDI). Theo số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, đến ngày 15/01/2025, toàn tỉnh đã thu hút được 03 dự án DDI (01 dự án cấp mới, 02 dự án điều chỉnh vốn). Tổng vốn đăng ký đạt 160,22 tỷ đồng tăng gấp 10 lần so với cùng kỳ. Khu vực FDI trong tháng 01/2025 có 07 dự án được cấp phép, gồm 01 dự án mới và 06 dự án điều chỉnh vốn. Tổng vốn đăng ký đạt 25,52 triệu USD, bằng 36,74% so với cùng kỳ. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực ưu tiên phát triển với 07 dự án đầu tư, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển tỉnh theo hướng công nghiệp hiện đại. 4. Thương mại, dịch vụ Tháng 01/2025, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục diễn ra sôi động, nhờ các chương trình xúc tiến, bình ổn giá và kích cầu tiêu dùng nhân dịp Tết Nguyên đán. Nhu cầu mua sắm, sử dụng dịch vụ của người dân gia tăng, góp phần thúc đẩy doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, mặc dù một số hoạt động kinh doanh tạm dừng trong kỳ nghỉ lễ. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 01/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.447,3 tỷ đồng, giảm 0,06% so với tháng trước nhưng tăng 9,80% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, doanh thu từ cả bốn nhóm ngành hàng đều tăng trưởng so với cùng kỳ, cụ thể: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 01/2025 đạt 6.013,2 tỷ đồng, chiếm 80,74% tổng mức, tăng 0,56% so với tháng trước và tăng 10,09% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 01/2025 đạt 587,1 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 10,56% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành tháng 01/2025 đạt 15,6 tỷ đồng, giảm 4,57% so với tháng trước nhưng tăng 15,74% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác tháng 01/2025 đạt 831,4 tỷ đồng, giảm 4,64% so với tháng trước nhưng tăng 7,11% so với cùng kỳ. Nhu cầu sử dụng các dịch vụ giải trí, làm đẹp, sửa chữa nhà cửa tăng mạnh trước Tết và sự phát triển của thương mại điện tử thúc đẩy góp phần vào tăng trưởng doanh thu. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Tháng 01/2025, nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán, tổng doanh thu ngành vận tải kho bãi ước đạt 721,1 tỷ đồng, giảm 6,18% so với tháng trước nhưng tăng 6,51% so với cùng kỳ. Vận tải hành khách: Doanh thu vận tải hành khách tháng 01/2025 ước đạt 136,1 tỷ đồng, tăng 8,24% so với tháng trước và 67,85% so với cùng kỳ. Tổng số hành khách vận chuyển trong tháng đạt 4,3 triệu lượt, luân chuyển đạt 234,7 triệu HK.km. Nhu cầu di chuyển tăng cao trong dịp Tết cùng với việc mở rộng mạng lưới xe buýt, xe khách và hoàn thiện các tuyến đường trọng điểm đã góp phần thúc đẩy doanh thu. Vận tải hàng hóa: Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 01/2025 ước đạt 492,4 tỷ đồng, giảm 10,56% so với tháng trước và giảm 7,79% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải đường bộ đạt 364,0 tỷ đồng, vận tải đường thủy đạt 128,4 tỷ đồng. Tổng khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 2,9 triệu tấn; luân chuyển đạt 324,0 triệu tấn.km, giảm nhẹ so với cùng kỳ. Nguyên nhân do kỳ nghỉ Tết kéo dài, nhiều doanh nghiệp tạm dừng hoạt động hoặc giảm công suất. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: Tháng 01/2025, doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ và bưu chính chuyển phát ước đạt 92,5 tỷ đồng, tăng 0,32% so với tháng trước và tăng mạnh 49,48% so với cùng kỳ. Tỷ trọng doanh thu từ lĩnh vực này tiếp tục có xu hướng gia tăng nhờ vào sự phát triển mạnh của thương mại điện tử, nhu cầu lưu kho và giao hàng tăng cao dịp cuối năm, cùng với việc trung tâm Logistic ICD Vĩnh Phúc phát huy hiệu quả khai thác. 5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 5.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước Dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2025 tỉnh Vĩnh Phúc được xây dựng nhằm đảm bảo an toàn, bền vững và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Tỉnh chú trọng tăng cường huy động, quản lý, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính. Đồng thời, siết chặt kỷ cương tài chính và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, môi trường, quốc phòng và an ninh. Kế hoạch thu NSNN năm 2025 là 27.026 tỷ, trong đó thu nội địa 22.026 tỷ đồng; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 5.000 tỷ đồng. Dự toán chi cân đối ngân sách địa phương là 20.182,3 tỷ đồng. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 5.748,3 tỷ đồng, chi thường xuyên là 10.325,1 tỷ đồng. Hầu hết doanh nghiệp đang hoàn thiện hồ sơ quyết toán thuế năm 2024, dẫn đến thu ngân sách tháng 01/2025 giảm so với cùng kỳ. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 20/01/2025 thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 1.122,7 tỷ đồng, bằng 69,13% so với cùng kỳ. Tổng chi NSNN đạt 1.309,8 tỷ đồng, tăng 78,01% so với cùng kỳ, chủ yếu là các khoản chi ngân sách năm 2024 được kéo dài thực hiện chi trong tháng 01/2025. 5.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, do đó việc đẩy mạnh các động lực thúc đẩy tăng trưởng như tín dụng, vốn đầu tư,... là rất cần thiết. Ngành Ngân hàng xây dựng mục tiêu tăng trưởng cho năm 2025 với huy động vốn tăng 10-12%, tín dụng tăng 11-13% (cao hơn 1% so với kế hoạch năm 2024), đồng thời duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn (dưới 3%). Tổng nguồn vốn huy động dự kiến đến 31/01/2025 ước đạt 140 nghìn tỷ đồng, tăng 0,26% so với cuối năm 2024. Lượng tiền nhàn rỗi trong ngắn hạn gia tăng trong bối cảnh các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản và vàng có nhiều biến động, tiền gửi ngân hàng tiếp tục là kênh lưu trữ tài sản an toàn và đáng tin cậy của người dân, tác động gia tăng ở cả 2 nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tiền gửi các tổ chức kinh tế với mức tăng lần lượt là 0,27% và 0,25% so với cuối năm 2024. Tổng dư nợ cho vay đến 31/01/2025 ước đạt 144.000 tỷ đồng, tăng 0,51% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, ước đạt 107,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 74,44% tổng dư nợ, tăng 0,67%; dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 36,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,56%, tăng 0,05% so với cuối năm 2024. Cơ cấu dư nợ tiếp tục tập trung vào các hoạt động sản xuất, dịch vụ và đầu tư phát triển, trong đó dư nợ khu vực hộ gia đình, tư nhân, cá thể chiếm 59,82% tổng dư nợ và dư nợ khu vực doanh nghiệp chiếm 39,89% tổng dư nợ. Nợ xấu toàn địa bàn ước đến 31/01/2025 là 1,2 nghìn tỷ đồng; chiếm tỷ lệ 0,85% trên tổng dư nợ. 5.3. Bảo hiểm Tháng 01/2025, Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh đã xây dựng dự toán, kế hoạch thu, chỉ tiêu phấn đấu giảm nợ BHXH, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp cho BHXH huyện, thành phố. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, tuyên truyền về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đến nhân dân, tạo sự lan tỏa sâu rộng, nhất là đối với nhóm đối tượng là nông dân, người lao động tự do. Ước tính đến 31/01/2025, có 264.142 người tham gia BHXH, chiếm 43,52% lực lượng lao động (bao gồm: BHXH bắt buộc: 265.458 người; BHXH tự nguyện: 25.691 người); tham gia BH thất nghiệp: 230.017 người, chiếm 37,89% lực lượng lao động; tham gia BHYT: 1.148.487 người, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 94,81% dân số. Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại ước tính đến 31/01/2025 đạt 588,96 tỷ đồng, tăng 29,78% so với cùng kỳ năm trước. Công tác chi trả, nhất là trả lương hưu và trợ cấp BHXH được thực hiện đồng bộ, nhanh gọn và an toàn đến tận tay đối tượng. Qua đó, trong tháng một BHXH tỉnh đã giải quyết hưởng BHXH hàng tháng cho 62 người; giải quyết hưởng BHXH một lần cho 832 người; giải quyết ốm đau, thai sản, dưỡng sức cho 9.664 lượt người; lập danh sách chi trả cho 620 lượt người hưởng bảo hiểm thất nghiệp. 6. Chỉ số giá tiêu dùng Trong tháng Một năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,84% so với tháng trước, chủ yếu do nhu cầu mua sắm cao trong dịp Tết Nguyên đán và việc áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Nghị quyết số 20/2024/NQ-HĐND. So với cùng kỳ năm 2024, CPI tăng 1,55%. So với tháng trước, chỉ số CPI tăng 0,84%, trong đó khu vực thành thị tăng 0,77%, khu vực nông thôn tăng 0,88%. Có 8 nhóm hàng tăng giá, 2 nhóm giảm giá và 1 nhóm không thay đổi. Trong đó: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,23%, đóng góp 0,80 điểm phần trăm, là nhóm có mức đóng góp cao nhất do áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Nghị quyết số 20/2024/NQ-HĐND; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,02%, đóng góp 0,68 điểm phần trăm, trong đó thực phẩm tăng 0,26%, giá lương thực giảm 1,49%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,16%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào CPI chung, chủ yếu do giá nhà ở thuê tăng và giá dầu hỏa tăng 3,28%. So với cùng kỳ năm trước, CPI tăng 1,55%, với 7 nhóm hàng tăng và 4 nhóm giảm. Trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,77%, đóng góp 1,59 điểm phần trăm, trong đó thực phẩm tăng 5,37%, ăn uống ngoài gia đình tăng 1,48%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,71%, đóng góp 0,84 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thuê nhà và vật liệu xây dựng tăng; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,28%, đóng góp 0,80 điểm phần trăm, do áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Nghị quyết số 20/2024/NQ-HĐND; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,89%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm, chủ yếu do tăng giá dịch vụ cá nhân và đồ trang sức theo xu hướng giá vàng. Ngược chiều, nhóm giáo dục giảm 25,19%, làm CPI giảm 1,63 điểm phần trăm, do chính sách hỗ trợ học phí của tỉnh theo Nghị quyết số 11/2024/NQ-HĐND; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 5,76%, làm CPI giảm 0,41 điểm phần trăm, do các chương trình giảm giá kích cầu tiêu dùng; nhóm giao thông giảm 0,11%, làm CPI giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá xăng dầu trong nước giảm theo thị trường thế giới. Chỉ số giá tháng 01/2025 so cùng kỳ (%) - Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 01/2025 tăng 1,00% so với tháng trước; tăng 32,02% so với cùng kỳ năm 2024. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,35% so với tháng trước và tăng 4,59% so với cùng kỳ năm trước. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Tính từ ngày 15/12/2024 đến 14/01/2025, số lao động thôi việc, mất việc là 1.167 người, giảm 440 người so với tháng trước nhưng tăng 447 người so với cùng kỳ. Trong kỳ, không có lao động nghỉ giãn việc, giảm 20 người so với tháng 12/2024 (trong khi tháng 01/2024 có 1.952 lao động nghỉ giãn việc) cho thấy sự ổn định hơn của thị trường lao động trong giai đoạn đầu năm. Chỉ số sử dụng lao động trong lĩnh vực công nghiệp tháng 01/2025 tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 0,40% so với cùng kỳ, phản ánh tín hiệu tích cực về nhu cầu lao động của doanh nghiệp. Công tác hỗ trợ lao động tiếp tục được triển khai thông qua các chương trình tư vấn việc làm, đào tạo nâng cao tay nghề và kết nối cung - cầu lao động. Tính đến ngày 15/01/2025, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 1.007 lao động, giảm 54,08% so cùng kỳ. Trong đó: giải quyết 156 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 315 việc làm trong khu vực công nghiệp - xây dựng; 521 việc làm khu vực dịch vụ; 15 người đi xuất khẩu lao động. 2. Giáo dục, đào tạo Trong tháng 01/2025, nhiều trường học trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức các lễ hội hướng đến việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc. Các hoạt động như "Ngày hội Bánh chưng xanh" được triển khai rộng rãi, tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm gói bánh chưng cùng giáo viên và phụ huynh. Những chương trình này không chỉ giúp các em hiểu biết sâu sắc hơn về phong tục tập quán truyền thống mà còn tăng cường tình cảm gia đình và cộng đồng. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 24/2024/TT-BGDĐT vào ngày 24/12/2024, quy định về Quy chế thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông từ năm 2025. Theo đó, kỳ thi sẽ được tổ chức thành 3 buổi thi, gồm: 1 buổi thi môn Ngữ văn, 1 buổi thi môn Toán và 1 buổi thi bài thi tự chọn. Các thí sinh sẽ được sắp xếp theo tổ hợp bài thi tự chọn để tối ưu phòng thi, điểm thi. So với những năm trước, số buổi thi giảm từ 4 xuống còn 3, số môn thi giảm từ 6 xuống còn 4, qua đó giảm áp lực và chi phí nhưng vẫn đảm bảo chất lượng kỳ thi. 3. Y tế Các ngành chức năng của tỉnh đã thực hiện tốt hoạt động phòng, chống dịch bệnh. Chủ động tiếp nhận thông tin để kịp thời triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; giám sát chặt chẽ các trường hợp mắc, nghi ngờ mắc các bệnh truyền nhiễm, không để dịch lớn xảy ra trên địa bàn. Các ca bệnh truyền nhiễm đã phát hiện từ ngày 01/12/2024 đến 31/12/2024 gồm: Tay chân miệng 07 ca (giảm 03 ca so với tháng trước), Thủy đậu 21 ca (tăng 16 ca), Sởi 09 ca (tăng 07 ca), Bệnh do vi rút Adeno 05 ca (tăng 03 ca), Ho gà 01 ca … Các ca bệnh truyền nhiễm trong tháng chưa ghi nhận trường hợp tử vong. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Để đảm bảo VSATTP trong dịp Tết Nguyên Đán Ất Tỵ phục vụ nhân dân đón Tết, vui Xuân an toàn Ban chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 252/KH-BCĐLNATTP ngày 27/12/2024 của Ban chỉ đạo về Triển khai công tác đảm bảo an toàn thực phẩm Tết Nguyên đán Ất Tỵ và mùa Lễ hội Xuân 2025. Cụ thể, từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/01/2025, các đoàn thanh, kiểm tra liên ngành đã tiến hành kiểm tra ở 178 cơ sở sản xuất thực phẩm, kinh doanh thực phẩm và kinh doanh dịch vụ ăn uống. Kết quả, 178 cơ sở đều đạt quy định về an toàn thực phẩm. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh chưa phát hiện ngộ độc thực phẩm.  4. Văn hóa, thể thao Trong tháng 01/2025, tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức nhiều sự kiện văn hóa đặc sắc, chuẩn bị chào đón Tết Nguyên đán Ất Tỵ. Tối ngày 31/12/2024, Trung tâm Văn hóa tỉnh đã tổ chức chương trình nghệ thuật "Chào năm mới 2025" tại sảnh Nhà hát tỉnh, thành phố Vĩnh Yên, thu hút đông đảo người dân và du khách tham dự. Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao mừng Đảng, mừng Xuân cũng được triển khai rộng rãi, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Ngày 01/10/2024, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức họp về kế hoạch tổ chức Đại hội Thể dục - Thể thao (TDTT) các cấp lần thứ VII, dự kiến diễn ra từ năm 2025 đến 2026, nhằm đánh giá phong trào thể dục thể thao quần chúng và lựa chọn vận động viên tham gia Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Theo kế hoạch, dự kiến Đại hội cấp xã tổ chức trong thời gian từ 1/7 đến 31/8/2025, lựa chọn xã Cao Phong, huyện Sông Lô và phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên tổ chức Đại hội điểm; Đại hội cấp huyện, ngành tổ chức từ 1/9 đến 31/12/2025, lựa chọn huyện Vĩnh Tường tổ chức Đại hội điểm; Đại hội TDTT tỉnh lần thứ VII tổ chức trong thời gian từ tháng 3 - 4/2026, tổ chức thi đấu từ 15 môn thể thao trở lên, trong đó có bộ môn Pickleball lần đầu tiên đưa vào thi đấu. 5. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy nổ và bảo vệ môi trường. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 74 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (giảm 05 vụ so với tháng trước) làm 07 người chết và 11 người bị thương, thiệt hại tài sản 2.985,73 triệu đồng, đã điều tra làm rõ 64/74 vụ (đạt 86,48%), bắt giữ 100 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 982,8 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/01/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 28 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 16 người chết và 24 người bị thương (so với tháng trước tăng 01 vụ, tăng 03 người chết, tăng 02 người bị thương). Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/01/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 13 vụ cháy, nổ (giảm 04 vụ so với tháng trước) với số tiền thiệt hại là trên 19,10 triệu đồng. Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/01/2025, toàn tỉnh đã phát hiện 62 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 58 vụ với số tiền xử phạt là 187,33 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm tăng 48 vụ (tăng 342,86%); số vụ xử phạt tăng 46 vụ (tăng 383,33%); số tiền xử phạt giảm 1.034,42 triệu đồng (giảm 84,67%)./.

Hội nghị Cán bộ công chức năm 2025 và Điển hình tiên tiến giai đoạn 2025 - 2030
  •   17/01/2025 23:35

Ngày 16/01/2025, tại Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, Ban Chấp hành Công đoàn phối hợp với Lãnh đạo Cơ quan tổ chức Hội nghị Cán bộ công chức năm 2025 và Điển hình tiên tiến giai đoạn 2025 - 2030 nhằm đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Hội nghị Cán bộ công chức năm 2024; biểu dương điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước 05 năm (2020- 2025); triển khai nhiệm vụ công tác trọng tâm năm 2025; phát động phong trào thi đua, khen thưởng giai đoạn 2025- 2030. Đoàn Chủ tịch điều hành Hội nghị gồm có đồng chí Nguyễn Hồng Phong, Bí thư Chi bộ, Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh; đồng chí Đỗ Minh Tâm - Chủ tịch Công đoàn cơ sở, Phó Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh. Tham dự hội nghị có các đồng chí trong Ban Chấp hành Chi bộ, Ban Lãnh đạo Cơ quan, Ban Chấp hành Công đoàn và toàn thể công chức, người lao động - đoàn viên Công đoàn cơ sở Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc. Phó Cục trưởng Nguyễn Minh Vinh phát biểu tại Hội nghịHội nghị đã được nghe các báo cáo: Kết quả công tác năm 2024, phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2025 của Cơ quan Cục Thống kê tỉnh; Tổng kết công tác Công đoàn năm 2024, phương hướng nhiệm vụ năm 2025; Tổng kết phong trào thi đua yêu nước 05 năm (2020 - 2025) và phương hướng, nhiệm vụ phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2025 - 2030; Tổng kết hoạt động Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2023 - 2025, phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 2025 - 2027 và công khai dự toán năm 2025 của Cơ quan. Báo cáo đã chỉ ra, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, Lãnh đạo Cơ quan đã lãnh chỉ đạo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Cơ quan; Công đoàn cơ sở luôn bám sát các nhiệm vụ tổ chức, phát động các phong trào thi đua; Cơ quan, Công đoàn luôn quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công chức, người lao động. Các tổ chức, đoàn thể và toàn thể công chức, người lao động luôn đoàn kết thống nhất, gương mẫu, sáng tạo; đã bám sát chức năng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch công tác để cụ thể hóa triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao góp phần hoàn thành và vượt chỉ tiêu các nhiệm vụ chính trị của Cơ quan và Công đoàn đề ra.Đối với phong trào thi đua yêu nước, giai đoạn 2020 - 2025, Cơ quan, Công đoàn Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc đã có nhiều tập thể, cá nhân được biểu dương, tuyên dương trong các phong trào thi đua. Trong đó, có nhiều tập thể, cá nhân được tặng thưởng nhiều danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng như Bằng khen Thủ tướng chính phủ, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, chiến sỹ thu đua cấp bộ,... và đối với công đoàn giai đoạn 2020 - 2024, Công đoàn cơ sở có 04 lần, cá nhân có 03 đồng chí được CĐVC tỉnh tặng Giấy khen.Hội nghị đã phát huy tối đa tính dân chủ, các đồng chí tham dự hội nghị tham gia thảo luận, góp ý sôi nổi, nhiệt tình vào các báo cáo. Trong đó, tập trung đánh giá nổi bật những mặt đã làm được; thẳng thắn nhìn nhận và chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới. Thủ trưởng Cơ quan và Chủ tịch Công đoàn đã giành nhiều thời gian để lắng nghe ý kiến tham gia, đóng góp, kiến nghị của công chức, người lao động; đặc biệt tập trung vào các nhiệm vụ và giải pháp để xây dựng Cơ quan, Công đoàn ngày càng trong sạch, vững mạnh. Hội nghị cũng đã bầu ra Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2025 - 2027 là những đồng chí có đủ phẩm chất, năng lực thực hiện tốt nhiệm vụ nhiệm vụ.Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2025 - 2027Với chủ đề "Kỷ cương, đoàn kết, tinh - gọn - mạnh, nâng cao năng lực, hiệu quả công tác thống kê", Lãnh đạo Cơ quan và Công đoàn đã phát động phong trào thi đua và ký giao ước thi đua với 6 chỉ tiêu, nhiệm vụ lớn, quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Cơ quan cũng như Công đoàn đề ra.Hội nghị Cán bộ công chức năm 2025 và Điển hình tiên tiến giai đoạn 2025 - 2030 của Cục Thống kê tỉnh kết thúc thành công tốt đẹp trên tinh thần phát huy tính dân chủ của công chức và người lao động. Đây là tiền đề để Cơ quan và Công đoàn Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị và phong trào thi đua yêu nước góp phần xây dựng Cơ quan, Công đoàn ngày càng phát triển vững mạnh./.Toàn thể cán bộ công chức Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc Tác giả: Nguyễn Mạnh Tuấn

Hội nghị tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2024; phương hướng nhiệm vụ năm 2025
  •   16/01/2025 15:28

Ngày 15/01/2025, Chi đoàn Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2024; phương hướng nhiệm vụ năm 2025; sinh hoạt chuyên đề với chủ đề: “Thanh niên Cục Thống Kê Vĩnh Phúc trong đổi mới tư duy thống kê thời đại số”. Tham dự Hội nghị có đồng chí Nguyễn Minh Vinh, Phó Cục trưởng Cục Thống kê, thanh niên của Chi đoàn Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 2024, với tinh thần xung kích, tình nguyện và sáng tạo, tuổi trẻ ngành Thống kê Vĩnh Phúc đã chung tay thực hiện nhiều hoạt động ý nghĩa, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp; Tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, các ngày lễ lớn trong năm do Đoàn khối, Công đoàn viên chức tỉnh, cơ quan tổ chức, phát động. Sự tham gia nhiệt tình và trách nhiệm của tuổi trẻ đã góp phần làm nên thành công của các sự kiện, đồng thời thể hiện tinh thần đoàn kết của thanh niên Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc trên mọi lĩnh vực. Phong trào tuổi trẻ sáng tạo cũng ghi nhận nhiều thành tích nổi bật. Các đoàn viên đã mạnh dạn đề xuất ý tưởng, sáng kiến trong học tập và lao động. Nhiều mô hình, giải pháp sáng tạo đã được ứng dụng vào thực tế, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng công việc. Công tác chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng được quan tâm sâu sắc. Tại hội nghị, đại biểu đã tập trung thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến, kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi của Chi đoàn Cục Thống kê nói riêng và trên địa bàn tỉnh nói chung. Nối tiếp phần tổng kết công tác đoàn năm 2024, Chi đoàn tổ chức sinh hoạt chuyên đề "Thanh niên Cục Thống kê Vĩnh Phúc và Đổi mới Tư duy Thống kê trong thời đại số". Xoay quanh buổi chuyên đề là tập trung phân tích những cơ hội và thách thức trong việc áp dụng công nghệ số vào hoạt động thống kê. Đồng thời nêu bật vai trò của thanh niên, với tinh thần sáng tạo, năng động, là lực lượng nòng cốt và đưa ra giải pháp nhằm đổi mới tư duy và phương pháp làm việc của thanh niên Cục Thống kê trong thời đại số. Để các giải pháp đi vào thực tiễn, Chi đoàn Cục Thống kê tổ chức những hoạt động nhóm, nhằm nâng cao kiến thức nghiệp vụ và kỹ năng làm việc nhóm của các thành viên Chi đoàn.Dưới đây là một số hình ảnh tại Hội nghị tổng kết công tác Đoàn năm 2024 và sinh hoạt chuyên đề của Chi đoàn Cục Thống kê. Tác giả: Phùng Thị Kiều Loan

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc quý IV và cả năm 2024
  •   01/01/2025 09:46

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) Tốc độ tăng trưởng GRDP tỉnh Vĩnh Phúc năm 2024 ước tăng 7,52%, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra, xếp thứ 8/11 vùng Đồng bằng sông Hồng; thứ 28/63 cả nước. Trong mức tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,53%, đóng góp 0,08 điểm %; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,77%, đóng góp 5,35 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,67%, đóng góp 1,63 điểm %; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm năm 2024 tăng 1,94%, đóng góp 0,46 điểm %.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản Năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng thấp so với cùng kỳ, ước tăng 1,53%, thấp hơn mức tăng 5,66% của năm 2023, chỉ cao hơn năm 2022 trong giai đoạn 2020-2024. Ngành trồng trọt và ngành thủy sản gặp khó khăn do chịu ảnh hưởng của cơn bão số 3 trong tháng 9/2024, nhiều diện tích cây trồng thu hoạch vụ mùa và diện tích nuôi trồng thủy sản bị mất trắng; do đó, tác động làm giá trị tăng thêm (GTTT) cả năm của ngành trồng trọt và thủy sản lần lượt giảm 2,43% và 2,18% so với năm 2023. Sản xuất chăn nuôi tăng trưởng khá, đóng góp chủ yếu từ chăn nuôi lợn, GTTT cả năm ước tăng 4,71%. Ngành lâm nghiệp duy trì mức tăng trưởng ổn định, ước tăng 3,32% so với năm 2023.1.2. Khu vực công nghiệp - xây dựngKhu vực công nghiệp – xây dựng tăng 10,77%, đóng góp 5,35 điểm phần trăm vào mức tăng chung của nền kinh tế. - Ngành công nghiệp: Mặc dù kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại với nhiều rủi ro tiềm ẩn, ngành công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định, đặc biệt phục hồi mạnh mẽ trong các quý cuối năm. Tăng trưởng cao nhất được ghi nhận ở quý III, đạt 17,28%. Tính chung cả năm 2024, GTTT của ngành công nghiệp tăng 11,19%, đóng góp 4,94 điểm % vào tăng trưởng GRDP của tỉnh. Trong các ngành công nghiệp chủ lực:+ Ngành sản xuất linh kiện điện tử tiếp tục là động lực chính, với GTTT ước tăng 15,64%, đóng góp 3,37 điểm %. Sự ổn định của các đơn hàng dài hạn và việc mở rộng hợp tác với các tập đoàn lớn như Apple, Samsung, Google… đã giúp gia tăng doanh thu và thúc đẩy tăng trưởng ngành.+ Ngành sản xuất ô tô tuy có sự suy giảm trong 6 tháng đầu năm, sản lượng ô tô trong 6 tháng đầu năm chỉ đạt trên 17 nghìn xe, giảm 8,45% so với cùng kỳ; nhưng trong 6 tháng cuối năm đã có sự phục hồi trở lại và có mức tăng trưởng khá. Thị trường tiêu thụ ô tô đã có dấu hiệu tích cực nhờ tác động của chính sách giảm thuế trước bạ , nhu cầu mua sắm các sản phẩm ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước gia tăng. Trên địa bàn, công ty Toyota, Honda... đã đẩy mạnh sản xuất, gia tăng sản lượng, sản lượng ô tô trong 6 tháng cuối năm ước đạt gần 26 nghìn xe, tăng 3,64% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm, chỉ số sản xuất ngành sản xuất xe có động cơ tăng 1,49% so với cùng kỳ.+ Ngành sản xuất xe máy ghi nhận sự tăng trưởng tích cực, đặc biệt trong quý III với mức tăng 21,29%. Tuy nhiên, ngành vẫn đối mặt với thách thức như nhu cầu tiêu thụ trong nước chững lại và sự cạnh tranh gay gắt từ các dòng xe máy điện của Vinfast, Dibao, Yadea...+ Ngành dệt và sản xuất trang phục tăng nhẹ 0,41% so với năm trước, với sự phục hồi đáng kể từ quý III (+7,04%) nhờ các đơn hàng dài hạn. Ngành kim loại và khoáng phi kim loại lần lượt tăng 7,25% và 13,59%, đóng góp 0,09 và 0,23 điểm %. Nhu cầu xây dựng và sửa chữa gia tăng cùng với giải ngân vốn đầu tư tích cực đã hỗ trợ các ngành này duy trì mức tăng trưởng ổn định.- Ngành xây dựng năm 2024 duy trì sự ổn định trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế. GTTT ngành xây dựng tăng 7,42%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm vào GRDP. Tốc độ tăng trưởng ngành xây dựng có xu hướng phục hồi trở lại sau giai đoạn chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19; kể từ năm 2022, giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn theo giá so sánh liên tục tăng với tốc độ năm sau cao hơn năm trước.1.3. Khu vực dịch vụHoạt động thương mại dịch vụ trầm lắng trong các tháng đầu năm, nhưng từ quý II, cùng với sự phục hồi trong sản xuất công nghiệp, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng các tháng trên địa bàn liên tục tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, các chính sách tăng lương từ ngày 01/7/2024 đã trở thành động lực thúc đẩy tăng tiêu dùng trong dân cư. Tăng trưởng khu vực dịch vụ cả năm 2024 ước tăng 7,67%, đóng góp 1,63 điểm % vào mức tăng chung của nền kinh tế.   Một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn, đóng góp nhiều vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 10,0% so với năm trước, đóng góp 0,60 điểm %; ngành vận tải, kho bãi tăng 16,97%, đóng góp 0,28 điểm %; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,72%, đóng góp 0,15 điểm %; ngành thông tin và truyền thông tăng 5,52%, đóng góp 0,11 điểm %; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 5,54%, đóng góp 0,06 điểm %.2. Quy mô kinh tế tiếp tục gia tăng, duy trì vị trí thứ 14 trong cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cựcQuy mô GRDP tỉnh Vĩnh Phúc năm 2024 theo giá hiện hành ước đạt 173,14 nghìn tỷ đồng, tăng 15,67 nghìn tỷ đồng, tương đương tăng 9,95% so với năm 2023. Đưa giá trị GRDP bình quân đầu người từ 130 triệu đồng/người năm 2023 lên 141,3 triệu đồng/người năm 2024, tương ứng tăng 11,3 triệu đồng/người.Cơ cấu các ngành kinh tế năm 2024 chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp. Tỷ trọng giá trị tăng thêm khu vực công nghiệp - xây dựng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tăng thêm 3 khu vực, ước đạt 62,37%, trong đó ngành công nghiệp chiếm 55,58%; ngành dịch vụ chiếm 30,88%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 6,75% (Năm 2023 lần lượt là: 62,47%, 30,56%, 6,98%).3. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sảnNăm 2024, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh duy trì mức ổn định dù chịu tác động từ thời tiết bất lợi. Năng suất lúa mùa và một số cây trồng giảm do ảnh hưởng của cơn bão số 3. Sản xuất chăn nuôi cơ bản ổn định, chăn nuôi lợn gặp phát triển khá so với cùng kỳ do giá lợn hơi duy trì ở mức cao, người dân yên tâm sản xuất; chăn nuôi gia cầm có xu hướng chuyển dịch cơ cấu từ chăn nuôi gà thịt sang gà đẻ. Công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh đối với đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn được thực hiện tốt.3.1. Sản xuất nông nghiệpa. Trồng trọt- Cây hàng năm: Năm 2024, diện tích gieo trồng cây hằng năm đạt 84.143,3 ha, giảm 334,2 ha so với năm 2023. Trong đó, cây lúa tiếp tục là cây trồng chủ lực của tỉnh với diện tích gieo cấy cả năm đạt 52.330,5 ha, chiếm 62,19% tổng diện tích gieo trồng, giảm 199,6 ha; năng suất thu hoạch bình quân cả năm đạt 58,52 tạ/ha, giảm 1,30% (-0,77 tạ/ha); sản lượng đạt 295.224,0 tấn, giảm 5,21% so với năm trước. Kết quả cụ thể từng nhóm cây trồng như sau: - Cây lâu năm: Năm 2024, sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục phát triển bền vững theo hướng duy trì và phát triển các loại cây ăn quả truyền thống, đẩy mạnh việc hình thành các vùng sản xuất cây ăn quả chủ lực. Một số địa phương trong tỉnh đã hình thành và phát triển các trang trại nông nghiệp công nghệ cao trồng cây ăn quả kết hợp du lịch trải nghiệm, bước đầu mang lại việc làm và thu nhập ổn định cho người nông dân, góp phần gia tăng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp trên địa bàn. Tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm đạt 8.204,7 ha, giảm nhẹ 0,17% (-13,8 ha) so với cùng kỳ năm trước; ước tính sản lượng một số cây ăn quả chính có thu sản phẩm trong năm như sau: Cây xoài ước đạt 6.018,0 tấn, giảm 4,92%; chuối đạt 52.815,0 tấn, giảm 1,56%; thanh long đạt 2.459,3 tấn, tăng 6,07%; na đạt 2.967,5 tấn, giảm 0,67%; bưởi đạt 9.281,6 tấn, giảm 2,20%); vải đạt 9.629,4 tấn, giảm 7,69%... b. Chăn nuôi: Năm 2024, ngành chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định nhờ ứng dụng giống vật nuôi năng suất cao và kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh được triển khai nghiêm ngặt, với hai đợt tiêm phòng và khử trùng môi trường nhằm tạo miễn dịch quần thể, hạn chế nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Tuy nhiên, cơn bão số 3 đã gây thiệt hại, làm mất hơn 60 nghìn con gia cầm và gia súc, ảnh hưởng đến nhiều hộ chăn nuôi. Số lượng đầu gia súc, gia cầm ước tính thời điểm 31/12/2024: Đàn trâu ước đạt 15.050 con, giảm 6,71% (-1.082 con) so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò ước đạt 87.050 con, giảm 3,57% (-3.223 con); đàn lợn (không bao gồm lợn con theo mẹ) đạt 489.543 con, giảm 0,92% (-4.525 con); đàn gia cầm 12.167,2 nghìn con, tăng 1,53%. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2024 ước đạt 136.051 tấn, tăng 4,59% so với cùng kỳ. Ngoài sản lượng thịt trâu, bò hơi giảm 3,14%, thịt gia cầm đạt 40.183,4 tấn, giảm 0,99%; các sản phẩm chăn nuôi khác đều tăng khá so với cùng kỳ: thịt lợn hơi đạt 89.254,5 tấn, tăng 7,97%; sản lượng trứng gia cầm đạt 809,7 triệu quả, tăng 10,16%; sữa bò tươi đạt 60.650 tấn, tăng 2,81%. 3.2. Sản xuất lâm nghiệp Năm 2024, sản xuất lâm nghiệp của tỉnh nhìn chung ổn định và đạt kết quả tốt, các chỉ tiêu cơ bản đều hoàn thành và hoàn thành vượt kế hoạch. Ước tính toàn tỉnh trồng được 601,7 ha rừng trồng mới tập trung, tăng 0,28% so với kế hoạch năm nhưng giảm 14,68% (-103,5 ha) so với năm 2023; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 774,8 nghìn, vượt 2,76% so với kế hoạch năm nhưng giảm 11,45% (-100,2 nghìn cây) so với năm 2023; sản lượng gỗ khai thác đạt 51.383,0 m3, tăng 5,26% so với năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 49.000,0 ste, tăng 0,54% so với năm trước. 3.3. Sản xuất thuỷ sản Năm 2024, sản xuất thủy sản của tỉnh tiếp tục phát triển, công tác phòng chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản được thực hiện hiệu quả nên không có dịch bệnh xảy ra, các loại thủy sản nuôi trồng đều phát triển tốt; tuy vậy do chịu ảnh hưởng ngập lụt của cơn bão số 3 nên sản lượng nuôi trồng giảm. Kết quả sản xuất thủy sản: Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 23.681,5 tấn, giảm 4,96% so cùng kỳ; trong đó, sản lượng khai thác nội địa ước đạt 1.936,4 tấn, tăng 1,25%; sản lượng nuôi trồng ước đạt 21.745,1 tấn, giảm 5,48% so với cùng kỳ. Sản lượng con giống sản xuất ước đạt 3.228,7 triệu con, tăng 1,87% (+59,2 triệu con) 4. Sản xuất công nghiệp Năm 2024, sản xuất công nghiệp tại Vĩnh Phúc chịu tác động bất lợi từ diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và khó khăn nội tại. Trước những thách thức đó, tỉnh đã triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp như cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, ưu tiên thu hút các dự án đầu tư chiến lược, công nghệ cao. Các doanh nghiệp trên địa bàn chủ động đổi mới quản trị, áp dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ. Nhờ đó, sản xuất công nghiệp năm 2024 đạt kết quả tích cực, tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng kinh tế tỉnh, Tháng 12/2024, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) giảm 5,82% so với tháng trước nhưng tăng 14,49% so với cùng kỳ. Trong tháng, sản xuất của các ngành chủ lực tăng khá so với tháng 12/2023: Ngành sản xuất linh kiện điện tử tăng 9,17%; sản xuất ô tô tăng 20,65%; sản xuất xe máy tăng 29,25%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 16,22%; ngành sản xuất kim loại tăng 7,49%. Ước tính cả năm 2024, chỉ số IIP ước tăng 11,43% so với năm trước (riêng quý IV tăng 8,93%), là mức tăng cao thứ hai trong 5 năm trở lại đây, chỉ sau mức 15,43% của năm 2022. Kết quả sản xuất kinh doanh có nhiều tích cực với 22/25 ngành có chỉ số tăng. Các ngành công nghiệp chủ lực như sản xuất linh kiện điện tử, xe máy, thức ăn chăn nuôi, gạch ốp lát, sắt thép, sản phẩm cơ khí... (chiếm trên 80% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp của tỉnh) nhìn chung ổn định và có sản lượng gia tăng so với năm 2023: Ngành sản xuất linh kiện điện tử tăng trưởng mạnh với IIP tăng 13,52%, nhờ các dự án lớn như Newface Optoelectronics và Acc Technologies đi vào hoạt động; ngành sản xuất trang phục giảm nhẹ 0,13% do nhu cầu xuất khẩu sụt giảm, nhưng đã dần phục hồi vào cuối năm; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại và sản xuất kim loại tăng lần lượt 15,12% và 9,47%, nhờ ứng dụng công nghệ hiện đại và tăng sản xuất thay thế hàng nhập khẩu; ngành sản xuất xe có động cơ tăng 1,49%, hưởng lợi từ chính sách ưu đãi giảm thuế trước bạ; ngành sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 7,62%. Sản lượng sản xuất một số sản phẩm: Tháng 12/2024, các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đều có sản lượng tăng so với cùng kỳ; trong đó, tăng nhiều nhất là xe máy các loại với mức tăng 26,70%. Năm 2024, ước tính sản lượng sản xuất của một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh như thức ăn gia súc, gia cầm, giày thể thao, gạch ốp lát, xe máy các loại, doanh thu dịch vụ sản xuất linh kiện điện tử tăng so với năm trước; ngược chiều, sản lượng xe ô tô các loại giảm nhẹ. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 12/2024, chỉ số tăng 0,85% so với tháng trước và giảm 4,21% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,03%, ngoài quốc doanh tăng 2,09%, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 5,09%. Chỉ số tiêu thụ: Tháng 12/2024, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 3,18% so với tháng trước và tăng 6,91% so với cùng kỳ. So với tháng trước, một số ngành có mức tăng khá là: Ngành sản xuất trang phục tăng 7,74%; ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 21,18%; ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 30,34%. Chỉ số tồn kho: Tháng 12/2024, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho tăng 5,34% so với tháng trước và giảm 34,24% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm đáng kể so với tháng trước là: Ngành sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 32,79%; ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 20,20%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 8,13%. * Xu hướng SXKD ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động SXKD quý Bốn tích cực hơn quý Ba với 68,6% doanh nghiệp đánh giá hoạt động tốt hơn và giữ ổn định (35,3% nhận định tốt hơn và 33,3% giữ ổn định); 31,4% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn. Dự báo tình hình SXKD trong quý I/2025 sẽ tiếp tục tốt hơn với 37,3% số doanh nghiệp được hỏi đánh giá hoạt động SXKD quý I/2025 tốt hơn so với quý IV/2024, 34,3% nhận định giữ ở mức ổn định và 28,4% đánh giá hoạt động SXKD sẽ gặp khó khăn hơn. Trong quý IV/2024, khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là việc tìm kiếm và mở rộng thị trường đầu ra cho sản phẩm. Cụ thể: có 54,9% doanh nghiệp gặp khó khăn do sự cạnh tranh của hàng hóa trong nước ngày càng cao; 51,0% doanh nghiệp gặp khó khăn do nhu cầu thị trường trong nước vẫn ở mức thấp và 32,4% doanh nghiệp gặp khó khăn do nhu cầu hàng hóa tại các thị trường quốc tế chưa hoàn toàn phục hồi trở lại. 5. Thương mại, dịch vụ Năm 2024, thương mại, dịch vụ và vận tải tại Vĩnh Phúc duy trì ốn định, với mức tăng trưởng tích cực. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 80.594,1 tỷ đồng, tăng 10,80% so với năm trước. Doanh thu vận tải ước đạt 8.405,7 tỷ đồng, tăng 23,59%, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa. 5.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 12/2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ước đạt 7.434,6 tỷ đồng, tăng 1,68% so với tháng trước và tăng 12,82% so với cùng kỳ. Quý IV, tổng mức ước đạt 22.013,6 tỷ đồng, tăng 5,32% so với quý trước và tăng 14,25% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm 2024, tổng mức ước đạt 80.594,0 tỷ đồng, tăng 10,80% so với năm trước. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 6.081,6 tỷ đồng, tăng 12,72% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 18.070,4 tỷ đồng, tăng 14,52% so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 65.693,9 tỷ đồng, chiếm 81,51% tổng mức, tăng 10,34% so năm 2023. Trong năm ghi nhận xu hướng tiêu dùng tăng đối với các sản phẩm thiết yếu, đặc biệt là trong các dịp cao điểm những ngày lễ, tết. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 623,6 tỷ đồng, tăng 9,50% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 1.815,1 tỷ đồng, tăng 9,98% so với cùng kỳ. Cả năm, doanh thu ước đạt 6.891,5 tỷ đồng, tăng 9,03%. Ngành dịch vụ ăn uống tiếp tục phát triển với nhiều nhà hàng, quán ăn cao cấp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Doanh thu du lịch lữ hành: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 20,2 tỷ đồng, tăng 10,35% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 78,4 tỷ đồng, tăng 31,24% so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 516,8 tỷ đồng, tăng 99,63% so với năm trước, nhờ vào các hoạt động quảng bá và sự kiện kích cầu du lịch trong tỉnh. Doanh thu dịch vụ khác: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 709,3 tỷ đồng, tăng 16,89% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 2.049,7 tỷ đồng, tăng 15,19% so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu ước đạt 7.491,8 tỷ đồng, tăng 13,16% nhờ vào sự phát triển các dịch vụ y tế, giáo dục, nghệ thuật. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Năm 2024, hoạt động giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, thông suốt, đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển và lưu thông hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng, doanh thu ngành vận tải kho bãi ước đạt 8.405,7 tỷ đồng, đạt mức tăng khá cao 23,59% so với năm trước (riêng tháng 12/2024 ước đạt 775,8 tỷ đồng, tăng 15,50% so với cùng kỳ). Cụ thể theo từng loại hình vận tải: Vận tải hành khách: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 126,4 tỷ đồng, tăng 55,93% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 364,5 tỷ đồng, tăng 52,29% so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu ước đạt 1.476,2 tỷ đồng, tăng 58,60%; Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 37,1 triệu lượt, tăng 51,01%. Các tuyến vận tải ghi nhận nhu cầu đi lại tăng mạnh trong dịp lễ Tết Nguyên Đán, Lễ Quốc khánh và Giáng sinh, khi người dân có xu hướng di chuyển để thăm người thân hoặc tham gia các sự kiện văn hóa và du lịch. Vận tải hàng hóa: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 554,5 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 1.616,9 tỷ đồng, tăng 4,72% so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu ước đạt 6.008,2 tỷ đồng, tăng 13,19%; Khối lượng vận chuyển ước đạt 43,2 triệu tấn, luân chuyển đạt 5.094,1 triệu tấn.km. Các tuyến vận tải chính được nâng cấp đáng kể, bao gồm mở rộng mặt đường và cải thiện cơ sở hạ tầng, nhằm đảm bảo giao thông thông suốt và nâng cao hiệu suất vận chuyển. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải và bưu chính: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 95,0 tỷ đồng, tăng 63,86% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 277,3 tỷ đồng, tăng 66,05% so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu ước đạt 921,3 tỷ đồng, tăng 63,86% nhờ vào việc hoàn thiện hạ tầng logistics và sự phát triển của thương mại điện tử. II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ 1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước Năm 2024, tỉnh đã tập trung rà soát, xác định các nguồn thu có tiềm năng để đẩy mạnh các biện pháp khai thác, đôn đốc tăng thu cho ngân sách. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 15/12/2024 thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 28.705,7 tỷ đồng, tăng 5,25% so với cùng kỳ, đạt 90,37% dự toán giao đầu năm. Trong đó, thu nội địa đạt 23.340,8 tỷ đồng, tăng 3,31%, tăng chủ yếu ở các khoản thu về nhà, đất (2.429,9 tỷ đồng), tăng 31,32%; thu từ doanh nghiệp ngoài nhà nước (1.915,2 tỷ đồng), tăng 28,74% và thu thuế thu nhập cá nhân (1.644,3 tỷ đồng), tăng 25,12% so với cùng kỳ. Hoạt động xuất, nhập khẩu trên địa bàn gia tăng, đóng góp tích cực tới nguồn thu hải quan của tỉnh (5.345,8 tỷ đồng), tăng 15,07% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/12/2024 đạt 21.848,6 tỷ đồng, giảm 8,81% so với cùng kỳ, vượt 5,36% so với dự toán giao đầu năm, giảm chủ yếu ở nguồn chi đầu tư phát triển, bao gồm cả tạm ứng đạt 8.684,3 tỷ đồng, giảm 25,21%; chi thường xuyên đạt 11.571,7 tỷ đồng, tăng 11,78% so với cùng kỳ. 2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng Tổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 31/12/2024 đạt 142,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,98% so với cuối năm 2023. Cả hai nguồn tiền gửi từ tổ chức kinh tế và tiền gửi dân cư đều có mức tăng khá lần lượt là 12,48% và 13,23%. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt kết quả tốt, lượng tiền nhàn rỗi gửi ngân ngân hàng trong ngắn hạn tăng lên. Bên cạnh đó, trong bối cảnh các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản và vàng có nhiều biến động, tiền gửi ngân hàng vẫn được xem là kênh lưu trữ tài sản an toàn và đáng tin cậy của người dân. Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 31/12/2024, đạt 143,5 nghìn tỷ đồng, tăng 11,97% so với cuối năm 2023. Mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm khá nhiều, dư nợ cho vay chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, ước đạt 105,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,63% so với cuối năm 2023, chiếm 73,52% tổng dư nợ. Cơ cấu dư nợ tập trung vào các hoạt động sản xuất, dịch vụ và đầu tư phát triển, trong đó dư nợ khu vực hộ gia đình, tư nhân, cá thể chiếm 59,93% tổng dư nợ và dư nợ khu vực doanh nghiệp chiếm 39,72% tổng dư nợ. Dư nợ các chương trình tín dụng chính sách ước đến 30/11/2024 đạt 5,04 nghìn tỷ đồng; tăng 12,05% so với cuối năm 2023, với hơn 108 nghìn khách hàng đang vay vốn. Cụ thể: cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ thoát nghèo 980 tỷ đồng; cho vay học sinh sinh viên 85 tỷ đồng; cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường 1.030 tỷ đồng; cho vay giải quyết việc làm 1.978 tỷ đồng… Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ổn định dưới 2% trong cả năm. Ước tính đến 31/12/2024, nợ xấu toàn địa bàn đạt 1,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,05% tổng dư nợ. 3. Bảo hiểm Năm 2024, Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh đã tăng cường phối hợp, rà soát dữ liệu các cơ quan: Cục Thuế, sở Kế hoạch-Đầu tư để khai thác đối tượng tham gia bảo hiểm. Đồng thời, tích cực tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, đẩy mạnh tuyên truyền về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đến nhân dân, tạo sự lan tỏa sâu rộng, nhất là đối với nhóm đối tượng là nông dân, người lao động tự do. Ước tính đến 31/12/2024, toàn tỉnh có 1.187.845 người tham gia bảo hiểm các loại. Trong đó, có 279.543 người tham gia BHXH, chiếm 46,14% lực lượng lao động, vượt 2,24% so với chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội tại Nghị quyết 55 của HĐND tỉnh giao 43,9%. Trong đó, BHXH bắt buộc: 252.343 người; BHXH tự nguyện: 27.200 người; tham gia BH thất nghiệp có 239.422 người; tham gia BHYT có 1.160.227 người; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95,78% dân số, vượt 0,78% so với chỉ tiêu tại Nghị quyết 55 (chỉ tiêu giao 95%).   Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại đến hết 31/12/2024 ước đạt 7.155 tỷ đồng, vượt 2,02% kế hoạch giao và tăng 10,42% so với năm 2023. Công tác chi trả, nhất là trả lương hưu và trợ cấp BHXH được thực hiện đồng bộ, nhanh gọn và an toàn đến tận tay đối tượng. Trong năm, BHXH tỉnh đã giải quyết hưởng BHXH hàng tháng cho 820 người; giải quyết hưởng BHXH một lần cho 14.814 người; giải quyết ốm đau, thai sản, dưỡng sức cho 134.233 lượt người; lập danh sách chi trả cho 11.052 lượt người hưởng bảo hiểm thất nghiệp. 4. Hoạt động đầu tư Năm 2024, hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn ghi nhận kết quả tăng khá tại khu vực doanh nghiệp FDI và hộ dân cư, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước và khu vực vốn nhà nước giảm sút do khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, làm chậm tiến độ giải ngân nhiều dự án. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 54.980,7 tỷ đồng, tăng 3,18% so với năm 2023. + Khu vực Nhà nước ước đạt 10.708,8 tỷ đồng, giảm 13,93% so với năm 2023. Vốn từ ngân sách Nhà nước giảm sâu, chỉ đạt 8.619,3 tỷ đồng, tương đương 83,90% kế hoạch và giảm 23,47% so với năm 2023. Trong khi đó, vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước và các nguồn khác tăng đáng kể, đặc biệt vốn của doanh nghiệp Nhà nước tăng gấp 5 lần so với năm trước. + Khu vực ngoài Nhà nước ước đạt 25.708,1 tỷ đồng, tăng 7,84% so với năm 2023. Vốn đầu tư của hộ dân cư tăng mạnh (+13,36%) nhờ nhu cầu xây dựng nhà cửa và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, vốn đầu tư từ doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 11,26%, do khó khăn về đơn hàng và chi phí sản xuất, khiến một số doanh nghiệp thu hẹp quy mô hoặc hạn chế đầu tư mới. + Khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 18.563,8 tỷ đồng, tăng 9,08% so với năm trước. Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng cao và được nâng dần qua các quý (quý I: 3.149,9 tỷ đồng; quý II: 4.286,3 tỷ đồng; quý III: 5.129,4 tỷ đồng; quý IV: 5.998,2 tỷ đồng). Nhiều dự án quy mô lớn tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị hiện đại, đổi mới dây chuyền sản xuất... được đẩy mạnh thực hiện trong năm, đã góp phần tăng cường thu hút FDI. Đồng thời tỉnh tiếp tục ưu tiên các dự án công nghệ cao, mang lại giá trị gia tăng lớn, tạo tác động lan tỏa và thúc đẩy chuỗi cung ứng toàn cầu. - Tình hình thu hút đầu tư: Năm 2024, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng kết quả thu hút đầu tư FDI của tỉnh vượt kế hoạch đề ra. Tính đến tháng 12/2024, tỉnh đã thu hút được 80 dự án FDI, bao gồm 37 dự án cấp mới và 43 dự án điều chỉnh vốn, với tổng vốn đăng ký đạt 636,1 triệu USD; tăng 2,56% về số dự án và tăng 5,27% về vốn đăng ký so với cùng kỳ, vượt 59,02% so với kế hoạch năm (400 triệu USD). Các dự án tỉnh đã thu hút, cấp mới và tăng vốn là các dự án công nghệ, có giá trị gia tăng lớn, sử dụng lao động chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh, tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị về điện tử, ô tô, xe máy theo đúng định hướng của tỉnh. Các chương trình xúc tiến đầu tư không chỉ tập trung vào thị trường truyền thống như: Nhật Bản, Hàn Quốc mà chuyển hướng sang một số thị trường tiềm năng ở châu Âu, Mỹ, Úc hay xu hướng đón đầu sự dịch chuyển của nhà đầu tư từ Trung Quốc, Đài Loan thuộc các chuỗi cung ứng, các nước đối tác là thành viên của Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Vốn DDI thu hút được 30 dự án (17 dự án cấp mới, 13 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 5.303,6 tỷ đồng, bằng 96,43% kế hoạch giao đầu năm (5.500 tỷ đồng). 5. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa Năm 2024, hoạt động xuất nhập khẩu tại tỉnh Vĩnh Phúc ghi nhận tốc độ tăng trưởng mạnh trong nửa đầu năm nhờ nhu cầu thị trường cao và sự phục hồi kinh tế, sau đó duy trì mức ổn định vào những tháng cuối năm. Theo số liệu báo cáo của Chi cục Hải quan tỉnh Vĩnh Phúc[1], kim ngạch xuất khẩu tính đến 15/12/2024 đạt 17.571 triệu USD, tăng 7,89% so với cùng kỳ (tính đến 15/6/2024 tăng 28,6%). Trong đó: Nhóm hàng điện tử và linh kiện điện tử chiếm tỷ trọng lớn nhất (56,01%) mức tăng 16,30% so với cùng kỳ năm trước; nhóm máy móc, thiết bị và phụ tùng (chiếm 20,64%) tăng 11,44%; nhóm xe máy nguyên chiếc, linh kiện, phụ tùng xe máy (chiếm 5,61%)  tăng 0,88%... Kim ngạch nhập khẩu đạt tốc độ tăng trưởng mạnh hơn xuất khẩu, phản ánh sự chuẩn bị của các doanh nghiệp cho kế hoạch sản xuất và xuất khẩu trong năm 2025. Kim ngạch nhập khẩu đạt 18.558 triệu USD, tăng 20,13% so với cùng kỳ (tính đến 15/6/2024 tăng 30%). Trong đó: Nhóm hàng điện tử và linh kiện điện tử tăng 32,83% so với cùng kỳ, chiếm 61,37% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa; nhóm hàng máy móc, thiết bị và phụ tùng tăng 21,83% (chiếm 14,92%). 6. Chỉ số giá 6.1. Chỉ số giá tiêu dùng: Tháng 12/2024, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tăng 0,08% so với tháng trước, tăng 0,88% so với cùng tháng 12/2023, do điều chỉnh giá điện sinh hoạt, giá xăng dầu và giá một số mặt hàng thiết yếu. So với tháng trước, CPI tháng 12/2024 tăng 0,08%. trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 7 nhóm hàng tăng giá và 4 nhóm giảm giá: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,27%, đóng góp mức giảm 0,09 điểm phần trăm vào CPI chung; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,29%, chủ yếu do giá điện sinh hoạt tăng 1,23%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,21%, chủ yếu do nhu cầu mua sắm mùa đông tăng cao; Nhóm giao thông tăng 0,36% do giá xăng dầu điều chỉnh tăng 1,23%. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 12/2024 tăng 0,88% so với tháng 12/2023. Các nhóm hàng có mức tăng cao nhất gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,73%, đóng góp 1,58 điểm phần trăm vào CPI chung, trong đó giá gạo tăng 6,18%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,34%, chủ yếu do giá điện sinh hoạt và giá gas tăng. Bình quân cả năm 2024, CPI tăng 2,61% so với cùng kỳ năm trước. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến mức tăng này gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,47%, đóng góp 1,49 điểm phần trăm vào CPI chung; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,62%, đóng góp 0,53 điểm phần trăm vào CPI chung; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,58%, đóng góp 0,40 điểm phần trăm vào CPI chung; Nhóm giáo dục tăng 3,21%, đóng góp 0,21 điểm phần trăm vào CPI chung; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,27%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm vào CPI chung. - Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 12/2024, chỉ số giá vàng giảm 1,38% so với tháng trước, tăng 34,32% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm 2024, chỉ số giá vàng tăng 32,82%. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,01% so với tháng trước, tăng 4,96% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân cả năm, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 5,57%. 6.2. Chỉ số giá sản xuất - Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý IV/2024 giảm 0,77% so với quý trước và tăng 11,43% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm sản phẩm cây hàng năm tăng 2,59%, trong đó rau, đậu và hoa tăng 4,00% do ảnh hưởng từ thời tiết xấu khiến nguồn cung khan hiếm. Chỉ số giá sản phẩm chăn nuôi giảm 2,55%, riêng giá lợn giống và lợn thịt giảm 2,67% do nguồn cung dồi dào sau khi tái đàn. Nhóm sản phẩm từ cây lâu năm tăng 2,66% do sản lượng thấp đầu vụ. Tính chung cả năm 2024, chỉ số giá tăng 11,84% so với năm 2023. - Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý IV/2024 tăng 0,26% so với quý trước nhưng giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV tăng nhẹ 0,27%, với các ngành có mức tăng như trang phục (+7,55%), giấy (+2,98%), và các thiết bị điện tăng 3,03%. Tuy nhiên, một số ngành giảm mạnh như sản phẩm từ khoáng phi kim loại (-7,53%) và thực phẩm chế biến (-2,66%) do nhu cầu tiêu thụ giảm. Nhóm điện, khí đốt tăng 1,24% trong quý IV và 5,29% trong cả năm do nhu cầu sử dụng tăng cao và giá điện điều chỉnh tăng từ tháng 10/2024. Nhóm nước tự nhiên khai thác và xử lý chất thải giảm 2,36% trong quý IV nhưng tăng 3,94% cả năm do chi phí nhân công và vật liệu tăng. Tính chung năm 2024, chỉ số giá giảm 0,77%. 6.3. Chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất Trong quý IV và cả năm 2024, thị trường hàng hóa và dịch vụ phục vụ sản xuất tiếp tục chịu ảnh hưởng của biến động giá cả hàng hóa và dịch vụ thế giới. Nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản ghi nhận sự ổn định với chỉ số giá quý IV giảm 0,77% so với quý trước, nhưng tăng 11,72% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm, chỉ số giá tăng 10,68%. Đáng chú ý, nhóm sản phẩm rau, đậu và hoa tăng mạnh 4,00% do thời tiết xấu ảnh hưởng đến nguồn cung, trong khi giá lợn giống giảm 2,67% nhờ nguồn cung ổn định sau tái đàn. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có xu hướng ổn định hơn trong quý IV, với chỉ số giá tăng nhẹ 0,35% so với quý trước nhưng giảm 0,12% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm, chỉ số giá giảm 0,81%, với các nhóm sản phẩm như trang phục tăng 0,59%, trong khi sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 7,53% do lượng hàng tồn kho lớn và nhu cầu thị trường giảm. Ngành xây dựng ghi nhận diễn biến trái chiều trong quý IV, với chỉ số giá tăng 0,98% so với quý trước và tăng 2,76% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm, chỉ số giá tăng 1,90% nhờ nhu cầu sử dụng dây điện, thiết bị điện và các sản phẩm xây dựng khác tăng trưởng, mặc dù thị trường chịu ảnh hưởng từ thời tiết xấu và biến động nguyên liệu đầu vào. III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm. Năm 2024, cùng với sự phục hồi và phát triển kinh tế, thị trường lao động việc làm có nhiều khởi sắc; các chính sách hỗ trợ, giải quyết việc làm được thực hiện theo hướng linh hoạt, hiệu quả; chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo... tiếp tục được quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng, góp phần ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Lực lượng lao động, lao động có việc làm: Trong quý IV năm 2024, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh ước đạt 618,77 nghìn người, tăng 0,05% so với quý trước tăng 0,19% so với cùng kỳ năm 2023. Xét theo cơ cấu, lao động khu vực thành thị chiếm 32,9% (202,7 nghìn người) và nông thôn chiếm 67,23% (416 nghìn người). Theo giới tính, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên nam giới chiếm 51,41% (318,1 nghìn người), nữ giới chiếm 48,59% (300,6 nghìn người). Số lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trên toàn tỉnh ước tính Quý IV năm 2024 là 605,6 nghìn người, tăng 3,78 % so với Quý trước, chiếm 97,87% lực lượng lao động. Số lao động đang làm việc khu vực thành thị ước quý IV năm 2024 là 197,7 nghìn người, khu vực nông thôn 407,9 nghìn người. Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là nam giới 309,6 nghìn người, nữ giới 296,0 nghìn người. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ước tính là 1,74%, giảm 0,02% so với cùng kỳ năm trước. Theo kết quả khảo sát các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, có 22,6% doanh nghiệp đánh giá có số lao động quý IV tăng so với quý III; 52,9% doanh nghiệp có số lao động giữ ở mức ổn định và 24,5% doanh nghiệp có số lao động giảm. Giải quyết việc làm: Năm 2024, ước tính toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 23.083 lao động, tăng 11,3% so với năm 2023; vượt 35,8 % kế hoạch năm. Trong đó: Giải quyết việc làm trong nước cho 21.699 người, tăng 16,9% so với năm 2023; tạo việc làm mới cho 4.428 lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, thủy sản; 11.190 lao động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng; 6.081lao động lĩnh vực thương mại - dịch vụ. Đưa 1.384 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. 2. An sinh xã hộiHỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội: Năm 2024, công tác trợ giúp xã hội và bảo vệ trẻ em đạt nhiều kết quả quan trọng. Chính sách trợ giúp xã hội mở rộng đối tượng, tăng mức hưởng, thực hiện hiệu quả. Hệ thống cơ sở trợ giúp đồng bộ, tạo lưới an toàn xã hội bao phủ nhiều đối tượng. Công tác bảo vệ, giáo dục trẻ em chuyển biến tích cực, đảm bảo quyền sống, học tập, vui chơi, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần cho trẻ em. Năm 2024, toàn tỉnh có trên 44 nghìn người đang hưởng trợ cấp xã hội tại cộng đồng. Số tiền trợ cấp trong năm cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo nghị định 20/2021/NĐCP là 346.103,6 triệu đồng (trong đó, trợ cấp hàng tháng là 345.310 triệu đồng, trợ cấp đột xuất là 793,6 triệu đồng). Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội: Công tác giảm nghèo tiếp tục được triển khai đồng bộ, kịp thời. Năm 2024, toàn tỉnh đã chi 62.435,1 triệu đồng hỗ trợ các hộ nghèo, cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn (trong đó: trợ cấp hàng tháng: 16.903,9 triệu đồng, trợ cấp đột xuất: 45.531,2 triệu đồng). Kết quả cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách tính đến đầu tháng 12/2024 như sau: Số đối tượng hiện đang được vay vốn là 112.079 khách hàng với tổng số dư nợ 5.048.265,81 triệu đồng. Trong đó, đối tượng hộ nghèo hiện được vay vốn ưu đãi theo Nghị định 78/2002 là 2.495 hộ, số dư nợ 180.826,71 triệu đồng; cho vay đối với hộ cận nghèo theo Quyết định 15/2013 là 4.969 hộ, số dư nợ 366.739,9 triệu đồng; cho vay hộ dân tộc thiểu số theo Quyết định 2085/2016 là 52 hộ, số dư nợ 3.286,7 triệu đồng. Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Tỉnh thực hiện tốt việc giải quyết chế độ chính sách đối với người có công và thân nhân người có công theo đúng quy trình về thủ tục hành chính. Hiện nay, tổng số đối tượng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng trên địa bàn tỉnh là trên 17 nghìn người; cả năm 2024, số tiền trợ cấp trong cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng là 534.419 triệu đồng (trong đó, trợ cấp hàng tháng: 474.621,5 triệu đồng, trợ cấp đột xuất: 59.797,5 triệu đồng). 3. Giáo dục, đào tạo Năm 2024, các cơ chế, chính sách đầu tư cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm, chỉ đạo hoàn thiện. Kỳ họp thứ 18 HĐND tỉnh Vĩnh Phúc khóa XVII đã thông qua nghị quyết hỗ trợ toàn bộ học phí cho trẻ mầm non đến học sinh THPT trong năm học 2024-2025, áp dụng cho cả cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập. Chính sách này không chỉ thể hiện sự quan tâm của tỉnh đối với an sinh xã hội, mà còn thúc đẩy ngành giáo dục và đào tạo phát triển theo hướng nhân văn và bền vững. Chất lượng giáo dục phổ thông và giáo dục mũi nhọn của tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục được nâng cao. Trong hai năm học liên tiếp, tỉnh dẫn đầu cả nước về điểm trung bình kỳ thi tốt nghiệp THPT. Năm học 2023-2024, tỷ lệ học sinh đạt giải kỳ thi học sinh giỏi quốc gia đạt 90,82%, mở rộng đối tượng học sinh có thành tích cao. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục cùng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học được đầu tư, đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập. Công tác đào tạo nghề cũng có nhiều chuyển biến tích cực, đáp ứng nhu cầu học nghề của người dân và yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Tỉnh chú trọng đào tạo ngành nghề chất lượng cao, đa dạng hóa lĩnh vực đào tạo. Trong năm, tổng số tuyển mới đạt 27.710 người, bao gồm 2.080 ở trình độ cao đẳng, 8.377 trung cấp, và 17.253 sơ cấp hoặc đào tạo ngắn hạn. Đặc biệt, đào tạo nghề cho lao động nông thôn và tuyển sinh theo đơn đặt hàng được triển khai hiệu quả, tạo cơ hội việc làm ổn định cho người lao động. 3. Y tế Năm 2024, hệ thống y tế trên địa bàn tỉnh tiếp tục được nâng cấp và phát triển, góp phần cải thiện chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh cho người dân. Nhiều bệnh viện và đơn vị y tế triển khai các kỹ thuật mới, trong đó một số bệnh viện tuyến tỉnh đã thực hiện kỹ thuật vượt tuyến và chuyên sâu. Việc cung ứng thuốc và vật tư y tế được đảm bảo, chất lượng thuốc được chú trọng. Các chỉ tiêu trong lĩnh vực y tế đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, cụ thể: tỷ lệ bác sĩ/vạn dân đạt 16,9 (so với kế hoạch 15 bác sĩ/vạn dân); tỷ lệ giường bệnh/vạn dân đạt 43,6 (so với kế hoạch 40 giường/vạn dân). Tình hình dịch bệnh truyền nhiễm cơ bản ổn định, số ca mắc hầu hết giảm so với năm 2023. Đặc biệt, các bệnh như nhiễm vi rút Adeno, cúm, sốt xuất huyết, thủy đậu, tiêu chảy, tay chân miệng và Covid-19 đều ghi nhận sự giảm đáng kể về số ca mắc. Công tác phòng chống ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm được triển khai chủ động, thường xuyên tại các tuyến thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, truyền thông, tập huấn và giám sát nguy cơ ô nhiễm. Từ đầu năm đến nay, tỉnh ghi nhận 04 vụ ngộ độc thực phẩm (03 vụ ở Vĩnh Yên vào tháng 5, 01 vụ ở Lập Thạch vào tháng 7), với 456 người mắc, không có ca tử vong. Nguyên nhân được xác định: 03 vụ do vi sinh vật trong thực phẩm chế biến hỗn hợp và 01 vụ do độc tố từ thịt cóc. Các đơn vị chuyên môn đã kịp thời triển khai biện pháp xử lý nhằm giảm thiểu tác hại của ngộ độc thực phẩm đối với cộng đồng. 4. Văn hóa, thể thao Trong năm 2024, tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức nhiều hoạt động văn hóa chào mừng các ngày lễ lớn và sự kiện quan trọng của đất nước, tỉnh. Công tác xây dựng “Làng văn hóa kiểu mẫu” được triển khai hiệu quả, các khu thiết chế văn hóa thể thao đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt, vui chơi của Nhân dân, góp phần nâng cao đời sống tinh thần. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục nhận được sự hưởng ứng tích cực.  Trong năm, ngành Văn hóa, Thể thao đã dàn dựng 13 chương trình nghệ thuật mới và tổ chức 250 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, cộng đồng. Phong trào tập luyện và thi đấu thể thao phát triển mạnh mẽ, thu hút đông đảo quần chúng tham gia, góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng nguồn nhân lực. Tỉnh đã tổ chức thành công các sự kiện như Lễ phát động Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân 2024, Ngày Olympic trẻ em, và các giải thể thao quần chúng. Đặc biệt, Vĩnh Phúc đăng cai giải vô địch CLB vật cổ điển và vật tự do quốc gia năm 2024. Năm 2024, các vận động viên của tỉnh tham gia 39 giải thể thao quốc gia, quốc tế, đạt 246 huy chương (tăng 32,9%), gồm 89 huy chương Vàng, 60 huy chương Bạc, 97 huy chương Đồng. Đội bóng chuyền nữ xuất sắc vào vòng chung kết giải Bóng chuyền hạng A quốc gia năm 2024. 5. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy, nổ Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Năm 2024, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 808 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội làm chết 21 người, bị thương 190 người, thiệt hại tài sản 93,11 tỷ đồng, đã điều tra làm rõ 701 vụ (đạt 86,8%) với 1.446 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 10,3 tỷ đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/12/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 313 vụ tai nạn giao thông (310 vụ tai nạn đường bộ, 03 vụ tai nạn đường sắt) làm 141 người chết, 240 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn không tăng, không giảm, giảm 17 người chết, giảm 20 người bị thương. Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/12/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 134 vụ cháy, nổ (trong đó, 133 vụ cháy và 01 vụ nổ), làm chết 03 người và 10 người bị thương với số tiền thiệt hại trên 2.822,84 triệu đồng và 20,8 ha rừng. 6. Tình hình thiệt hại thiên tai và công tác bảo vệ môi trường Tình hình thiên tai: Trong năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ thiên tai, làm chết 06 người; bị thương 03 người; sập 27 nhà, 493 nhà bị hư hại từ 30% trở lên; ngập úng 10.162,7 ha lúa, 3.479,75 ha hoa màu; 562 con gia súc, 73.475 con gia cầm bị chết và lũ cuốn trôi. Tổng số tiền thiệt hại trên 857.328,96 triệu đồng (Riêng cơn bão số 3 đã gây thiệt hại trên 705.178 triệu đồng). Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/12/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 798 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 752 vụ với số tiền xử phạt là 8.432,29 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 435 vụ; số vụ xử lý tăng 389 vụ; số tiền xử phạt tăng 5.340,9 triệu đồng. Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp

Họp báo thông tin tình hình kinh tế - xã hội năm 2024
  •   30/12/2024 15:56

Chiều 27/12, Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh tổ chức họp báo thông tin về tình hình kinh tế - xã hội năm 2024, phương hướng nhiệm vụ năm 2025. Các đồng chí: Phan Thế Huy, Tỉnh ủy viên, Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Nguyễn Hồng Phong, Cục trưởng Cục thống kê tỉnh; Lê Anh Tân, Quyền Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì hội nghị. Cùng dự có đại diện lãnh đạo một số sở, ngành, địa phương và các cơ quan báo chí, thông tin truyền thông thường trú trên địa bàn. Năm 2024, tỉnh Vĩnh Phúc triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện thuận lợi, khó khăn đan xen, trong đó có nhiều khó khăn chưa có tiền lệ. Song với sự nỗ lực, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2024 đã có sự phục hồi tốt, hầu hết các chỉ tiêu có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm 2023. Ước tính GRDP cả năm tăng 7,52% so với năm 2023, cao hơn tốc độ tăng bình quân chung của cả nước (6,8 - 7%), đạt mục tiêu kế hoạch đề ra (mục tiêu tăng từ 7,5 - 8,5%), xếp thứ 8/11 vùng Đồng bằng sông Hồng; thứ 28/63 cả nước. Giá trị GRDP bình quân đầu người ước đạt 141,3 triệu đồng/người/năm, tăng 8,7%, tương đương tăng khoảng 11,3 triệu đồng so với năm 2023. Tổng thu ngân sách Nhà nước ước đạt 31.486,9 tỷ đồng, tăng 3,5% so với dự toán Trung ương giao và tăng 4,1% so với năm 2023; thu hút đầu tư vốn FDI đạt 637,3 triệu USD, vốn đầu tư DDI đạt 5.776,5 tỷ đồng. Cùng với đó, các lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế tiếp tục được quan tâm, chỉ đạo với hơn 20.000 lao động được giải quyết; tỷ lệ hộ nghèo ước còn 0,44%, giảm 0,17% so với năm 2023.Đại diện lãnh đạo các đơn vị chủ trì hội nghịNăm 2025, Cục Thống kê tỉnh sẽ phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành để thực hiện đồng bộ việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu thống kê, đáp ứng yêu cầu phục vụ các chính sách phát triển bền vững của tỉnh. Đồng thời, các cơ chế, chính sách sẽ được triển khai hiệu quả nhằm khai thông nguồn lực, thúc đẩy hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý, tận dụng tối đa các nguồn vốn đầu tư công, và phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội.Tại buổi họp báo, đại diện các cơ quan báo chí đánh giá cao những kết quả tỉnh đạt được trong năm 2024, đồng thời, đã nêu nhiều ý kiến về các vấn như: Thu hút vốn đầu tư, hiệu quả sử dụng ngân sách, tiến độ các dự án đầu tư công, và quy hoạch đất đai. Đại diện lãnh đạo các sở, ngành đã giải đáp và cam kết khắc phục những tồn tại, tạo điều kiện phát triển đồng bộ hơn trong thời gian tới.Đại diện sở Kế hoạch - Đầu tư đọc Thông cáo báo chí tại hội nghịPhát biểu kết luận, đồng chí Phan Thế Huy ghi nhận đóng góp của các phóng viên, cơ quan báo chí trong việc phản ánh trung thực và xây dựng giải pháp cho tỉnh. Đồng chí bày tỏ mong muốn sự đồng hành của báo chí trong năm 2025 sẽ tiếp tục là động lực để Vĩnh Phúc ngày càng phát triển bền vững.Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp

Hội nghị triển khai Kế hoạch công tác năm 2025
  •   20/12/2024 22:39

Ngày 20/12/2024 , Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch công tác năm 2025. Đồng chí Nguyễn Hồng Phong - Cục trưởng, chủ trì hội nghị, tham dự hội nghị có Ban lãnh đạo Cục; toàn bộ Lãnh đạo, công chức, người lao động Văn phòng Cục; Chi cục Thống kê các huyện, thành phố.Toàn bộ cán bộ, công chức Cục Thống kê, chi cục Thống kê các huyện Năm 2024, ngành Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tổng cục Thống kê (TCTK), Tỉnh ủy, UBND tỉnh; sự ủng hộ, phối hợp của các Sở, ngành, địa phương, các tổ chức và người sử dụng thông tin thống kê. Toàn ngành đã phát huy tinh thần chủ động, đoàn kết, trách nhiệm, tiếp tục đổi mới, khắc phục khó khăn, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị, nâng cao hiệu quả hoạt động; do vậy, đã hoàn thành tất cả các nhiệm vụ đặt ra tại Hội nghị triển khai Kế hoạch công tác năm 2024. Tính từ 01/10/2023-30/9/2024, toàn ngành đã giao và triển khai thực hiện trên phần mềm quản lý công việc (Taskgov) tổng số 4.357 công việc theo kế hoạch công tác, trong đó: 4.149 công việc hoàn thành đúng hạn (chiếm 95,23%); 103 công việc hoàn thành trễ hạn (chiếm 2,36%); 98 công việc chưa hoàn thành (trễ hạn) (chiếm 2,25%); 07 công việc chưa hoàn thành (còn hạn) (chiếm 0,16%). Trong năm 2024, không có công việc tồn đọng từ năm 2023 chuyển sang; các công việc phát sinh công việc ngoài kế hoạch và công việc đột xuất đều được hoàn thành. Với kết quả đỏ, cơ quan Cục đã hoàn thành toàn diện Kế hoạch công tác của Tổng cục và địa phương giao. Theo kết quả chấm điểm thi đua của Tổng cục Thống kê, đơn vị đã hoàn thành 99,21% điểm Kế hoạch được giao, xếp thứ 6/8 của vùng và thi đua thứ 25/63 tỉnh, thành phố trong cả nước.  Đồng thời, CCTK cấp huyện đã toàn thành toàn diện kế hoạch công tác theo Quyết định số 70/QĐ-CTK ngày 02/10/2023 của Cục trưởng về việc giao kế hoạch công tác và điểm thi đua năm đạt tỷ lệ bình quân chung là 97,55%; 9/9 huyện, thành phố đều đạt trên 97% điểm kế hoạch.Cục trưởng Nguyễn Hồng Phong phát biểu tại Hội nghị Bên cạnh những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới đã được chỉ rõ cùng với các giải pháp khắc phục cụ thể vào năm 2025. Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị trong năm 2025, toàn ngành cần thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm đó là: Tổ chức triển khai, thực hiện tốt cuộc các cuộc điều tra thường xuyên theo đúng phương án điều tra, đảm bảo chất lượng thông tin được thu thập từ đơn vị điều tra; Nâng cao chất lượng biên soạn, phổ biến các báo cáo thống kê, niên giám thống kê, các ấn phẩm thống kê, đảm bảo thông tin thống kê theo Kế hoạch của Trung ương và địa phương; Thực hiện tốt công tác đánh giá, xếp loại công chức, bình xét thi đua, khen thưởng; Quản lý các nguồn kinh phí được cấp năm 2025 đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả và đúng quy định của pháp luật.   Nhiệm vụ công tác của năm 2025 rất lớn với nhiều công việc quan trọng. Để thực hiện thành công Kế hoạch công tác của ngành, Lãnh đạo Cục yêu cầu Lãnh đạo các Phòng, CCTK cấp huyện ngay sau Hội nghị này cần chủ động xây dựng Kế hoạch công tác cụ thể cho đơn vị mình để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm nêu trên. Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương thức, lề lối làm việc, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ. Đối với mỗi công chức và người lao động trong toàn ngành, cần nêu cao ý thức trách nhiệm, nỗ lực khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ chính trị, xây dựng ngành Thống kê Vĩnh Phúc ngày càng phát triển. Nhân dịp này, Lãnh đạo Cục đã trao thưởng cho các đơn vị,cá nhân trong ngành có nhiều thành tích trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2023 và năm 2024. Các cá nhân có thành tích xuất sắc trong năm 2024 Tin bài: Phòng Tổ chức - Hành chính

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2024
  •   02/12/2024 14:30

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản Tháng 11/2024, các địa phương trong tỉnh đã thu hoạch xong các cây trồng chính vụ mùa và triển khai gieo trồng cây vụ đông 2024-2025. Sản xuất chăn nuôi tập trung phòng dịch, chăm sóc đàn gia súc, gia cầm, chuẩn bị nguồn cung thực phẩm phục vụ thị trường cuối năm và dịp Tết Nguyên đán. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt: - Kết quả sản xuất vụ mùa: Sản xuất vụ mùa 2024 bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 3 (Yagi) và hoàn lưu của bão xảy ra vào đầu tháng Chín khiến nhiều diện tích lúa, rau màu bị ngập úng, thiệt hại cho sản xuất trồng trọt của tỉnh, làm giảm năng suất, sản lượng cây trồng. Năng suất thu hoạch ước đạt 53,31 tạ/ha, giảm 3,25 tạ/ha; sản lượng ước đạt 114.899,0 tấn, giảm 13,72% (-18.273,7 tấn). Năng suất và sản lượng các loại cây hoa màu khác: Cây ngô, năng suất thu hoạch ước đạt 44,33 tạ/ha (giảm 2,31%), sản lượng 5.507,8 tấn (giảm 23,68%); khoai lang: 94,31 tạ/ha (giảm 2,92%), sản lượng 1.698,8 tấn (giảm nhẹ); đậu tương: 18,50 tạ/ha (giảm nhẹ), sản lượng 227,8 tấn (tăng 12,83%); cây lạc: 21,22 tạ/ha (giảm 2,26%), sản lượng 1.077,9 tấn (giảm 0,58%); rau các loại: 201,72 tạ/ha (giảm 1,25%), sản lượng 44.051,1 tấn (giảm 11,73%). - Tiến độ gieo trồng vụ đông năm 2024-2025: Tính đến 15/11, toàn tỉnh đã gieo trồng được 13.607,4 ha, giảm 4,94% (706,9 ha) so với cùng kỳ. b. Chăn nuôi: Tháng 11/2024, sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định. Tính chung 11 tháng đầu năm, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 4,73% (trong đó thịt lợn hơi tăng 8,22%; gia cầm hơi giảm 1,07%); sản lượng trứng tăng 10,46%; sản lượng sữa tươi tăng 2,85% so cùng kỳ. 2.2. Sản xuất lâm nghiệp Tính đến đầu tháng 11/2024, toàn tỉnh đã trồng được 602 ha rừng tập trung, đạt 100,29%; 774,8 nghìn cây trồng phân tán đạt 102,76% so với kế hoạch đặt ra đầu năm. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng đạt 5.260 m³, tăng 9,13%; lũy kế 11 tháng đạt 46.278 m³, tăng 4,56%. Sản lượng củi khai thác trong tháng đạt 4.082 ste, tăng 0,72%; lũy kế 11 tháng đạt 44.616 ste, tăng 0,60%. 2.3. Sản xuất thủy sảnTrong tháng 11, sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh ổn định. Tính chung 11 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản đạt 22.032 tấn, giảm 2,45% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 20.270 tấn (giảm 2,77%); sản lượng khai thác đạt 1.762 tấn (tăng 1,44%); sản lượng con giống đạt 3.171 triệu con, tăng 1,80% so với cùng kỳ. 2. Sản xuất công nghiệp Tháng 11/2024, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tăng trưởng tích cực nhờ sức mua nội địa và đơn hàng xuất khẩu gia tăng. Chỉ số sản xuất (IIP) so với cùng kỳ trở lại mức tăng 2 con số, đạt 10,16%, sau khi đạt mức tăng thấp ở tháng 10/2024 (2,32%). Tính chung 11 tháng năm 2024, chỉ số IIP toàn ngành công nghiệp ước tăng 11,11% so với cùng kỳ. Chỉ số IIP tháng 11/2024 ước tính tăng 9,29% so với tháng trước và tăng 10,16% so với cùng kỳ. Tình hình một số ngành công nghiệp chủ lực trong tháng như sau:Ngành sản xuất linh kiện điện tử tiếp tục dẫn đầu trong các ngành công nghiệp chủ lực với IIP tăng 14,50% so với tháng trước và 17,92% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất ô tô tăng 0,52% so với tháng trước nhưng giảm 14,45% so với cùng kỳ. Ngành xe máy tăng 1,49% so với tháng trước và giảm nhẹ 0,68% so với cùng kỳ.Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 6,52% so với tháng trước và tăng 5,98% so với cùng kỳ; Ngành sản xuất kim loại tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 19,61% so với cùng kỳ. Sản lượng sản xuất một số sản phẩm: Ước tính 11 tháng năm 2024, sản lượng sản xuất của một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh như thức ăn gia súc, gia cầm, giày thể thao, gạch ốp lát, xe máy các loại, doanh thu linh kiện điện tử đều tăng so với cùng kỳ; ngược chiều, sản lượng xe ô tô các loại giảm.Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 11/2024, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 1,09% so với tháng trước và giảm 0,91% so với cùng kỳ.Chỉ số tiêu thụ: Tháng 11/2024, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 5,44% so với tháng trước và giảm 2,83% so với cùng kỳ. Chỉ số tồn kho: Tháng 11/2024, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho tăng 3,39% so với tháng trước và giảm 34,56% so với cùng kỳ.  3. Tình hình đăng ký doanh nghiệpLũy kế đến 15/11/2024, toàn tỉnh có 1.353 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 13.822 tỷ đồng và 10.166 lao động. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giảm nhẹ 0,81%, vốn đăng ký tăng 34,37% và số lao động tăng 15,55%.Trong 11 tháng năm 2024, có 330 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, có 1.037 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, trong đó 866 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (chiếm 83,51%). Số doanh nghiệp giải thể là 171 doanh nghiệp, tăng 25,74% so với năm trước chủ yếu tập trung vào nhóm nhỏ lẻ hoạt động không hiệu quả. Để duy trì đà tăng trưởng, tỉnh cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó khăn. 4. Đầu tư 4.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước Tháng 11/2024, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước đạt 872,1 tỷ đồng, tăng 0,23% so với tháng trước. Trong đó, vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 574,0 tỷ đồng; cấp huyện đạt 51,1 tỷ đồng; cấp xã đạt 247,0 tỷ đồng. Lũy kế 11 tháng, tổng vốn đầu tư từ nguồn Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 7.370,5 tỷ đồng, giảm 19,33% so với cùng kỳ và bằng 76,52% kế hoạch giao. 4.2. Tình hình thu hút đầu tư: Tính đến ngày 15/11/2024, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 74 dự án FDI (32 dự án cấp mới, 42 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 590,0 triệu USD, tăng 5,71% về số dự án và tăng 1,15% về vốn đăng ký so với cùng kỳ, vượt 47,50% kế hoạch giao đầu năm (400 triệu USD). Lũy kế 11 tháng năm 2024, toàn tỉnh đã thu hút được 27 dự án DDI (16 dự án cấp mới, 11 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 5.150,77 tỷ đồng, bằng 93,65% kế hoạch giao đầu năm (5.500 tỷ đồng). 5. Thương mại, dịch vụ Tháng 11/2024, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng, nhờ các chương trình xúc tiến, bình ổn giá và kích cầu tiêu dùng. Các sự kiện mua sắm như Single Day, Black Friday và nhiều hoạt động văn hóa, giải trí khác đã tạo không khí mua sắm sôi động, góp phần gia tăng doanh thu của hầu hết các nhóm ngành hàng hóa và dịch vụ so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. 5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 11/2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.428,8 tỷ đồng, tăng 2,23% so với tháng trước và tăng 16,27% so với tháng 11/2023. Đáng chú ý, doanh thu của cả bốn thành phần cấu thành của tổng mức là hoạt động bán lẻ, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ du lịch lữ hành và dịch vụ khác đều tăng với tốc độ tăng 2 con số so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2024, tổng mức ước đạt 73.276,2 tỷ đồng, tăng 10,77% so với cùng kỳ. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11/2024 ước đạt 6.104,3 tỷ đồng, chiếm 82,17% tổng mức, tăng 1,98% so với tháng trước và tăng 16,78% so với cùng kỳ. Doanh thu các nhóm ngành hàng tăng cao gồm: Lương thực, thực phẩm (+26,11%), đồ dùng gia đình (+25,68%), hàng may mặc (+25,39%), và đá quý, kim loại quý (+35,76%). Lũy kế 11 tháng, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 59.713,8 tỷ đồng, tăng 10,29% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 11/2024 ước đạt 623,3 tỷ đồng, tăng 5,57% so với tháng trước và tăng 13,13% so với cùng kỳ. Trong đó, dịch vụ lưu trú đạt 60,5 tỷ đồng, tăng 12,28%; dịch vụ ăn uống đạt 562,8 tỷ đồng, tăng 13,22%. Lũy kế 11 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 6.290,0 tỷ đồng, tăng 9,37% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành: Tháng 11/2024 đạt 24,5 tỷ đồng, giảm 27,0% so với tháng trước nhưng tăng 23,54% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng, doanh thu đạt 496,5 tỷ đồng, tăng 106,41% so với cùng kỳ, nhờ sự phục hồi du lịch và sức hút của các điểm đến như Tam Đảo, Tây Thiên. Doanh thu dịch vụ khác tháng 11/2024 ước đạt 676,7 tỷ đồng, tăng 2,97% so với tháng trước và tăng 14,46% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng, doanh thu dịch vụ khác đạt 6.775,9 tỷ đồng, tăng 12,67% so với cùng kỳ. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Tháng 11/2024, nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách tăng cao dịp cuối năm, tổng doanh thu ngành vận tải kho bãi ước đạt 753,3 tỷ đồng, tăng 1,67% so với tháng trước và tăng 16,09% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng đầu năm, doanh thu toàn ngành ước đạt 7.641,3 tỷ đồng, tăng 24,67% so với cùng kỳ năm 2023. Vận tải hành khách: Doanh thu vận tải hành khách tháng 11/2024 ước đạt 121,6 tỷ đồng, tăng 3,54% so với tháng trước và tăng 52,60% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng, doanh thu đạt 1.350,8 tỷ đồng, tăng 58,98%. Tổng số hành khách vận chuyển trong tháng ước đạt 34.847 nghìn người, luân chuyển đạt 1.849,7 triệu HK.km, lần lượt tăng 52,82% và 78,88% so với cùng kỳ. Việc mở rộng mạng lưới xe khách, xe buýt và các tuyến vận tải đường bộ đã đáp ứng tốt nhu cầu di chuyển đa dạng của người dân, đặc biệt trong mùa cao điểm cuối năm. Vận tải hàng hóa: Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 11/2024 ước đạt 539,3 tỷ đồng, tăng 1,16% so với tháng trước và tăng 4,99% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải đường bộ đạt 385,0 tỷ đồng (+5,86%), và đường thủy đạt 154,3 tỷ đồng (+2,87%). Lũy kế 11 tháng, doanh thu đạt 5.463,8 tỷ đồng, tăng 14,41%. Tổng khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 38,8 triệu tấn, tăng 95,85%, tổng luân chuyển đạt 4.654,9 triệu tấn.km, tăng 31,28%. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: Tháng 11/2024, doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ và bưu chính chuyển phát ước đạt 92,4 tỷ đồng, tăng 2,27% so với tháng trước và tăng 66,44% so với cùng kỳ. 6. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 6.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 15/11/2024, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 23.133 tỷ đồng, tăng 2,44% so với cùng kỳ, bằng 72,83% dự toán giao đầu năm.  Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/11/2024 đạt 20.099 tỷ đồng, giảm 7,88% so với cùng kỳ nhưng vẫn đảm bảo tiến độ chi theo kế hoạch, đạt 96,92% dự toán năm.  6.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng Tổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 30/11/2024 đạt 135 nghìn tỷ đồng, tăng 6,96% so với cuối năm 2023.  Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 30/11/2024 đạt 140 nghìn tỷ đồng, tăng 9,24% so với cuối năm 2023. Tỷ lệ nợ xấu: Ước tính tại thời điểm 30/11/2024 chiếm tỷ lệ 1,05% tổng dư nợ, tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn <2%. 6.3. Bảo hiểm Ước tính đến 30/11/2024, toàn tỉnh có 1.172.679 người tham gia bảo hiểm lao động (bao gồm: BHXH bắt buộc: 236.632 người; BHXH tự nguyện: 24.720 người); tham gia BH thất nghiệp có 228.503 người; tham gia BHYT có 1.153.341 người; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95.86% dân số.  7. Chỉ số giá tiêu dùng Giá lương thực, thực phẩm giảm do nguồn cung dồi dào và nhu cầu điện sinh hoạt giảm là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2024 giảm 0,68% so với tháng trước, sau 6 tháng tăng liên tiếp. Tuy nhiên, so với cùng tháng năm trước, CPI vẫn tăng 2,89%. Bình quân mười một tháng năm 2024, CPI tăng 2,77% so với bình quân cùng kỳ. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Công tác giải quyết việc làm duy trì ổn định và đạt được kết quả tích cực. Tính đến ngày 15/11/2024, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 20.399 lao động, tăng 9,33% so cùng kỳ, vượt 19,99% kế hoạch năm 2024. Trong đó: giải quyết 4.253 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 9.098 việc làm trong khu vực công nghiệp - xây dựng; 6.205 việc làm khu vực dịch vụ; 843 người đi xuất khẩu lao động. Tính từ 15/10/2024 đến 14/11/2024, số lao động thôi việc, mất việc là 1.737 lao động, giảm 517 người với tháng trước, số lao động nghỉ giãn việc là 53 người, tăng 09 người so với tháng 10/2024.  2. Giáo dục, đào tạo Tháng 11/2024, ngành Giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc triển khai nhiều hoạt động thiết thực, nâng cao chất lượng giáo dục và tôn vinh đội ngũ nhà giáo. Nhân dịp kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, từ ngày 15 đến 20/11, các trường học trên địa bàn tỉnh đã tổ chức loạt sự kiện tri ân, tạo không khí sôi nổi và ý nghĩa; Lãnh đạo tỉnh đã trực tiếp thăm hỏi, chúc mừng một số cơ sở giáo dục, thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến ngành. Trong tháng, Tỉnh đã tổ chức lễ tuyên dương 15 giáo viên, học sinh và sinh viên dân tộc thiểu số tiêu biểu, ghi nhận nỗ lực và thành tích xuất sắc của các cá nhân. 3. Y tế Ngành Y tế trong tỉnh tiếp tục chủ động, kịp thời triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; giám sát chặt chẽ các trường hợp mắc, nghi ngờ mắc các bệnh truyền nhiễm, không để dịch lớn xảy ra trên địa bàn. Trong tháng, các ca bệnh truyền nhiễm ghi nhận gồm: tay chân miệng 18 ca (cộng dồn từ đầu năm là 240 ca); Covid-19 không phát sinh ca mắc mới (cộng dồn 543 ca); sốt xuất huyết 46 ca (cộng dồn 179 ca); thủy đậu 5 ca (cộng dồn 157 ca); cúm 345 ca (cộng dồn 3.929 ca); ho gà 1 ca (cộng dồn 26 ca). Tất cả các ca bệnh truyền nhiễm trong tháng không ghi nhận trường hợp tử vong. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được duy trì triển khai đồng bộ thông qua các hoạt động như tuyên truyền, phổ biến kiến thức và giám sát. Trong kỳ, đã có 228 lượt cơ sở được kiểm tra; trong đó: Số cơ sở đạt là 203 cơ sở (chiếm tỷ lệ 89,03%); số cơ sở không đạt là 25 cơ sở (chiếm tỷ lệ 10,97%). Không phát hiện trường hợp ngộ độc thực phẩm trong tháng. 4. Văn hóa, thể thao Trong tháng 11/2024, tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức thành công chương trình khai mạc “Liên hoan Ca Múa Nhạc toàn quốc - 2024” đợt 1 tại Nhà hát tỉnh vào ngày 21/11/2024. Liên hoan diễn ra từ ngày 21/11 đến 30/11/2024, với sự tham gia của gần 1.000 nghệ sĩ đến từ 13 đơn vị trên cả nước. Các chương trình nghệ thuật đã thu hút sự tham gia, cổ vũ của đông đảo người dân thuộc mọi lứa tuổi trong và ngoài tỉnh. Hoạt động thể thao: Trong tháng 11/2024, có 07 đoàn vận động viên tham gia thi đấu tại 08 giải thể thao quốc gia, đạt tổng cộng 22 huy chương, gồm 08 Huy chương Vàng; 05 Huy chương Bạc; 09 Huy chương Đồng. 5. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy nổ và bảo vệ môi trường. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Trong tháng 11/2024, toàn tỉnh xảy ra 72 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (tăng 19 vụ so với tháng trước), làm 02 người chết và 24 người bị thương, thiệt hại tài sản 10.407 triệu đồng. Đã điều tra làm rõ 59/72 vụ (đạt 81,94%), bắt giữ 106 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 2.566,76 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/11/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 285 vụ tai nạn giao thông (282 vụ tai nạn đường bộ, 03 vụ tai nạn đường sắt) làm 127 người chết, 219 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ, giảm 04 người chết, tăng 06 người bị thương. Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/11/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 118 vụ cháy, nổ (trong đó, 118 vụ cháy và 01 vụ nổ), làm chết 03 người và 10 người bị thương với số tiền thiệt hại là trên 2.718 triệu đồng. Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/11/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 784 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 740 vụ với số tiền xử phạt là 7.210,5 triệu đồng./. Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp