Hội nghị tập huấn phiếu bảng kê hộ và trang trại trong tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025; Điều tra doanh nghiệp năm 2025 và tập huấn điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2025
- 27/03/2025 08:32
Trong hai ngày 25 – 26/3/2025, tại Vĩnh Phúc, Chi cục Thống kê tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ phiếu bảng kê hộ và bảng kê trang trại trong Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp năm 2025; Điều tra Doanh nghiệp năm 2025 và Điều tra Biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình ngày 01/4/2025. Đồng chí Nguyễn Minh Vinh – Phó Chi cục trưởng Chi cục Thống kê Vĩnh Phúc chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị có lãnh đạo các phòng chuyên môn, giảng viên hướng dẫn và công chức thống kê các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. Phát biểu khai mạc, lãnh đạo Chi cục nhấn mạnh: Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp năm 2025 là một trong ba cuộc Tổng điều tra thống kê quốc gia, được thực hiện định kỳ 10 năm một lần. Cuộc điều tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thu thập thông tin đầy đủ, toàn diện về thực trạng nông thôn, nông nghiệp, nông dân; phục vụ cho việc hoạch định chính sách phát triển bền vững ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và cải thiện đời sống người dân.Phó Chi cục trưởng Nguyễn Minh Vinh chủ trì Hội nghị Tại hội nghị, các đại biểu đã được giới thiệu phương án Tổng điều tra, hướng dẫn chi tiết về quy trình phân chia địa bàn điều tra, lập bảng kê hộ và bảng kê trang trại – đây là bước khởi đầu có vai trò then chốt, quyết định chất lượng toàn bộ quá trình thu thập thông tin sau này. Việc lập bảng kê chính xác sẽ đảm bảo đối tượng điều tra được xác định đúng, tránh bỏ sót hoặc trùng lặp, từ đó góp phần đảm bảo tính đại diện, độ tin cậy và hiệu quả của điều tra. Ngoài ra, hội nghị cũng tập huấn giới thiệu nội dung các phiếu điều tra, về cách sử dụng hệ thống quản lý các cuộc điều tra, phần mềm CAPI, quy trình kiểm tra – giải trình số liệu trong điều tra doanh nghiệp, kế hoạch triển khai Điều tra Biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình năm 2025.Đồng chí Phạm Văn Mùi giới thiệu nội dung các phiếu điều tra Hội nghị kết thúc sau hai ngày làm việc tích cực. Các đại biểu đã nghiêm túc tiếp thu kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành, sẵn sàng triển khai các cuộc điều tra sắp tới đúng tiến độ, đúng quy trình và đạt chất lượng cao./. Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp
Đoàn Thanh niên Chi cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức hoạt động hưởng ứng Tháng Thanh niên
- 18/03/2025 10:32
Hưởng ứng Tháng Thanh niên năm 2025, ngày 17/03, Đoàn Thanh niên Chi cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức hoạt động vệ sinh môi trường tại khuôn viên và khu vực xung quanh trụ sở cơ quan. Đây là hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm góp phần xây dựng cảnh quan xanh - sạch - đẹp, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đoàn viên thanh niên. Hoạt động vì môi trường xanh - sạch - đẹp là một trong những nội dung trọng tâm nằm trong chuỗi sự kiện hướng tới kỷ niệm 94 năm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Ngay từ khi phát động, chương trình đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ đoàn viên thanh niên trong cơ quan. Bên cạnh việc làm sạch khuôn viên, hoạt động còn tạo cơ hội để đoàn viên giao lưu, gắn kết và phát huy tinh thần trách nhiệm với cộng đồng. Với tinh thần xung kích, các đoàn viên đã tiến hành quét dọn, thu gom rác thải và phát quang cây cỏ, đảm bảo môi trường sạch đẹp, gọn gàng. Những việc làm cụ thể, dù nhỏ nhưng mang lại giá trị lớn, không chỉ giúp cải thiện không gian làm việc mà còn góp phần lan tỏa thông điệp về trách nhiệm bảo vệ môi trường. Hoạt động này không chỉ thể hiện vai trò tiên phong của đoàn viên thanh niên trong công tác bảo vệ môi trường mà còn góp phần xây dựng hình ảnh cơ quan văn minh, chuyên nghiệp. Trong thời gian tới, Đoàn Thanh niên Chi cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc sẽ tiếp tục duy trì và mở rộng các hoạt động thiết thực khác nhằm phát huy tinh thần tình nguyện vì cộng đồng.Một số hình ảnh của buổi dọn dẹp Tác giả: Phùng Thị Kiều Loan
Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 02 năm 2025
- 28/02/2025 14:03
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định. Bà con nông dân các địa phương cơ bản thu hoạch xong các loại cây trồng vụ đông và tập trung làm đất, gieo trồng cây vụ xuân đảm bảo khung thời vụ; công tác kiểm tra, giám sát tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được thực hiện hiệu quả; công tác trồng rừng và trồng cây lâm nghiệp phân tán trên địa bàn đạt kết quả tốt. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Tháng 02/2025, trên địa bàn xuất hiện không khí lạnh tăng cường và dự báo thời tiết có những diễn biến bất thường. Để đảm bảo sản xuất vụ xuân đạt kết quả tốt, các ngành chức năng đã tăng cường truyền thông, hướng dẫn bà con nông dân chủ động các biện pháp phòng chống rét cho mạ, lúa mới cấy; gieo mạ Xuân muộn đảm bảo tốt khung thời vụ và dự phòng nguồn giống gieo bổ sung khi có thiệt hại xảy ra. Tính đến 20/02/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng được 32.534,7 ha cây vụ xuân, đạt 87,46% kế hoạch và giảm 3,76% so với cùng kỳ năm 2024. b. Chăn nuôi Số lượng đầu con và sản lượng chăn nuôi trên địa bàn giảm đáng kể sau đợt thu hoạch phục vụ nhu cầu tiêu dùng dịp Tết. Số lượng đàn gia súc, gia cầm ước tính đến hết tháng 02/2025: Đàn trâu có 13 nghìn con, giảm 18,81% so cùng thời điểm năm trước; đàn bò 78,8 nghìn con, giảm 12,98%, đàn bò sữa 18,1 nghìn con, tăng 200 con so với cùng kỳ; đàn lợn 445,5 nghìn con, tăng 3,48%; đàn gia cầm 11,7 nghìn con, tăng 3,36%. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng đạt 12.349,5 tấn, giảm 9,82% so cùng kỳ (trong đó thịt lợn giảm 9,91%; thịt gia cầm giảm 10,0%); trứng gia cầm đạt 76,5 triệu quả, tăng 4,65%. Lũy kế 02 tháng đầu năm, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 2,00%; trứng tăng 4,08% so cùng kỳ. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Tháng 2/2025, ước tính toàn tỉnh trồng được 80,8 ha rừng trồng mới tập trung, tăng 5,48% và 106,5 nghìn cây lâm nghiệp phân tán, tăng 15,14% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác đạt 2.712,0 m3, tăng 4,47%; tính chung 02 tháng đầu năm đạt 6.241,8 m3, tăng 4,31% so với cùng kỳ. 1.3. Sản xuất thuỷ sản Tháng 2/2025, sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định và phát triển; công tác phòng, chống dịch bệnh, chống rét cho đàn cá được các cơ sở nuôi trồng chủ động thực hiện. Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng toàn tỉnh ước đạt 1.880,2 tấn, tăng 4,07% (+73,6 tấn); lũy kế 02 tháng đầu năm, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 3.824,7 tấn, tăng 2,18% so với cùng kỳ. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn đã ổn định trở lại ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Ất Tỵ. Nhiều doanh nghiệp đã tuyển dụng thêm lao động, tăng ca, đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành các đơn hàng còn tồn đọng. Kết quả sản xuất ghi nhận mức tăng trưởng so với tháng trước và so với cùng kỳ. Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 02/2025 của tỉnh tăng 1,46% so với tháng trước và tăng 33,34% so với cùng kỳ (tháng 02/2024 IIP giảm 5,01%). Ước tính 2 tháng đầu năm 2025, IIP toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tăng 12,19% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất các ngành công nghiệp chủ lực: So với cùng kỳ năm trước, nhiều ngành ghi nhận mức tăng cao: sản xuất kim loại (+98,61%), sản xuất ô tô (+104,50%), sản xuất xe máy (+58,22%) nhờ nhu cầu tiêu thụ gia tăng và doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất; sản xuất linh kiện điện tử (+20,39%) phục hồi tích cực khi các doanh nghiệp mở rộng quy mô để đáp ứng đơn hàng; ngành sản xuất trang phục (+19,90%) hưởng lợi từ sự phục hồi của thị trường xuất khẩu; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (+32,41%). Sản phẩm sản xuất: Tháng 02/2025, các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đều ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ năm trước; trong đó, tăng mạnh nhất là sản phẩm xe ô tô các loại với mức tăng 116,26% (tháng 02/2024 sản phẩm xe ô tô các loại giảm 36,04% so với tháng 02/2023). Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 02/2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tiêu thụ ước giảm 2,39% so với tháng trước và tăng 49,30% so với cùng kỳ. So với tháng trước, một số ngành có mức tăng khá: Ngành sản xuất kim loại tăng 32,24%; ngành sản xuất xe có động cơ tăng 23,33%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 23,83%. Ngược lại, ngành có mức giảm mạnh là ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu và ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic với mức giảm lần lượt là 22,48% và 40,50%. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 02/2025, chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,82% so với tháng trước và giảm 18,74% so với cùng kỳ. So với tháng trước, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao: Ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 50,42%; ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 31,77%; ngành 30 sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 31,43%. Ngược lại, các ngành có chỉ số tồn kho giảm đáng kể: ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 57,56%; ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 22,62%; ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 38,39%. 3. Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp 3.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về đẩy mạnh giải ngân đầu tư công theo Công điện số 16/CĐ-TTg ngày 18/2/2025, cùng sự chỉ đạo quyết liệt, sự phối hợp chặt chẽ các cấp, các ngành, tiến độ thực hiện vốn đầu tư ngân sách nhà nước trong tháng 02/2025 đạt kết quả tích cực. Tổng vốn đầu tư thực hiện tháng 02/2025 ước đạt 524,98 tỷ đồng, tăng 12,80% so với tháng trước; tăng 42,01% so với cùng kỳ năm trước và bằng 7,31% kế hoạch năm. Lũy kế hai tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 990,40 tỷ đồng, bằng 13,79% kế hoạch năm, tăng 19,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đầu tư ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 295,9 tỷ đồng, tăng 1,91% so với cùng kỳ, bằng 7,05% kế hoạch năm; vốn đầu tư ngân sách cấp huyện đạt 349,9 tỷ đồng, bằng 22,43% kế hoạch năm; vốn đầu tư ngân sách cấp xã đạt 344,6 tỷ đồng, bằng 24,23% kế hoạch năm. 3.2. Thu hút đầu tư trực tiếp Theo số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, đến ngày 15/02/2025, toàn tỉnh đã thu hút được 03 dự án DDI (01 dự án cấp mới, 02 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 210,51 tỷ đồng, bằng 13,76% so với cùng kỳ và đạt 5,59% kế hoạch năm (3.000 tỷ đồng). Khu vực FDI, tỉnh đã cấp giấy phép cho 11 dự án (03 dự án mới, 08 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 53,97 triệu USD, bằng 43,54% so với cùng kỳ và đạt 8,99% kế hoạch năm (600 triệu USD). 3.3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Tình hình đăng ký kinh doanh trong 2 tháng đầu năm có xu hướng tích cực với số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng khá. Tính đến ngày 20/02/2025, toàn tỉnh có 191 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.068 tỷ đồng, tăng 11,05% về số doanh nghiệp, giảm 37,08% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Ước tính tạo thêm việc làm cho 1.236 lao động. Doanh nghiệp thành lập mới tập trung chủ yếu ở các ngành, lĩnh vực: ngành Bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác (65 doanh nghiệp với vốn đăng ký đạt 305 tỷ đồng); ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo (39 doanh nghiệp với vốn đăng ký 301 tỷ đồng); ngành Xây dựng (18 doanh nghiệp với vốn đăng ký 229 tỷ đồng) … Lũy kế 2 tháng đầu năm, số lượng doanh nghiệp tham gia quay trở lại thị trường là 172 doanh nghiệp, tăng 18,62% so với cùng kỳ, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 2 tháng đầu năm lên 363 doanh nghiệp. Tuy nhiên, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giải thể vẫn có chiều hướng gia tăng với 709 doanh nghiệp, tăng 28,21% so với cùng kỳ; để duy trì đà tăng trưởng, tỉnh cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó khăn. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 02/2025, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn có phần chững lại sau dịp Tết Nguyên đán, nhưng vẫn ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Nguồn cung và giá cả các mặt hàng, dịch vụ trên địa bàn duy trì ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 02/2025 ước đạt 6.768,4 tỷ đồng, giảm 9,15% so với tháng trước và tăng 17,0% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm, tổng mức ước đạt 14.218,5 tỷ đồng, tăng 13,14% so với cùng kỳ. Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 02/2025 ước đạt 5.373,8 tỷ đồng, giảm 10,54% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng các măt hàng thiết yếu sau Tết Nguyên đán suy giảm, giảm sâu ở ngành bán lẻ lương thực, thực phẩm và hàng may mặc với mức giảm lần lượt là -16,83% và -15,71%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, doanh thu bán lẻ hàng hóa vẫn tăng 15,78%.Tính chung 02 tháng đầu năm, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 11.380,5 tỷ đồng, tăng 12,64% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 02/2025 ước đạt 576,0 tỷ đồng, giảm 1,88% so với tháng trước nhưng tăng 22,10% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu lưu trú đạt 60,78 tỷ đồng, tăng 2,63% so với tháng trước do lượng khách du xuân, tham gia lễ hội gia tăng; trong khi dịch vụ ăn uống giảm 2,39%, ước đạt 515,2 tỷ đồng do nhu cầu tổ chức lễ tiệc giảm sau Tết. Lũy kế 02 tháng, doanh thu lưu trú và ăn uống đạt 1.163,0 tỷ đồng, tăng 15,97% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành tháng 02/2025 cũng có tín hiệu tích cực, doanh thu đạt 13,8 tỷ đồng, tăng 2,31% so với tháng trước và tăng 14,11% so với cùng kỳ nhờ nhu cầu du lịch đầu năm gia tăng. Lũy kế 02 tháng đầu năm, doanh thu du lịch lữ hành đạt 27,36 tỷ đồng, tăng 6,92% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác đạt 804,8 tỷ đồng, giảm 4,52% so với tháng trước, tăng 22,01% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ khác đạt 1.647,7 tỷ đồng, tăng 14,76% so với cùng kỳ. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Hoạt động vận tải duy trì ổn định với doanh thu toàn ngành đạt 705,4 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,36% so với tháng trước nhưng tăng 14,55% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm, doanh thu ngành vận tải ước đạt 1.413,3 tỷ đồng, tăng 9,32% so với cùng kỳ. Hoạt động của từng loại hình vận tải trong tháng 02/2025 như sau: Vận tải hành khách: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 175,5 tỷ đồng, tăng mạnh 29,24% so với tháng trước và tăng 17,35% so với cùng kỳ do nhu cầu đi lễ hội, du xuân tăng cao, đồng thời việc mở rộng mạng lưới xe buýt, xe khách và số lượng taxi chất lượng cao trên địa bàn đã đáp ứng tốt nhu cầu di chuyển đa dạng của người dân. Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 444,6 tỷ đồng, giảm 8,47% so với tháng trước do nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiêu dùng giảm sau Tết, nhưng vẫn tăng 8,38% so với cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt hơn 3,6 triệu tấn, luân chuyển đạt 378,57 triệu tấn.km. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: Doanh thu ước đạt 85,3 tỷ đồng, giảm 1,28% so với tháng trước nhưng tăng mạnh 52,28% so với cùng kỳ, tiếp tục xu hướng tăng trưởng nhờ sự phát triển của cảng cạn ICD Vĩnh Phúc. 5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 5.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước Hai tháng đầu năm, các nguồn thu chính từ khu vực doanh nghiệp FDI, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước và thu hải quan đều ghi nhận kết quả khả quan. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến ngày 20/02/2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 7.475,7 tỷ đồng, tăng 13,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa đạt 6.850,1 tỷ đồng, tăng 13,78%, chủ yếu nhờ vào mức tăng trưởng mạnh của thu từ khu vực doanh nghiệp FDI (5.189,5 tỷ đồng, tăng 15,09%), doanh nghiệp ngoài Nhà nước (619,9 tỷ đồng, tăng 45,40%). Hoạt động xuất, nhập khẩu gia tăng, đóng góp vào nguồn thu hải quan của tỉnh với 625,1 tỷ đồng, tăng 14,16% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 20/02/2025 đạt 3.113,6 tỷ đồng, tăng 11,62% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển (gồm cả tạm ứng) đạt 1.061,3 tỷ đồng, tăng 0,12%; chi thường xuyên đạt 2.040,3 tỷ đồng, tăng 18,87% so với cùng kỳ năm trước. 5.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng Ngân hàng nhà nước (NHNN) tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế. Mặt bằng lãi suất trên địa bàn tiếp tục duy trì ổn định so với tháng trước, lãi suất huy động bằng VNĐ phổ biến từ 0,5-6,0%/năm đối với từng kỳ hạn; lãi suất cho vay trên địa bàn phổ biến từ 3,5-10,5%/năm đối với từng kỳ hạn và đối tượng. Tổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 28/02/2025 đạt 136.000 tỷ đồng, giảm 2,95% so với cuối năm 2024. Chủ yếu huy động từ nguồn tiền gửi dân cư, ước đạt 95,5 nghìn tỷ đồng, tăng 3,97%, bù đắp cho sự thiếu hụt từ tiền gửi của các tổ chức kinh tế (ước đạt 40,5 nghìn tỷ đồng, giảm 16,19%) do doanh nghiệp không có nguồn tiền nhàn rỗi, tập trung cho hoạt động sản xuất kinh doanh, một số doanh nghiệp nước ngoài chuyển lợi nhuận về nước. Tổng dư nợ cho vay dự kiến tại thời điểm 28/02/2025 đạt 146.000 tỷ đồng, tăng 1,61% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, ước đạt 108.000 tỷ đồng, tăng 1,23% so với cuối năm 2024, chiếm 73,97% tổng dư nợ. Cơ cấu dư nợ tập trung vào các hoạt động sản xuất, dịch vụ và đầu tư phát triển, trong đó dư nợ khu vực hộ gia đình, tư nhân, cá thể chiếm 60,66% tổng dư nợ và dư nợ khu vực doanh nghiệp chiếm 39,04% tổng dư nợ. Nợ xấu toàn địa bàn ước tại thời điểm 28/02/2025 là 1.350 tỷ đồng; chiếm tỷ lệ 0,9% trên tổng dư nợ. 6. Chỉ số giá Trong tháng, lượng hàng hoá dồi dào, phong phú, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chủ động về nguồn hàng, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh trước, trong và sau Tết không có biến động lớn về giá cả. CPI tiêu dùng (CPI) tháng 02/2025 giảm 0,02% so với tháng trước, tăng 1,09% so với cùng kỳ. Bình quân hai tháng đầu năm 2025, CPI tăng 1,09%. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm hàng tăng giá, 02 nhóm hàng giảm giá và 01 nhóm hàng không có biến động. Cụ thể: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,45% so với tháng trước; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,58%; nhóm giao thông tăng 0,35%, chủ yếu do giá xăng dầu tăng nhẹ; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,41% do giá hoa, cây cảnh tăng 30,07%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,08% do giá đồ trang sức tăng 4,65%. Ở chiều ngược lại, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 4,04%; nhóm rau xanh và thực phẩm chế biến giảm 10,98% do nguồn cung dồi dào, giá nhập vào giảm. So với cùng kỳ năm trước, CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2025 tăng 1,09%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 07 nhóm tăng giá, 04 nhóm giảm giá. Cụ thể: nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,27%, tác động làm CPI chung tăng 0,80 điểm phần trăm do tỉnh áp dụng mức giá dịch vụ khám chữa bệnh mới theo Nghị quyết số 20/2024/NQ-HĐND; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,52%, tác động làm CPI chung tăng 0,81 điểm phần trăm, trong đó giá thịt lợn tăng 14,41%, thịt gia cầm tăng 3,65% do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán và rằm tháng Giêng tăng cao; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,71%, tác động làm CPI chung tăng 0,26 điểm phần trăm do giá điện sinh hoạt tăng 5,16% theo quyết định điều chỉnh giá của Bộ Công Thương; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 4,22%, tác động làm CPI chung tăng 0,38 điểm phần trăm. Ở chiều ngược lại, nhóm giáo dục giảm 25,19%, tác động làm CPI chung giảm 1,63 điểm phần trăm do tỉnh thực hiện chính sách hỗ trợ học phí theo Nghị quyết số 11/2024/NQ-HĐND; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 4,40%, tác động làm CPI chung giảm 0,31 điểm phần trăm do các cửa hàng thực hiện chương trình khuyến mại kích cầu tiêu dùng. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 02/2025, chỉ số giá vàng tăng 4,08% so với tháng trước, tăng 33,18% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,63% so với tháng trước; tăng 4,13% so với cùng kỳ năm trước. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, giải quyết việc làm, an sinh xã hội Lao động việc làm: Tính từ ngày 15/01/2024 đến 14/02/2025, số lao động thôi việc, mất việc là 450 người, giảm 717 người so với tháng trước, tăng 30 người so với cùng kỳ. Trong kỳ, không có lao động nghỉ giãn việc (tháng 02/2024 có 637 lao động nghỉ giãn việc) cho thấy sự ổn định hơn của thị trường lao động trong giai đoạn đầu năm. Chỉ số sử dụng lao động trong lĩnh vực công nghiệp tháng 02/2025 tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 1,95% so với cùng kỳ. Giải quyết việc làm: Công tác hỗ trợ lao động tiếp tục được triển khai thông qua các chương trình tư vấn việc làm, đào tạo nâng cao tay nghề và kết nối cung - cầu lao động. Tính đến ngày 15/02/2025, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 2.643 lao động, giảm 34,06% so cùng kỳ. Trong đó: giải quyết 421 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 1.043 việc làm trong khu vực công nghiệp - xây dựng; 1.129 việc làm khu vực dịch vụ; 50 người đi xuất khẩu lao động. An sinh xã hội: Trong dịp Tết Nguyên đán, lãnh đạo tỉnh cùng các tổ chức đoàn thể đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công với cách mạng, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội. Công tác thăm hỏi tặng quà được các cấp, các ngành tổ chức chu đáo, trang trọng, kịp thời, đúng đối tượng và đúng định mức. Theo báo cáo từ các Sở, ngành, các đoàn thăm hỏi đã trao tặng 121,3 nghìn suất quà với số tiền trên 64,3 tỷ đồng. 2. Hoạt động văn hóa, thể thao Trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc sắc, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người dân. Đêm giao thừa (28/01/2025), chương trình nghệ thuật đặc biệt kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2025) và chào đón Tết Nguyên đán được tổ chức tại Quảng trường Hồ Chí Minh với chủ đề “Chào Xuân mới Ất Tỵ 2025 - Tiến vào kỷ nguyên mới”. Trên địa bàn tỉnh đã tổ chức hai điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại thành phố Vĩnh Yên và Phúc Yên. Ngày 02 và 03/02/2025 (tức mùng 5 và 6 tháng Giêng âm lịch), các chương trình nghệ thuật chào năm mới diễn ra tại nhiều địa phương, phục vụ nhân dân và du khách. Đồng thời, tại 9 huyện/thành phố, nhiều hoạt động văn hóa, giao lưu, gặp mặt, liên hoan văn nghệ quần chúng được tổ chức sôi nổi, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong dịp đầu xuân. Bên cạnh các hoạt động văn hóa, phong trào thể thao trong tỉnh cũng diễn ra sôi nổi. Ngày 21/02/2025, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức khai mạc giải thể thao “Mừng Đảng - Mừng Xuân” Ất Tỵ 2025 nhằm chào mừng 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 79 năm Ngày Thể thao Việt Nam và 94 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Giải đấu diễn ra từ ngày 21-22/02/2025, thu hút hơn 300 vận động viên từ 25 đoàn thể thao thuộc các sở, ngành, cơ quan, đơn vị và 9 huyện, thành phố tham gia tranh tài ở các nội dung: cờ tướng, kéo co và Pickleball. Kết thúc giải, Ban Tổ chức trao các giải Nhất, Nhì, Ba cho từng bộ môn, trong đó bộ môn Pickleball có 08 giải Nhất, 08 giải Nhì và 16 giải Ba. 3. Y tế Tình hình dịch bệnh: Trong tháng 2/2025, các ngành chức năng của tỉnh tiếp tục duy trì hoạt động phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo công tác trực phòng chống dịch, giám sát chặt chẽ các bệnh truyền nhiễm, sẵn sàng ứng phó với các tình huống y tế khẩn cấp. Đặc biệt, công tác phòng, chống dịch bệnh mùa đông - xuân được chú trọng nhằm ngăn chặn nguy cơ bùng phát dịch lớn. Từ ngày 01/01 đến 31/01/2025, tỉnh ghi nhận 07 ca tay chân miệng, 80 ca thủy đậu, 360 ca cúm, 03 ca sởi, 01 ca nhiễm vi rút Adeno và 01 ca ho gà. Các ca bệnh truyền nhiễm chưa ghi nhận trường hợp tử vong. Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác truyền thông, giáo dục về an toàn thực phẩm được đẩy mạnh trên toàn tỉnh, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán và mùa lễ hội xuân 2025 theo chỉ đạo của Trung ương và tỉnh. Ngành Y tế chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm thông qua thanh tra, kiểm tra, tập huấn và giám sát ô nhiễm. Từ ngày 01/01 đến 31/01/2025, các đoàn kiểm tra liên ngành đã kiểm tra 666 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống. Trong đó, 643 cơ sở đạt yêu cầu (chiếm 96,54%), 23 cơ sở vi phạm (chiếm 3,46%). Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận trường hợp ngộ độc thực phẩm. 4. Giáo dục và đào tạo Tháng 2/2025, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc triển khai nhiều hoạt động quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh. Sở Giáo dục và Đào tạo đã ban hành hướng dẫn xét công nhận tốt nghiệp THCS năm học 2024-2025. Việc xét công nhận diễn ra hai lần: lần thứ nhất ngay sau khi kết thúc năm học dành cho học sinh học hết lớp 9, lần thứ hai trước khai giảng năm học mới dành cho học sinh cần rèn luyện hoặc đánh giá lại trong kỳ nghỉ hè. Điều kiện xét công nhận gồm độ tuổi không quá 21, hoàn thành chương trình THCS và có đầy đủ hồ sơ theo quy định. Công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh được đẩy mạnh thông qua các hoạt động tư vấn, trải nghiệm nghề nghiệp và phối hợp với các trường đại học, cao đẳng. 100% trường THCS, THPT trên địa bàn tỉnh thành lập Ban hướng nghiệp, giúp học sinh lựa chọn ngành học phù hợp với năng lực và nhu cầu thị trường lao động. Trước thực tế tỷ lệ phân luồng học sinh sau THCS của tỉnh đạt trên 30% (cao hơn mức bình quân cả nước 17,8%), Sở GD&ĐT đã đề xuất tăng số lượng tuyển sinh vào lớp 10 công lập. Theo đề xuất, dự kiến mỗi lớp 10 tăng thêm 5 học sinh, nâng sĩ số từ 40 lên 45 học sinh/lớp, giúp thêm 1.500-1.700 học sinh được vào trường công lập, nâng tỷ lệ tuyển sinh lên 73%. 5. Tình hình an ninh, trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Tháng 02/2025, toàn tỉnh xảy ra 42 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (giảm 32 vụ so với tháng trước) làm 01 người chết và 10 người bị thương, thiệt hại tài sản 4.972,15 triệu đồng, đã điều tra làm rõ 36/42 vụ (đạt 85,71%), bắt giữ 65 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 1.058,89 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/2/2025, toàn tỉnh xảy ra 55 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 28 người chết và 48 người bị thương (so với cùng kỳ tăng 28 vụ, tăng 28 người chết, tăng 19 người bị thương). Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/2/2025, toàn tỉnh xảy ra 20 vụ cháy, không có thiệt hại về người. Số tiền thiệt hại khoảng 20,6 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ cháy giảm 02 vụ, giá trị thiệt hại giảm 73,10 triệu đồng. Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến 15/2/2025, toàn tỉnh phát hiện 84 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 87 vụ với số tiền xử phạt là 617,46 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 11 vụ, số vụ xử phạt tăng 14 vụ, số tiền xử phạt tăng 179,93 triệu đồng./.
Điều tra Doanh nghiệp năm 2025
- 19/02/2025 16:21
Thư gửi Quý Công ty, Doanh nghiệpĐịa chỉ cung cấp thông tin Điều tra Doanh nghiệp năm 2025Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được điều tra thống kêChương trình điều tra thống kê quốc gia (Quyết định số 03/2023/QĐ-TTg Ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ) Phương án điều tra doanh nghiệp năm 2025 (Quyết định số 1706/QĐ-BKHĐT ngày 05/8/2024)Kế hoạch và hướng dẫn thực hiện Phương án Điều tra doanh nghiệp năm 2025 (Quyết định số 1492/QĐ-BKHĐT ngày 17/12/2024)Sổ tay hướng dẫn điều tra Doanh nghiệp năm 2025
Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 01 năm 2025
- 03/02/2025 08:35
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt: Tháng 01/2025, các địa phương trong tỉnh tập trung thu hoạch cây trồng vụ Đông để đảm bảo tiến độ gieo trồng vụ Xuân năm 2025. Tính đến hết ngày 20/01/2025, toàn tỉnh đã hoàn tất thu hoạch các cây trồng chính như ngô, khoai lang và rau màu; tiến độ gieo trồng cây vụ Xuân đạt 7.451,1 ha, trong đó diện tích lúa ước đạt 7.123,0 ha, chiếm 95,6%, tăng gần 97% so với cùng thời điểm năm trước. b. Chăn nuôi: Trong kỳ, ngành chăn nuôi đẩy mạnh hướng dẫn quy trình chăn nuôi an toàn sinh học. Đồng thời, khuyến cáo biện pháp phòng chống rét, dịch bệnh để đảm bảo nguồn cung thực phẩm dịp Tết. Tháng 01/2025, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng cao, đáp ứng nguồn cung thực phẩm cho dịp Tết Cổ truyền. Tổng sản lượng thịt hơi ước đạt 14.636 tấn, tăng 14,67% so với cùng kỳ; trong đó thịt lợn đạt 9.568 tấn, tăng 15,77%; sản lượng thịt gia cầm đạt 4.455 tấn, tăng 13,50%. Sản lượng sữa bò tươi đạt 5,2 nghìn tấn, tăng 0,38%; sản lượng trứng gia cầm đạt 73,6 triệu quả, tăng 3,50%. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Ước tính tháng 01/2025, toàn tỉnh đã trồng được 3 ha rừng sản xuất tại huyện Lập Thạch; sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 3.529,8 m³, tăng 4,18%; sản lượng củi khai thác đạt 2.564 Ste tăng 0,02% so cùng kỳ. 1.3. Sản xuất thủy sản Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1.944,5 tấn, tăng 0,42% (+8,1 tấn). Trong đó, sản lượng cá nuôi trồng ước đạt 1.943,9 tấn, tăng 0,42%; sản lượng thủy sản khác ước đạt 0,6 tấn, tăng 3,23%. 2. Sản xuất công nghiệp Tháng 01/2025, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, các doanh nghiệp đã chủ động triển khai kế hoạch từ đầu năm. Tuy nhiên, do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Ất Tỵ kéo dài, số ngày sản xuất giảm 5-7 ngày, khiến sản lượng nhiều ngành công nghiệp giảm so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tháng 01/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) ước giảm 20,53% so với tháng trước và giảm 6,97% so với cùng kỳ. - So với tháng trước, chỉ số IIP của ngành khai khoáng giữ ổn định; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 20,75%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,25%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,85%. - So với cùng kỳ, chỉ số IIP của ngành khai khoáng giảm 61,96%[1]; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,18%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 11,37%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 21,69%. Sản lượng sản xuất một số sản phẩm: Tháng 01/2025, ngoài sản lượng thức ăn chăn nuôi và giày thể thao các loại tăng so với cùng kỳ năm trước, sản lượng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu còn lại đều giảm; trong đó, giảm nhiều nhất là sản phẩm máy tính xách tay với mức giảm 28,53%. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 01/2025, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 0,40% so với cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ: Tháng 01/2025, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 24,54% so với tháng trước và giảm 13,83% so với cùng kỳ. So với tháng trước. Chỉ số tồn kho: Tháng 01/2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho giảm 5,0% so với tháng trước và giảm 33,51% so với cùng kỳ. 3. Đầu tư 3.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước Năm 2025, Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách Nhà nước tỉnh được giao theo Quyết định 1943/QĐ-UBND ngày 24/12/2024 là 6.898,4 tỷ đồng, thấp hơn 869,3 tỷ đồng so với dự toán giao đầu năm 2024. Cụ thể: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh là 3.095,8 tỷ đồng; cấp huyện và xã là 2.652,6 tỷ đồng (trong đó, nguồn nguyên tắc và tiêu chí là 1.177,6 tỷ đồng và nguồn thu tiền sử dụng đất là 1.475,0 tỷ đồng). Ước tính vốn đầu tư ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý thực hiện tháng 01/2025 đạt 412,8 tỷ đồng, bằng 5,98% vốn kế hoạch năm 2025; giảm 35,26% so với tháng trước và giảm 9,96% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do kỳ nghỉ Tết kéo dài và nhiều công trình mới đang trong giai đoạn chuẩn bị. Về cơ cấu, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 175,2 tỷ đồng, cấp huyện 117,4 tỷ đồng và cấp xã 120,3 tỷ đồng. 3.2. Tình hình thu hút đầu tư Ngay từ tháng đầu năm, tỉnh Vĩnh Phúc ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trong hoạt động đầu tư, đặc biệt là các dự án trong nước (DDI). Theo số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, đến ngày 15/01/2025, toàn tỉnh đã thu hút được 03 dự án DDI (01 dự án cấp mới, 02 dự án điều chỉnh vốn). Tổng vốn đăng ký đạt 160,22 tỷ đồng tăng gấp 10 lần so với cùng kỳ. Khu vực FDI trong tháng 01/2025 có 07 dự án được cấp phép, gồm 01 dự án mới và 06 dự án điều chỉnh vốn. Tổng vốn đăng ký đạt 25,52 triệu USD, bằng 36,74% so với cùng kỳ. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực ưu tiên phát triển với 07 dự án đầu tư, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển tỉnh theo hướng công nghiệp hiện đại. 4. Thương mại, dịch vụ Tháng 01/2025, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục diễn ra sôi động, nhờ các chương trình xúc tiến, bình ổn giá và kích cầu tiêu dùng nhân dịp Tết Nguyên đán. Nhu cầu mua sắm, sử dụng dịch vụ của người dân gia tăng, góp phần thúc đẩy doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, mặc dù một số hoạt động kinh doanh tạm dừng trong kỳ nghỉ lễ. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 01/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.447,3 tỷ đồng, giảm 0,06% so với tháng trước nhưng tăng 9,80% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, doanh thu từ cả bốn nhóm ngành hàng đều tăng trưởng so với cùng kỳ, cụ thể: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 01/2025 đạt 6.013,2 tỷ đồng, chiếm 80,74% tổng mức, tăng 0,56% so với tháng trước và tăng 10,09% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 01/2025 đạt 587,1 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 10,56% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành tháng 01/2025 đạt 15,6 tỷ đồng, giảm 4,57% so với tháng trước nhưng tăng 15,74% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác tháng 01/2025 đạt 831,4 tỷ đồng, giảm 4,64% so với tháng trước nhưng tăng 7,11% so với cùng kỳ. Nhu cầu sử dụng các dịch vụ giải trí, làm đẹp, sửa chữa nhà cửa tăng mạnh trước Tết và sự phát triển của thương mại điện tử thúc đẩy góp phần vào tăng trưởng doanh thu. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Tháng 01/2025, nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán, tổng doanh thu ngành vận tải kho bãi ước đạt 721,1 tỷ đồng, giảm 6,18% so với tháng trước nhưng tăng 6,51% so với cùng kỳ. Vận tải hành khách: Doanh thu vận tải hành khách tháng 01/2025 ước đạt 136,1 tỷ đồng, tăng 8,24% so với tháng trước và 67,85% so với cùng kỳ. Tổng số hành khách vận chuyển trong tháng đạt 4,3 triệu lượt, luân chuyển đạt 234,7 triệu HK.km. Nhu cầu di chuyển tăng cao trong dịp Tết cùng với việc mở rộng mạng lưới xe buýt, xe khách và hoàn thiện các tuyến đường trọng điểm đã góp phần thúc đẩy doanh thu. Vận tải hàng hóa: Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 01/2025 ước đạt 492,4 tỷ đồng, giảm 10,56% so với tháng trước và giảm 7,79% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải đường bộ đạt 364,0 tỷ đồng, vận tải đường thủy đạt 128,4 tỷ đồng. Tổng khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 2,9 triệu tấn; luân chuyển đạt 324,0 triệu tấn.km, giảm nhẹ so với cùng kỳ. Nguyên nhân do kỳ nghỉ Tết kéo dài, nhiều doanh nghiệp tạm dừng hoạt động hoặc giảm công suất. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: Tháng 01/2025, doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ và bưu chính chuyển phát ước đạt 92,5 tỷ đồng, tăng 0,32% so với tháng trước và tăng mạnh 49,48% so với cùng kỳ. Tỷ trọng doanh thu từ lĩnh vực này tiếp tục có xu hướng gia tăng nhờ vào sự phát triển mạnh của thương mại điện tử, nhu cầu lưu kho và giao hàng tăng cao dịp cuối năm, cùng với việc trung tâm Logistic ICD Vĩnh Phúc phát huy hiệu quả khai thác. 5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 5.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước Dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2025 tỉnh Vĩnh Phúc được xây dựng nhằm đảm bảo an toàn, bền vững và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Tỉnh chú trọng tăng cường huy động, quản lý, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính. Đồng thời, siết chặt kỷ cương tài chính và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, môi trường, quốc phòng và an ninh. Kế hoạch thu NSNN năm 2025 là 27.026 tỷ, trong đó thu nội địa 22.026 tỷ đồng; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 5.000 tỷ đồng. Dự toán chi cân đối ngân sách địa phương là 20.182,3 tỷ đồng. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 5.748,3 tỷ đồng, chi thường xuyên là 10.325,1 tỷ đồng. Hầu hết doanh nghiệp đang hoàn thiện hồ sơ quyết toán thuế năm 2024, dẫn đến thu ngân sách tháng 01/2025 giảm so với cùng kỳ. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 20/01/2025 thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 1.122,7 tỷ đồng, bằng 69,13% so với cùng kỳ. Tổng chi NSNN đạt 1.309,8 tỷ đồng, tăng 78,01% so với cùng kỳ, chủ yếu là các khoản chi ngân sách năm 2024 được kéo dài thực hiện chi trong tháng 01/2025. 5.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, do đó việc đẩy mạnh các động lực thúc đẩy tăng trưởng như tín dụng, vốn đầu tư,... là rất cần thiết. Ngành Ngân hàng xây dựng mục tiêu tăng trưởng cho năm 2025 với huy động vốn tăng 10-12%, tín dụng tăng 11-13% (cao hơn 1% so với kế hoạch năm 2024), đồng thời duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn (dưới 3%). Tổng nguồn vốn huy động dự kiến đến 31/01/2025 ước đạt 140 nghìn tỷ đồng, tăng 0,26% so với cuối năm 2024. Lượng tiền nhàn rỗi trong ngắn hạn gia tăng trong bối cảnh các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản và vàng có nhiều biến động, tiền gửi ngân hàng tiếp tục là kênh lưu trữ tài sản an toàn và đáng tin cậy của người dân, tác động gia tăng ở cả 2 nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tiền gửi các tổ chức kinh tế với mức tăng lần lượt là 0,27% và 0,25% so với cuối năm 2024. Tổng dư nợ cho vay đến 31/01/2025 ước đạt 144.000 tỷ đồng, tăng 0,51% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, ước đạt 107,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 74,44% tổng dư nợ, tăng 0,67%; dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 36,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,56%, tăng 0,05% so với cuối năm 2024. Cơ cấu dư nợ tiếp tục tập trung vào các hoạt động sản xuất, dịch vụ và đầu tư phát triển, trong đó dư nợ khu vực hộ gia đình, tư nhân, cá thể chiếm 59,82% tổng dư nợ và dư nợ khu vực doanh nghiệp chiếm 39,89% tổng dư nợ. Nợ xấu toàn địa bàn ước đến 31/01/2025 là 1,2 nghìn tỷ đồng; chiếm tỷ lệ 0,85% trên tổng dư nợ. 5.3. Bảo hiểm Tháng 01/2025, Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh đã xây dựng dự toán, kế hoạch thu, chỉ tiêu phấn đấu giảm nợ BHXH, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp cho BHXH huyện, thành phố. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, tuyên truyền về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đến nhân dân, tạo sự lan tỏa sâu rộng, nhất là đối với nhóm đối tượng là nông dân, người lao động tự do. Ước tính đến 31/01/2025, có 264.142 người tham gia BHXH, chiếm 43,52% lực lượng lao động (bao gồm: BHXH bắt buộc: 265.458 người; BHXH tự nguyện: 25.691 người); tham gia BH thất nghiệp: 230.017 người, chiếm 37,89% lực lượng lao động; tham gia BHYT: 1.148.487 người, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 94,81% dân số. Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại ước tính đến 31/01/2025 đạt 588,96 tỷ đồng, tăng 29,78% so với cùng kỳ năm trước. Công tác chi trả, nhất là trả lương hưu và trợ cấp BHXH được thực hiện đồng bộ, nhanh gọn và an toàn đến tận tay đối tượng. Qua đó, trong tháng một BHXH tỉnh đã giải quyết hưởng BHXH hàng tháng cho 62 người; giải quyết hưởng BHXH một lần cho 832 người; giải quyết ốm đau, thai sản, dưỡng sức cho 9.664 lượt người; lập danh sách chi trả cho 620 lượt người hưởng bảo hiểm thất nghiệp. 6. Chỉ số giá tiêu dùng Trong tháng Một năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,84% so với tháng trước, chủ yếu do nhu cầu mua sắm cao trong dịp Tết Nguyên đán và việc áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Nghị quyết số 20/2024/NQ-HĐND. So với cùng kỳ năm 2024, CPI tăng 1,55%. So với tháng trước, chỉ số CPI tăng 0,84%, trong đó khu vực thành thị tăng 0,77%, khu vực nông thôn tăng 0,88%. Có 8 nhóm hàng tăng giá, 2 nhóm giảm giá và 1 nhóm không thay đổi. Trong đó: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,23%, đóng góp 0,80 điểm phần trăm, là nhóm có mức đóng góp cao nhất do áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Nghị quyết số 20/2024/NQ-HĐND; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,02%, đóng góp 0,68 điểm phần trăm, trong đó thực phẩm tăng 0,26%, giá lương thực giảm 1,49%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,16%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào CPI chung, chủ yếu do giá nhà ở thuê tăng và giá dầu hỏa tăng 3,28%. So với cùng kỳ năm trước, CPI tăng 1,55%, với 7 nhóm hàng tăng và 4 nhóm giảm. Trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,77%, đóng góp 1,59 điểm phần trăm, trong đó thực phẩm tăng 5,37%, ăn uống ngoài gia đình tăng 1,48%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,71%, đóng góp 0,84 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thuê nhà và vật liệu xây dựng tăng; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,28%, đóng góp 0,80 điểm phần trăm, do áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Nghị quyết số 20/2024/NQ-HĐND; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,89%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm, chủ yếu do tăng giá dịch vụ cá nhân và đồ trang sức theo xu hướng giá vàng. Ngược chiều, nhóm giáo dục giảm 25,19%, làm CPI giảm 1,63 điểm phần trăm, do chính sách hỗ trợ học phí của tỉnh theo Nghị quyết số 11/2024/NQ-HĐND; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 5,76%, làm CPI giảm 0,41 điểm phần trăm, do các chương trình giảm giá kích cầu tiêu dùng; nhóm giao thông giảm 0,11%, làm CPI giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá xăng dầu trong nước giảm theo thị trường thế giới. Chỉ số giá tháng 01/2025 so cùng kỳ (%) - Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 01/2025 tăng 1,00% so với tháng trước; tăng 32,02% so với cùng kỳ năm 2024. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,35% so với tháng trước và tăng 4,59% so với cùng kỳ năm trước. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Tính từ ngày 15/12/2024 đến 14/01/2025, số lao động thôi việc, mất việc là 1.167 người, giảm 440 người so với tháng trước nhưng tăng 447 người so với cùng kỳ. Trong kỳ, không có lao động nghỉ giãn việc, giảm 20 người so với tháng 12/2024 (trong khi tháng 01/2024 có 1.952 lao động nghỉ giãn việc) cho thấy sự ổn định hơn của thị trường lao động trong giai đoạn đầu năm. Chỉ số sử dụng lao động trong lĩnh vực công nghiệp tháng 01/2025 tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 0,40% so với cùng kỳ, phản ánh tín hiệu tích cực về nhu cầu lao động của doanh nghiệp. Công tác hỗ trợ lao động tiếp tục được triển khai thông qua các chương trình tư vấn việc làm, đào tạo nâng cao tay nghề và kết nối cung - cầu lao động. Tính đến ngày 15/01/2025, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 1.007 lao động, giảm 54,08% so cùng kỳ. Trong đó: giải quyết 156 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 315 việc làm trong khu vực công nghiệp - xây dựng; 521 việc làm khu vực dịch vụ; 15 người đi xuất khẩu lao động. 2. Giáo dục, đào tạo Trong tháng 01/2025, nhiều trường học trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức các lễ hội hướng đến việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc. Các hoạt động như "Ngày hội Bánh chưng xanh" được triển khai rộng rãi, tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm gói bánh chưng cùng giáo viên và phụ huynh. Những chương trình này không chỉ giúp các em hiểu biết sâu sắc hơn về phong tục tập quán truyền thống mà còn tăng cường tình cảm gia đình và cộng đồng. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 24/2024/TT-BGDĐT vào ngày 24/12/2024, quy định về Quy chế thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông từ năm 2025. Theo đó, kỳ thi sẽ được tổ chức thành 3 buổi thi, gồm: 1 buổi thi môn Ngữ văn, 1 buổi thi môn Toán và 1 buổi thi bài thi tự chọn. Các thí sinh sẽ được sắp xếp theo tổ hợp bài thi tự chọn để tối ưu phòng thi, điểm thi. So với những năm trước, số buổi thi giảm từ 4 xuống còn 3, số môn thi giảm từ 6 xuống còn 4, qua đó giảm áp lực và chi phí nhưng vẫn đảm bảo chất lượng kỳ thi. 3. Y tế Các ngành chức năng của tỉnh đã thực hiện tốt hoạt động phòng, chống dịch bệnh. Chủ động tiếp nhận thông tin để kịp thời triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; giám sát chặt chẽ các trường hợp mắc, nghi ngờ mắc các bệnh truyền nhiễm, không để dịch lớn xảy ra trên địa bàn. Các ca bệnh truyền nhiễm đã phát hiện từ ngày 01/12/2024 đến 31/12/2024 gồm: Tay chân miệng 07 ca (giảm 03 ca so với tháng trước), Thủy đậu 21 ca (tăng 16 ca), Sởi 09 ca (tăng 07 ca), Bệnh do vi rút Adeno 05 ca (tăng 03 ca), Ho gà 01 ca … Các ca bệnh truyền nhiễm trong tháng chưa ghi nhận trường hợp tử vong. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Để đảm bảo VSATTP trong dịp Tết Nguyên Đán Ất Tỵ phục vụ nhân dân đón Tết, vui Xuân an toàn Ban chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 252/KH-BCĐLNATTP ngày 27/12/2024 của Ban chỉ đạo về Triển khai công tác đảm bảo an toàn thực phẩm Tết Nguyên đán Ất Tỵ và mùa Lễ hội Xuân 2025. Cụ thể, từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/01/2025, các đoàn thanh, kiểm tra liên ngành đã tiến hành kiểm tra ở 178 cơ sở sản xuất thực phẩm, kinh doanh thực phẩm và kinh doanh dịch vụ ăn uống. Kết quả, 178 cơ sở đều đạt quy định về an toàn thực phẩm. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh chưa phát hiện ngộ độc thực phẩm. 4. Văn hóa, thể thao Trong tháng 01/2025, tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức nhiều sự kiện văn hóa đặc sắc, chuẩn bị chào đón Tết Nguyên đán Ất Tỵ. Tối ngày 31/12/2024, Trung tâm Văn hóa tỉnh đã tổ chức chương trình nghệ thuật "Chào năm mới 2025" tại sảnh Nhà hát tỉnh, thành phố Vĩnh Yên, thu hút đông đảo người dân và du khách tham dự. Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao mừng Đảng, mừng Xuân cũng được triển khai rộng rãi, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Ngày 01/10/2024, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức họp về kế hoạch tổ chức Đại hội Thể dục - Thể thao (TDTT) các cấp lần thứ VII, dự kiến diễn ra từ năm 2025 đến 2026, nhằm đánh giá phong trào thể dục thể thao quần chúng và lựa chọn vận động viên tham gia Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Theo kế hoạch, dự kiến Đại hội cấp xã tổ chức trong thời gian từ 1/7 đến 31/8/2025, lựa chọn xã Cao Phong, huyện Sông Lô và phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên tổ chức Đại hội điểm; Đại hội cấp huyện, ngành tổ chức từ 1/9 đến 31/12/2025, lựa chọn huyện Vĩnh Tường tổ chức Đại hội điểm; Đại hội TDTT tỉnh lần thứ VII tổ chức trong thời gian từ tháng 3 - 4/2026, tổ chức thi đấu từ 15 môn thể thao trở lên, trong đó có bộ môn Pickleball lần đầu tiên đưa vào thi đấu. 5. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy nổ và bảo vệ môi trường. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 74 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (giảm 05 vụ so với tháng trước) làm 07 người chết và 11 người bị thương, thiệt hại tài sản 2.985,73 triệu đồng, đã điều tra làm rõ 64/74 vụ (đạt 86,48%), bắt giữ 100 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 982,8 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/01/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 28 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 16 người chết và 24 người bị thương (so với tháng trước tăng 01 vụ, tăng 03 người chết, tăng 02 người bị thương). Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/01/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 13 vụ cháy, nổ (giảm 04 vụ so với tháng trước) với số tiền thiệt hại là trên 19,10 triệu đồng. Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/01/2025, toàn tỉnh đã phát hiện 62 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 58 vụ với số tiền xử phạt là 187,33 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm tăng 48 vụ (tăng 342,86%); số vụ xử phạt tăng 46 vụ (tăng 383,33%); số tiền xử phạt giảm 1.034,42 triệu đồng (giảm 84,67%)./.
Hội nghị Cán bộ công chức năm 2025 và Điển hình tiên tiến giai đoạn 2025 - 2030
- 17/01/2025 23:35
Ngày 16/01/2025, tại Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, Ban Chấp hành Công đoàn phối hợp với Lãnh đạo Cơ quan tổ chức Hội nghị Cán bộ công chức năm 2025 và Điển hình tiên tiến giai đoạn 2025 - 2030 nhằm đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Hội nghị Cán bộ công chức năm 2024; biểu dương điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước 05 năm (2020- 2025); triển khai nhiệm vụ công tác trọng tâm năm 2025; phát động phong trào thi đua, khen thưởng giai đoạn 2025- 2030. Đoàn Chủ tịch điều hành Hội nghị gồm có đồng chí Nguyễn Hồng Phong, Bí thư Chi bộ, Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh; đồng chí Đỗ Minh Tâm - Chủ tịch Công đoàn cơ sở, Phó Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh. Tham dự hội nghị có các đồng chí trong Ban Chấp hành Chi bộ, Ban Lãnh đạo Cơ quan, Ban Chấp hành Công đoàn và toàn thể công chức, người lao động - đoàn viên Công đoàn cơ sở Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc. Phó Cục trưởng Nguyễn Minh Vinh phát biểu tại Hội nghịHội nghị đã được nghe các báo cáo: Kết quả công tác năm 2024, phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2025 của Cơ quan Cục Thống kê tỉnh; Tổng kết công tác Công đoàn năm 2024, phương hướng nhiệm vụ năm 2025; Tổng kết phong trào thi đua yêu nước 05 năm (2020 - 2025) và phương hướng, nhiệm vụ phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2025 - 2030; Tổng kết hoạt động Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2023 - 2025, phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 2025 - 2027 và công khai dự toán năm 2025 của Cơ quan. Báo cáo đã chỉ ra, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, Lãnh đạo Cơ quan đã lãnh chỉ đạo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Cơ quan; Công đoàn cơ sở luôn bám sát các nhiệm vụ tổ chức, phát động các phong trào thi đua; Cơ quan, Công đoàn luôn quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công chức, người lao động. Các tổ chức, đoàn thể và toàn thể công chức, người lao động luôn đoàn kết thống nhất, gương mẫu, sáng tạo; đã bám sát chức năng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch công tác để cụ thể hóa triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao góp phần hoàn thành và vượt chỉ tiêu các nhiệm vụ chính trị của Cơ quan và Công đoàn đề ra.Đối với phong trào thi đua yêu nước, giai đoạn 2020 - 2025, Cơ quan, Công đoàn Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc đã có nhiều tập thể, cá nhân được biểu dương, tuyên dương trong các phong trào thi đua. Trong đó, có nhiều tập thể, cá nhân được tặng thưởng nhiều danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng như Bằng khen Thủ tướng chính phủ, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, chiến sỹ thu đua cấp bộ,... và đối với công đoàn giai đoạn 2020 - 2024, Công đoàn cơ sở có 04 lần, cá nhân có 03 đồng chí được CĐVC tỉnh tặng Giấy khen.Hội nghị đã phát huy tối đa tính dân chủ, các đồng chí tham dự hội nghị tham gia thảo luận, góp ý sôi nổi, nhiệt tình vào các báo cáo. Trong đó, tập trung đánh giá nổi bật những mặt đã làm được; thẳng thắn nhìn nhận và chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới. Thủ trưởng Cơ quan và Chủ tịch Công đoàn đã giành nhiều thời gian để lắng nghe ý kiến tham gia, đóng góp, kiến nghị của công chức, người lao động; đặc biệt tập trung vào các nhiệm vụ và giải pháp để xây dựng Cơ quan, Công đoàn ngày càng trong sạch, vững mạnh. Hội nghị cũng đã bầu ra Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2025 - 2027 là những đồng chí có đủ phẩm chất, năng lực thực hiện tốt nhiệm vụ nhiệm vụ.Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2025 - 2027Với chủ đề "Kỷ cương, đoàn kết, tinh - gọn - mạnh, nâng cao năng lực, hiệu quả công tác thống kê", Lãnh đạo Cơ quan và Công đoàn đã phát động phong trào thi đua và ký giao ước thi đua với 6 chỉ tiêu, nhiệm vụ lớn, quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Cơ quan cũng như Công đoàn đề ra.Hội nghị Cán bộ công chức năm 2025 và Điển hình tiên tiến giai đoạn 2025 - 2030 của Cục Thống kê tỉnh kết thúc thành công tốt đẹp trên tinh thần phát huy tính dân chủ của công chức và người lao động. Đây là tiền đề để Cơ quan và Công đoàn Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị và phong trào thi đua yêu nước góp phần xây dựng Cơ quan, Công đoàn ngày càng phát triển vững mạnh./.Toàn thể cán bộ công chức Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc Tác giả: Nguyễn Mạnh Tuấn
Hội nghị tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2024; phương hướng nhiệm vụ năm 2025
- 16/01/2025 15:28
Ngày 15/01/2025, Chi đoàn Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2024; phương hướng nhiệm vụ năm 2025; sinh hoạt chuyên đề với chủ đề: “Thanh niên Cục Thống Kê Vĩnh Phúc trong đổi mới tư duy thống kê thời đại số”. Tham dự Hội nghị có đồng chí Nguyễn Minh Vinh, Phó Cục trưởng Cục Thống kê, thanh niên của Chi đoàn Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 2024, với tinh thần xung kích, tình nguyện và sáng tạo, tuổi trẻ ngành Thống kê Vĩnh Phúc đã chung tay thực hiện nhiều hoạt động ý nghĩa, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp; Tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, các ngày lễ lớn trong năm do Đoàn khối, Công đoàn viên chức tỉnh, cơ quan tổ chức, phát động. Sự tham gia nhiệt tình và trách nhiệm của tuổi trẻ đã góp phần làm nên thành công của các sự kiện, đồng thời thể hiện tinh thần đoàn kết của thanh niên Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc trên mọi lĩnh vực. Phong trào tuổi trẻ sáng tạo cũng ghi nhận nhiều thành tích nổi bật. Các đoàn viên đã mạnh dạn đề xuất ý tưởng, sáng kiến trong học tập và lao động. Nhiều mô hình, giải pháp sáng tạo đã được ứng dụng vào thực tế, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng công việc. Công tác chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng được quan tâm sâu sắc. Tại hội nghị, đại biểu đã tập trung thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến, kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi của Chi đoàn Cục Thống kê nói riêng và trên địa bàn tỉnh nói chung. Nối tiếp phần tổng kết công tác đoàn năm 2024, Chi đoàn tổ chức sinh hoạt chuyên đề "Thanh niên Cục Thống kê Vĩnh Phúc và Đổi mới Tư duy Thống kê trong thời đại số". Xoay quanh buổi chuyên đề là tập trung phân tích những cơ hội và thách thức trong việc áp dụng công nghệ số vào hoạt động thống kê. Đồng thời nêu bật vai trò của thanh niên, với tinh thần sáng tạo, năng động, là lực lượng nòng cốt và đưa ra giải pháp nhằm đổi mới tư duy và phương pháp làm việc của thanh niên Cục Thống kê trong thời đại số. Để các giải pháp đi vào thực tiễn, Chi đoàn Cục Thống kê tổ chức những hoạt động nhóm, nhằm nâng cao kiến thức nghiệp vụ và kỹ năng làm việc nhóm của các thành viên Chi đoàn.Dưới đây là một số hình ảnh tại Hội nghị tổng kết công tác Đoàn năm 2024 và sinh hoạt chuyên đề của Chi đoàn Cục Thống kê. Tác giả: Phùng Thị Kiều Loan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc quý IV và cả năm 2024
- 01/01/2025 09:46
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) Tốc độ tăng trưởng GRDP tỉnh Vĩnh Phúc năm 2024 ước tăng 7,52%, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra, xếp thứ 8/11 vùng Đồng bằng sông Hồng; thứ 28/63 cả nước. Trong mức tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,53%, đóng góp 0,08 điểm %; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,77%, đóng góp 5,35 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,67%, đóng góp 1,63 điểm %; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm năm 2024 tăng 1,94%, đóng góp 0,46 điểm %.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản Năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng thấp so với cùng kỳ, ước tăng 1,53%, thấp hơn mức tăng 5,66% của năm 2023, chỉ cao hơn năm 2022 trong giai đoạn 2020-2024. Ngành trồng trọt và ngành thủy sản gặp khó khăn do chịu ảnh hưởng của cơn bão số 3 trong tháng 9/2024, nhiều diện tích cây trồng thu hoạch vụ mùa và diện tích nuôi trồng thủy sản bị mất trắng; do đó, tác động làm giá trị tăng thêm (GTTT) cả năm của ngành trồng trọt và thủy sản lần lượt giảm 2,43% và 2,18% so với năm 2023. Sản xuất chăn nuôi tăng trưởng khá, đóng góp chủ yếu từ chăn nuôi lợn, GTTT cả năm ước tăng 4,71%. Ngành lâm nghiệp duy trì mức tăng trưởng ổn định, ước tăng 3,32% so với năm 2023.1.2. Khu vực công nghiệp - xây dựngKhu vực công nghiệp – xây dựng tăng 10,77%, đóng góp 5,35 điểm phần trăm vào mức tăng chung của nền kinh tế. - Ngành công nghiệp: Mặc dù kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại với nhiều rủi ro tiềm ẩn, ngành công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định, đặc biệt phục hồi mạnh mẽ trong các quý cuối năm. Tăng trưởng cao nhất được ghi nhận ở quý III, đạt 17,28%. Tính chung cả năm 2024, GTTT của ngành công nghiệp tăng 11,19%, đóng góp 4,94 điểm % vào tăng trưởng GRDP của tỉnh. Trong các ngành công nghiệp chủ lực:+ Ngành sản xuất linh kiện điện tử tiếp tục là động lực chính, với GTTT ước tăng 15,64%, đóng góp 3,37 điểm %. Sự ổn định của các đơn hàng dài hạn và việc mở rộng hợp tác với các tập đoàn lớn như Apple, Samsung, Google… đã giúp gia tăng doanh thu và thúc đẩy tăng trưởng ngành.+ Ngành sản xuất ô tô tuy có sự suy giảm trong 6 tháng đầu năm, sản lượng ô tô trong 6 tháng đầu năm chỉ đạt trên 17 nghìn xe, giảm 8,45% so với cùng kỳ; nhưng trong 6 tháng cuối năm đã có sự phục hồi trở lại và có mức tăng trưởng khá. Thị trường tiêu thụ ô tô đã có dấu hiệu tích cực nhờ tác động của chính sách giảm thuế trước bạ , nhu cầu mua sắm các sản phẩm ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước gia tăng. Trên địa bàn, công ty Toyota, Honda... đã đẩy mạnh sản xuất, gia tăng sản lượng, sản lượng ô tô trong 6 tháng cuối năm ước đạt gần 26 nghìn xe, tăng 3,64% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm, chỉ số sản xuất ngành sản xuất xe có động cơ tăng 1,49% so với cùng kỳ.+ Ngành sản xuất xe máy ghi nhận sự tăng trưởng tích cực, đặc biệt trong quý III với mức tăng 21,29%. Tuy nhiên, ngành vẫn đối mặt với thách thức như nhu cầu tiêu thụ trong nước chững lại và sự cạnh tranh gay gắt từ các dòng xe máy điện của Vinfast, Dibao, Yadea...+ Ngành dệt và sản xuất trang phục tăng nhẹ 0,41% so với năm trước, với sự phục hồi đáng kể từ quý III (+7,04%) nhờ các đơn hàng dài hạn. Ngành kim loại và khoáng phi kim loại lần lượt tăng 7,25% và 13,59%, đóng góp 0,09 và 0,23 điểm %. Nhu cầu xây dựng và sửa chữa gia tăng cùng với giải ngân vốn đầu tư tích cực đã hỗ trợ các ngành này duy trì mức tăng trưởng ổn định.- Ngành xây dựng năm 2024 duy trì sự ổn định trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế. GTTT ngành xây dựng tăng 7,42%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm vào GRDP. Tốc độ tăng trưởng ngành xây dựng có xu hướng phục hồi trở lại sau giai đoạn chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19; kể từ năm 2022, giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn theo giá so sánh liên tục tăng với tốc độ năm sau cao hơn năm trước.1.3. Khu vực dịch vụHoạt động thương mại dịch vụ trầm lắng trong các tháng đầu năm, nhưng từ quý II, cùng với sự phục hồi trong sản xuất công nghiệp, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng các tháng trên địa bàn liên tục tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, các chính sách tăng lương từ ngày 01/7/2024 đã trở thành động lực thúc đẩy tăng tiêu dùng trong dân cư. Tăng trưởng khu vực dịch vụ cả năm 2024 ước tăng 7,67%, đóng góp 1,63 điểm % vào mức tăng chung của nền kinh tế. Một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn, đóng góp nhiều vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 10,0% so với năm trước, đóng góp 0,60 điểm %; ngành vận tải, kho bãi tăng 16,97%, đóng góp 0,28 điểm %; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,72%, đóng góp 0,15 điểm %; ngành thông tin và truyền thông tăng 5,52%, đóng góp 0,11 điểm %; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 5,54%, đóng góp 0,06 điểm %.2. Quy mô kinh tế tiếp tục gia tăng, duy trì vị trí thứ 14 trong cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cựcQuy mô GRDP tỉnh Vĩnh Phúc năm 2024 theo giá hiện hành ước đạt 173,14 nghìn tỷ đồng, tăng 15,67 nghìn tỷ đồng, tương đương tăng 9,95% so với năm 2023. Đưa giá trị GRDP bình quân đầu người từ 130 triệu đồng/người năm 2023 lên 141,3 triệu đồng/người năm 2024, tương ứng tăng 11,3 triệu đồng/người.Cơ cấu các ngành kinh tế năm 2024 chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp. Tỷ trọng giá trị tăng thêm khu vực công nghiệp - xây dựng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tăng thêm 3 khu vực, ước đạt 62,37%, trong đó ngành công nghiệp chiếm 55,58%; ngành dịch vụ chiếm 30,88%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 6,75% (Năm 2023 lần lượt là: 62,47%, 30,56%, 6,98%).3. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sảnNăm 2024, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh duy trì mức ổn định dù chịu tác động từ thời tiết bất lợi. Năng suất lúa mùa và một số cây trồng giảm do ảnh hưởng của cơn bão số 3. Sản xuất chăn nuôi cơ bản ổn định, chăn nuôi lợn gặp phát triển khá so với cùng kỳ do giá lợn hơi duy trì ở mức cao, người dân yên tâm sản xuất; chăn nuôi gia cầm có xu hướng chuyển dịch cơ cấu từ chăn nuôi gà thịt sang gà đẻ. Công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh đối với đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn được thực hiện tốt.3.1. Sản xuất nông nghiệpa. Trồng trọt- Cây hàng năm: Năm 2024, diện tích gieo trồng cây hằng năm đạt 84.143,3 ha, giảm 334,2 ha so với năm 2023. Trong đó, cây lúa tiếp tục là cây trồng chủ lực của tỉnh với diện tích gieo cấy cả năm đạt 52.330,5 ha, chiếm 62,19% tổng diện tích gieo trồng, giảm 199,6 ha; năng suất thu hoạch bình quân cả năm đạt 58,52 tạ/ha, giảm 1,30% (-0,77 tạ/ha); sản lượng đạt 295.224,0 tấn, giảm 5,21% so với năm trước. Kết quả cụ thể từng nhóm cây trồng như sau: - Cây lâu năm: Năm 2024, sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục phát triển bền vững theo hướng duy trì và phát triển các loại cây ăn quả truyền thống, đẩy mạnh việc hình thành các vùng sản xuất cây ăn quả chủ lực. Một số địa phương trong tỉnh đã hình thành và phát triển các trang trại nông nghiệp công nghệ cao trồng cây ăn quả kết hợp du lịch trải nghiệm, bước đầu mang lại việc làm và thu nhập ổn định cho người nông dân, góp phần gia tăng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp trên địa bàn. Tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm đạt 8.204,7 ha, giảm nhẹ 0,17% (-13,8 ha) so với cùng kỳ năm trước; ước tính sản lượng một số cây ăn quả chính có thu sản phẩm trong năm như sau: Cây xoài ước đạt 6.018,0 tấn, giảm 4,92%; chuối đạt 52.815,0 tấn, giảm 1,56%; thanh long đạt 2.459,3 tấn, tăng 6,07%; na đạt 2.967,5 tấn, giảm 0,67%; bưởi đạt 9.281,6 tấn, giảm 2,20%); vải đạt 9.629,4 tấn, giảm 7,69%... b. Chăn nuôi: Năm 2024, ngành chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định nhờ ứng dụng giống vật nuôi năng suất cao và kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh được triển khai nghiêm ngặt, với hai đợt tiêm phòng và khử trùng môi trường nhằm tạo miễn dịch quần thể, hạn chế nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Tuy nhiên, cơn bão số 3 đã gây thiệt hại, làm mất hơn 60 nghìn con gia cầm và gia súc, ảnh hưởng đến nhiều hộ chăn nuôi. Số lượng đầu gia súc, gia cầm ước tính thời điểm 31/12/2024: Đàn trâu ước đạt 15.050 con, giảm 6,71% (-1.082 con) so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò ước đạt 87.050 con, giảm 3,57% (-3.223 con); đàn lợn (không bao gồm lợn con theo mẹ) đạt 489.543 con, giảm 0,92% (-4.525 con); đàn gia cầm 12.167,2 nghìn con, tăng 1,53%. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2024 ước đạt 136.051 tấn, tăng 4,59% so với cùng kỳ. Ngoài sản lượng thịt trâu, bò hơi giảm 3,14%, thịt gia cầm đạt 40.183,4 tấn, giảm 0,99%; các sản phẩm chăn nuôi khác đều tăng khá so với cùng kỳ: thịt lợn hơi đạt 89.254,5 tấn, tăng 7,97%; sản lượng trứng gia cầm đạt 809,7 triệu quả, tăng 10,16%; sữa bò tươi đạt 60.650 tấn, tăng 2,81%. 3.2. Sản xuất lâm nghiệp Năm 2024, sản xuất lâm nghiệp của tỉnh nhìn chung ổn định và đạt kết quả tốt, các chỉ tiêu cơ bản đều hoàn thành và hoàn thành vượt kế hoạch. Ước tính toàn tỉnh trồng được 601,7 ha rừng trồng mới tập trung, tăng 0,28% so với kế hoạch năm nhưng giảm 14,68% (-103,5 ha) so với năm 2023; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 774,8 nghìn, vượt 2,76% so với kế hoạch năm nhưng giảm 11,45% (-100,2 nghìn cây) so với năm 2023; sản lượng gỗ khai thác đạt 51.383,0 m3, tăng 5,26% so với năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 49.000,0 ste, tăng 0,54% so với năm trước. 3.3. Sản xuất thuỷ sản Năm 2024, sản xuất thủy sản của tỉnh tiếp tục phát triển, công tác phòng chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản được thực hiện hiệu quả nên không có dịch bệnh xảy ra, các loại thủy sản nuôi trồng đều phát triển tốt; tuy vậy do chịu ảnh hưởng ngập lụt của cơn bão số 3 nên sản lượng nuôi trồng giảm. Kết quả sản xuất thủy sản: Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 23.681,5 tấn, giảm 4,96% so cùng kỳ; trong đó, sản lượng khai thác nội địa ước đạt 1.936,4 tấn, tăng 1,25%; sản lượng nuôi trồng ước đạt 21.745,1 tấn, giảm 5,48% so với cùng kỳ. Sản lượng con giống sản xuất ước đạt 3.228,7 triệu con, tăng 1,87% (+59,2 triệu con) 4. Sản xuất công nghiệp Năm 2024, sản xuất công nghiệp tại Vĩnh Phúc chịu tác động bất lợi từ diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và khó khăn nội tại. Trước những thách thức đó, tỉnh đã triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp như cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, ưu tiên thu hút các dự án đầu tư chiến lược, công nghệ cao. Các doanh nghiệp trên địa bàn chủ động đổi mới quản trị, áp dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ. Nhờ đó, sản xuất công nghiệp năm 2024 đạt kết quả tích cực, tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng kinh tế tỉnh, Tháng 12/2024, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) giảm 5,82% so với tháng trước nhưng tăng 14,49% so với cùng kỳ. Trong tháng, sản xuất của các ngành chủ lực tăng khá so với tháng 12/2023: Ngành sản xuất linh kiện điện tử tăng 9,17%; sản xuất ô tô tăng 20,65%; sản xuất xe máy tăng 29,25%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 16,22%; ngành sản xuất kim loại tăng 7,49%. Ước tính cả năm 2024, chỉ số IIP ước tăng 11,43% so với năm trước (riêng quý IV tăng 8,93%), là mức tăng cao thứ hai trong 5 năm trở lại đây, chỉ sau mức 15,43% của năm 2022. Kết quả sản xuất kinh doanh có nhiều tích cực với 22/25 ngành có chỉ số tăng. Các ngành công nghiệp chủ lực như sản xuất linh kiện điện tử, xe máy, thức ăn chăn nuôi, gạch ốp lát, sắt thép, sản phẩm cơ khí... (chiếm trên 80% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp của tỉnh) nhìn chung ổn định và có sản lượng gia tăng so với năm 2023: Ngành sản xuất linh kiện điện tử tăng trưởng mạnh với IIP tăng 13,52%, nhờ các dự án lớn như Newface Optoelectronics và Acc Technologies đi vào hoạt động; ngành sản xuất trang phục giảm nhẹ 0,13% do nhu cầu xuất khẩu sụt giảm, nhưng đã dần phục hồi vào cuối năm; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại và sản xuất kim loại tăng lần lượt 15,12% và 9,47%, nhờ ứng dụng công nghệ hiện đại và tăng sản xuất thay thế hàng nhập khẩu; ngành sản xuất xe có động cơ tăng 1,49%, hưởng lợi từ chính sách ưu đãi giảm thuế trước bạ; ngành sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 7,62%. Sản lượng sản xuất một số sản phẩm: Tháng 12/2024, các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đều có sản lượng tăng so với cùng kỳ; trong đó, tăng nhiều nhất là xe máy các loại với mức tăng 26,70%. Năm 2024, ước tính sản lượng sản xuất của một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh như thức ăn gia súc, gia cầm, giày thể thao, gạch ốp lát, xe máy các loại, doanh thu dịch vụ sản xuất linh kiện điện tử tăng so với năm trước; ngược chiều, sản lượng xe ô tô các loại giảm nhẹ. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 12/2024, chỉ số tăng 0,85% so với tháng trước và giảm 4,21% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,03%, ngoài quốc doanh tăng 2,09%, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 5,09%. Chỉ số tiêu thụ: Tháng 12/2024, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 3,18% so với tháng trước và tăng 6,91% so với cùng kỳ. So với tháng trước, một số ngành có mức tăng khá là: Ngành sản xuất trang phục tăng 7,74%; ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 21,18%; ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 30,34%. Chỉ số tồn kho: Tháng 12/2024, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho tăng 5,34% so với tháng trước và giảm 34,24% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm đáng kể so với tháng trước là: Ngành sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 32,79%; ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 20,20%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 8,13%. * Xu hướng SXKD ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động SXKD quý Bốn tích cực hơn quý Ba với 68,6% doanh nghiệp đánh giá hoạt động tốt hơn và giữ ổn định (35,3% nhận định tốt hơn và 33,3% giữ ổn định); 31,4% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn. Dự báo tình hình SXKD trong quý I/2025 sẽ tiếp tục tốt hơn với 37,3% số doanh nghiệp được hỏi đánh giá hoạt động SXKD quý I/2025 tốt hơn so với quý IV/2024, 34,3% nhận định giữ ở mức ổn định và 28,4% đánh giá hoạt động SXKD sẽ gặp khó khăn hơn. Trong quý IV/2024, khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là việc tìm kiếm và mở rộng thị trường đầu ra cho sản phẩm. Cụ thể: có 54,9% doanh nghiệp gặp khó khăn do sự cạnh tranh của hàng hóa trong nước ngày càng cao; 51,0% doanh nghiệp gặp khó khăn do nhu cầu thị trường trong nước vẫn ở mức thấp và 32,4% doanh nghiệp gặp khó khăn do nhu cầu hàng hóa tại các thị trường quốc tế chưa hoàn toàn phục hồi trở lại. 5. Thương mại, dịch vụ Năm 2024, thương mại, dịch vụ và vận tải tại Vĩnh Phúc duy trì ốn định, với mức tăng trưởng tích cực. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 80.594,1 tỷ đồng, tăng 10,80% so với năm trước. Doanh thu vận tải ước đạt 8.405,7 tỷ đồng, tăng 23,59%, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa. 5.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 12/2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ước đạt 7.434,6 tỷ đồng, tăng 1,68% so với tháng trước và tăng 12,82% so với cùng kỳ. Quý IV, tổng mức ước đạt 22.013,6 tỷ đồng, tăng 5,32% so với quý trước và tăng 14,25% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm 2024, tổng mức ước đạt 80.594,0 tỷ đồng, tăng 10,80% so với năm trước. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 6.081,6 tỷ đồng, tăng 12,72% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 18.070,4 tỷ đồng, tăng 14,52% so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 65.693,9 tỷ đồng, chiếm 81,51% tổng mức, tăng 10,34% so năm 2023. Trong năm ghi nhận xu hướng tiêu dùng tăng đối với các sản phẩm thiết yếu, đặc biệt là trong các dịp cao điểm những ngày lễ, tết. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 623,6 tỷ đồng, tăng 9,50% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 1.815,1 tỷ đồng, tăng 9,98% so với cùng kỳ. Cả năm, doanh thu ước đạt 6.891,5 tỷ đồng, tăng 9,03%. Ngành dịch vụ ăn uống tiếp tục phát triển với nhiều nhà hàng, quán ăn cao cấp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Doanh thu du lịch lữ hành: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 20,2 tỷ đồng, tăng 10,35% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 78,4 tỷ đồng, tăng 31,24% so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 516,8 tỷ đồng, tăng 99,63% so với năm trước, nhờ vào các hoạt động quảng bá và sự kiện kích cầu du lịch trong tỉnh. Doanh thu dịch vụ khác: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 709,3 tỷ đồng, tăng 16,89% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 2.049,7 tỷ đồng, tăng 15,19% so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu ước đạt 7.491,8 tỷ đồng, tăng 13,16% nhờ vào sự phát triển các dịch vụ y tế, giáo dục, nghệ thuật. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Năm 2024, hoạt động giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, thông suốt, đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển và lưu thông hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng, doanh thu ngành vận tải kho bãi ước đạt 8.405,7 tỷ đồng, đạt mức tăng khá cao 23,59% so với năm trước (riêng tháng 12/2024 ước đạt 775,8 tỷ đồng, tăng 15,50% so với cùng kỳ). Cụ thể theo từng loại hình vận tải: Vận tải hành khách: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 126,4 tỷ đồng, tăng 55,93% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 364,5 tỷ đồng, tăng 52,29% so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu ước đạt 1.476,2 tỷ đồng, tăng 58,60%; Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 37,1 triệu lượt, tăng 51,01%. Các tuyến vận tải ghi nhận nhu cầu đi lại tăng mạnh trong dịp lễ Tết Nguyên Đán, Lễ Quốc khánh và Giáng sinh, khi người dân có xu hướng di chuyển để thăm người thân hoặc tham gia các sự kiện văn hóa và du lịch. Vận tải hàng hóa: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 554,5 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 1.616,9 tỷ đồng, tăng 4,72% so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu ước đạt 6.008,2 tỷ đồng, tăng 13,19%; Khối lượng vận chuyển ước đạt 43,2 triệu tấn, luân chuyển đạt 5.094,1 triệu tấn.km. Các tuyến vận tải chính được nâng cấp đáng kể, bao gồm mở rộng mặt đường và cải thiện cơ sở hạ tầng, nhằm đảm bảo giao thông thông suốt và nâng cao hiệu suất vận chuyển. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải và bưu chính: Tháng 12/2024, doanh thu ước đạt 95,0 tỷ đồng, tăng 63,86% so với cùng kỳ. Quý IV, doanh thu ước đạt 277,3 tỷ đồng, tăng 66,05% so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu ước đạt 921,3 tỷ đồng, tăng 63,86% nhờ vào việc hoàn thiện hạ tầng logistics và sự phát triển của thương mại điện tử. II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ 1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước Năm 2024, tỉnh đã tập trung rà soát, xác định các nguồn thu có tiềm năng để đẩy mạnh các biện pháp khai thác, đôn đốc tăng thu cho ngân sách. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 15/12/2024 thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 28.705,7 tỷ đồng, tăng 5,25% so với cùng kỳ, đạt 90,37% dự toán giao đầu năm. Trong đó, thu nội địa đạt 23.340,8 tỷ đồng, tăng 3,31%, tăng chủ yếu ở các khoản thu về nhà, đất (2.429,9 tỷ đồng), tăng 31,32%; thu từ doanh nghiệp ngoài nhà nước (1.915,2 tỷ đồng), tăng 28,74% và thu thuế thu nhập cá nhân (1.644,3 tỷ đồng), tăng 25,12% so với cùng kỳ. Hoạt động xuất, nhập khẩu trên địa bàn gia tăng, đóng góp tích cực tới nguồn thu hải quan của tỉnh (5.345,8 tỷ đồng), tăng 15,07% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/12/2024 đạt 21.848,6 tỷ đồng, giảm 8,81% so với cùng kỳ, vượt 5,36% so với dự toán giao đầu năm, giảm chủ yếu ở nguồn chi đầu tư phát triển, bao gồm cả tạm ứng đạt 8.684,3 tỷ đồng, giảm 25,21%; chi thường xuyên đạt 11.571,7 tỷ đồng, tăng 11,78% so với cùng kỳ. 2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng Tổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 31/12/2024 đạt 142,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,98% so với cuối năm 2023. Cả hai nguồn tiền gửi từ tổ chức kinh tế và tiền gửi dân cư đều có mức tăng khá lần lượt là 12,48% và 13,23%. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt kết quả tốt, lượng tiền nhàn rỗi gửi ngân ngân hàng trong ngắn hạn tăng lên. Bên cạnh đó, trong bối cảnh các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản và vàng có nhiều biến động, tiền gửi ngân hàng vẫn được xem là kênh lưu trữ tài sản an toàn và đáng tin cậy của người dân. Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 31/12/2024, đạt 143,5 nghìn tỷ đồng, tăng 11,97% so với cuối năm 2023. Mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm khá nhiều, dư nợ cho vay chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, ước đạt 105,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,63% so với cuối năm 2023, chiếm 73,52% tổng dư nợ. Cơ cấu dư nợ tập trung vào các hoạt động sản xuất, dịch vụ và đầu tư phát triển, trong đó dư nợ khu vực hộ gia đình, tư nhân, cá thể chiếm 59,93% tổng dư nợ và dư nợ khu vực doanh nghiệp chiếm 39,72% tổng dư nợ. Dư nợ các chương trình tín dụng chính sách ước đến 30/11/2024 đạt 5,04 nghìn tỷ đồng; tăng 12,05% so với cuối năm 2023, với hơn 108 nghìn khách hàng đang vay vốn. Cụ thể: cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ thoát nghèo 980 tỷ đồng; cho vay học sinh sinh viên 85 tỷ đồng; cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường 1.030 tỷ đồng; cho vay giải quyết việc làm 1.978 tỷ đồng… Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ổn định dưới 2% trong cả năm. Ước tính đến 31/12/2024, nợ xấu toàn địa bàn đạt 1,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,05% tổng dư nợ. 3. Bảo hiểm Năm 2024, Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh đã tăng cường phối hợp, rà soát dữ liệu các cơ quan: Cục Thuế, sở Kế hoạch-Đầu tư để khai thác đối tượng tham gia bảo hiểm. Đồng thời, tích cực tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, đẩy mạnh tuyên truyền về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đến nhân dân, tạo sự lan tỏa sâu rộng, nhất là đối với nhóm đối tượng là nông dân, người lao động tự do. Ước tính đến 31/12/2024, toàn tỉnh có 1.187.845 người tham gia bảo hiểm các loại. Trong đó, có 279.543 người tham gia BHXH, chiếm 46,14% lực lượng lao động, vượt 2,24% so với chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội tại Nghị quyết 55 của HĐND tỉnh giao 43,9%. Trong đó, BHXH bắt buộc: 252.343 người; BHXH tự nguyện: 27.200 người; tham gia BH thất nghiệp có 239.422 người; tham gia BHYT có 1.160.227 người; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95,78% dân số, vượt 0,78% so với chỉ tiêu tại Nghị quyết 55 (chỉ tiêu giao 95%). Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại đến hết 31/12/2024 ước đạt 7.155 tỷ đồng, vượt 2,02% kế hoạch giao và tăng 10,42% so với năm 2023. Công tác chi trả, nhất là trả lương hưu và trợ cấp BHXH được thực hiện đồng bộ, nhanh gọn và an toàn đến tận tay đối tượng. Trong năm, BHXH tỉnh đã giải quyết hưởng BHXH hàng tháng cho 820 người; giải quyết hưởng BHXH một lần cho 14.814 người; giải quyết ốm đau, thai sản, dưỡng sức cho 134.233 lượt người; lập danh sách chi trả cho 11.052 lượt người hưởng bảo hiểm thất nghiệp. 4. Hoạt động đầu tư Năm 2024, hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn ghi nhận kết quả tăng khá tại khu vực doanh nghiệp FDI và hộ dân cư, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước và khu vực vốn nhà nước giảm sút do khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, làm chậm tiến độ giải ngân nhiều dự án. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 54.980,7 tỷ đồng, tăng 3,18% so với năm 2023. + Khu vực Nhà nước ước đạt 10.708,8 tỷ đồng, giảm 13,93% so với năm 2023. Vốn từ ngân sách Nhà nước giảm sâu, chỉ đạt 8.619,3 tỷ đồng, tương đương 83,90% kế hoạch và giảm 23,47% so với năm 2023. Trong khi đó, vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước và các nguồn khác tăng đáng kể, đặc biệt vốn của doanh nghiệp Nhà nước tăng gấp 5 lần so với năm trước. + Khu vực ngoài Nhà nước ước đạt 25.708,1 tỷ đồng, tăng 7,84% so với năm 2023. Vốn đầu tư của hộ dân cư tăng mạnh (+13,36%) nhờ nhu cầu xây dựng nhà cửa và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, vốn đầu tư từ doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 11,26%, do khó khăn về đơn hàng và chi phí sản xuất, khiến một số doanh nghiệp thu hẹp quy mô hoặc hạn chế đầu tư mới. + Khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 18.563,8 tỷ đồng, tăng 9,08% so với năm trước. Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng cao và được nâng dần qua các quý (quý I: 3.149,9 tỷ đồng; quý II: 4.286,3 tỷ đồng; quý III: 5.129,4 tỷ đồng; quý IV: 5.998,2 tỷ đồng). Nhiều dự án quy mô lớn tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị hiện đại, đổi mới dây chuyền sản xuất... được đẩy mạnh thực hiện trong năm, đã góp phần tăng cường thu hút FDI. Đồng thời tỉnh tiếp tục ưu tiên các dự án công nghệ cao, mang lại giá trị gia tăng lớn, tạo tác động lan tỏa và thúc đẩy chuỗi cung ứng toàn cầu. - Tình hình thu hút đầu tư: Năm 2024, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng kết quả thu hút đầu tư FDI của tỉnh vượt kế hoạch đề ra. Tính đến tháng 12/2024, tỉnh đã thu hút được 80 dự án FDI, bao gồm 37 dự án cấp mới và 43 dự án điều chỉnh vốn, với tổng vốn đăng ký đạt 636,1 triệu USD; tăng 2,56% về số dự án và tăng 5,27% về vốn đăng ký so với cùng kỳ, vượt 59,02% so với kế hoạch năm (400 triệu USD). Các dự án tỉnh đã thu hút, cấp mới và tăng vốn là các dự án công nghệ, có giá trị gia tăng lớn, sử dụng lao động chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh, tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị về điện tử, ô tô, xe máy theo đúng định hướng của tỉnh. Các chương trình xúc tiến đầu tư không chỉ tập trung vào thị trường truyền thống như: Nhật Bản, Hàn Quốc mà chuyển hướng sang một số thị trường tiềm năng ở châu Âu, Mỹ, Úc hay xu hướng đón đầu sự dịch chuyển của nhà đầu tư từ Trung Quốc, Đài Loan thuộc các chuỗi cung ứng, các nước đối tác là thành viên của Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Vốn DDI thu hút được 30 dự án (17 dự án cấp mới, 13 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 5.303,6 tỷ đồng, bằng 96,43% kế hoạch giao đầu năm (5.500 tỷ đồng). 5. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa Năm 2024, hoạt động xuất nhập khẩu tại tỉnh Vĩnh Phúc ghi nhận tốc độ tăng trưởng mạnh trong nửa đầu năm nhờ nhu cầu thị trường cao và sự phục hồi kinh tế, sau đó duy trì mức ổn định vào những tháng cuối năm. Theo số liệu báo cáo của Chi cục Hải quan tỉnh Vĩnh Phúc[1], kim ngạch xuất khẩu tính đến 15/12/2024 đạt 17.571 triệu USD, tăng 7,89% so với cùng kỳ (tính đến 15/6/2024 tăng 28,6%). Trong đó: Nhóm hàng điện tử và linh kiện điện tử chiếm tỷ trọng lớn nhất (56,01%) mức tăng 16,30% so với cùng kỳ năm trước; nhóm máy móc, thiết bị và phụ tùng (chiếm 20,64%) tăng 11,44%; nhóm xe máy nguyên chiếc, linh kiện, phụ tùng xe máy (chiếm 5,61%) tăng 0,88%... Kim ngạch nhập khẩu đạt tốc độ tăng trưởng mạnh hơn xuất khẩu, phản ánh sự chuẩn bị của các doanh nghiệp cho kế hoạch sản xuất và xuất khẩu trong năm 2025. Kim ngạch nhập khẩu đạt 18.558 triệu USD, tăng 20,13% so với cùng kỳ (tính đến 15/6/2024 tăng 30%). Trong đó: Nhóm hàng điện tử và linh kiện điện tử tăng 32,83% so với cùng kỳ, chiếm 61,37% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa; nhóm hàng máy móc, thiết bị và phụ tùng tăng 21,83% (chiếm 14,92%). 6. Chỉ số giá 6.1. Chỉ số giá tiêu dùng: Tháng 12/2024, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tăng 0,08% so với tháng trước, tăng 0,88% so với cùng tháng 12/2023, do điều chỉnh giá điện sinh hoạt, giá xăng dầu và giá một số mặt hàng thiết yếu. So với tháng trước, CPI tháng 12/2024 tăng 0,08%. trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 7 nhóm hàng tăng giá và 4 nhóm giảm giá: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,27%, đóng góp mức giảm 0,09 điểm phần trăm vào CPI chung; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,29%, chủ yếu do giá điện sinh hoạt tăng 1,23%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,21%, chủ yếu do nhu cầu mua sắm mùa đông tăng cao; Nhóm giao thông tăng 0,36% do giá xăng dầu điều chỉnh tăng 1,23%. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 12/2024 tăng 0,88% so với tháng 12/2023. Các nhóm hàng có mức tăng cao nhất gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,73%, đóng góp 1,58 điểm phần trăm vào CPI chung, trong đó giá gạo tăng 6,18%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,34%, chủ yếu do giá điện sinh hoạt và giá gas tăng. Bình quân cả năm 2024, CPI tăng 2,61% so với cùng kỳ năm trước. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến mức tăng này gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,47%, đóng góp 1,49 điểm phần trăm vào CPI chung; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,62%, đóng góp 0,53 điểm phần trăm vào CPI chung; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,58%, đóng góp 0,40 điểm phần trăm vào CPI chung; Nhóm giáo dục tăng 3,21%, đóng góp 0,21 điểm phần trăm vào CPI chung; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,27%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm vào CPI chung. - Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 12/2024, chỉ số giá vàng giảm 1,38% so với tháng trước, tăng 34,32% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm 2024, chỉ số giá vàng tăng 32,82%. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,01% so với tháng trước, tăng 4,96% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân cả năm, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 5,57%. 6.2. Chỉ số giá sản xuất - Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý IV/2024 giảm 0,77% so với quý trước và tăng 11,43% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm sản phẩm cây hàng năm tăng 2,59%, trong đó rau, đậu và hoa tăng 4,00% do ảnh hưởng từ thời tiết xấu khiến nguồn cung khan hiếm. Chỉ số giá sản phẩm chăn nuôi giảm 2,55%, riêng giá lợn giống và lợn thịt giảm 2,67% do nguồn cung dồi dào sau khi tái đàn. Nhóm sản phẩm từ cây lâu năm tăng 2,66% do sản lượng thấp đầu vụ. Tính chung cả năm 2024, chỉ số giá tăng 11,84% so với năm 2023. - Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý IV/2024 tăng 0,26% so với quý trước nhưng giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV tăng nhẹ 0,27%, với các ngành có mức tăng như trang phục (+7,55%), giấy (+2,98%), và các thiết bị điện tăng 3,03%. Tuy nhiên, một số ngành giảm mạnh như sản phẩm từ khoáng phi kim loại (-7,53%) và thực phẩm chế biến (-2,66%) do nhu cầu tiêu thụ giảm. Nhóm điện, khí đốt tăng 1,24% trong quý IV và 5,29% trong cả năm do nhu cầu sử dụng tăng cao và giá điện điều chỉnh tăng từ tháng 10/2024. Nhóm nước tự nhiên khai thác và xử lý chất thải giảm 2,36% trong quý IV nhưng tăng 3,94% cả năm do chi phí nhân công và vật liệu tăng. Tính chung năm 2024, chỉ số giá giảm 0,77%. 6.3. Chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất Trong quý IV và cả năm 2024, thị trường hàng hóa và dịch vụ phục vụ sản xuất tiếp tục chịu ảnh hưởng của biến động giá cả hàng hóa và dịch vụ thế giới. Nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản ghi nhận sự ổn định với chỉ số giá quý IV giảm 0,77% so với quý trước, nhưng tăng 11,72% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm, chỉ số giá tăng 10,68%. Đáng chú ý, nhóm sản phẩm rau, đậu và hoa tăng mạnh 4,00% do thời tiết xấu ảnh hưởng đến nguồn cung, trong khi giá lợn giống giảm 2,67% nhờ nguồn cung ổn định sau tái đàn. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có xu hướng ổn định hơn trong quý IV, với chỉ số giá tăng nhẹ 0,35% so với quý trước nhưng giảm 0,12% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm, chỉ số giá giảm 0,81%, với các nhóm sản phẩm như trang phục tăng 0,59%, trong khi sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 7,53% do lượng hàng tồn kho lớn và nhu cầu thị trường giảm. Ngành xây dựng ghi nhận diễn biến trái chiều trong quý IV, với chỉ số giá tăng 0,98% so với quý trước và tăng 2,76% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm, chỉ số giá tăng 1,90% nhờ nhu cầu sử dụng dây điện, thiết bị điện và các sản phẩm xây dựng khác tăng trưởng, mặc dù thị trường chịu ảnh hưởng từ thời tiết xấu và biến động nguyên liệu đầu vào. III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm. Năm 2024, cùng với sự phục hồi và phát triển kinh tế, thị trường lao động việc làm có nhiều khởi sắc; các chính sách hỗ trợ, giải quyết việc làm được thực hiện theo hướng linh hoạt, hiệu quả; chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo... tiếp tục được quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng, góp phần ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Lực lượng lao động, lao động có việc làm: Trong quý IV năm 2024, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh ước đạt 618,77 nghìn người, tăng 0,05% so với quý trước tăng 0,19% so với cùng kỳ năm 2023. Xét theo cơ cấu, lao động khu vực thành thị chiếm 32,9% (202,7 nghìn người) và nông thôn chiếm 67,23% (416 nghìn người). Theo giới tính, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên nam giới chiếm 51,41% (318,1 nghìn người), nữ giới chiếm 48,59% (300,6 nghìn người). Số lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trên toàn tỉnh ước tính Quý IV năm 2024 là 605,6 nghìn người, tăng 3,78 % so với Quý trước, chiếm 97,87% lực lượng lao động. Số lao động đang làm việc khu vực thành thị ước quý IV năm 2024 là 197,7 nghìn người, khu vực nông thôn 407,9 nghìn người. Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là nam giới 309,6 nghìn người, nữ giới 296,0 nghìn người. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ước tính là 1,74%, giảm 0,02% so với cùng kỳ năm trước. Theo kết quả khảo sát các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, có 22,6% doanh nghiệp đánh giá có số lao động quý IV tăng so với quý III; 52,9% doanh nghiệp có số lao động giữ ở mức ổn định và 24,5% doanh nghiệp có số lao động giảm. Giải quyết việc làm: Năm 2024, ước tính toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 23.083 lao động, tăng 11,3% so với năm 2023; vượt 35,8 % kế hoạch năm. Trong đó: Giải quyết việc làm trong nước cho 21.699 người, tăng 16,9% so với năm 2023; tạo việc làm mới cho 4.428 lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, thủy sản; 11.190 lao động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng; 6.081lao động lĩnh vực thương mại - dịch vụ. Đưa 1.384 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. 2. An sinh xã hộiHỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội: Năm 2024, công tác trợ giúp xã hội và bảo vệ trẻ em đạt nhiều kết quả quan trọng. Chính sách trợ giúp xã hội mở rộng đối tượng, tăng mức hưởng, thực hiện hiệu quả. Hệ thống cơ sở trợ giúp đồng bộ, tạo lưới an toàn xã hội bao phủ nhiều đối tượng. Công tác bảo vệ, giáo dục trẻ em chuyển biến tích cực, đảm bảo quyền sống, học tập, vui chơi, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần cho trẻ em. Năm 2024, toàn tỉnh có trên 44 nghìn người đang hưởng trợ cấp xã hội tại cộng đồng. Số tiền trợ cấp trong năm cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo nghị định 20/2021/NĐCP là 346.103,6 triệu đồng (trong đó, trợ cấp hàng tháng là 345.310 triệu đồng, trợ cấp đột xuất là 793,6 triệu đồng). Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội: Công tác giảm nghèo tiếp tục được triển khai đồng bộ, kịp thời. Năm 2024, toàn tỉnh đã chi 62.435,1 triệu đồng hỗ trợ các hộ nghèo, cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn (trong đó: trợ cấp hàng tháng: 16.903,9 triệu đồng, trợ cấp đột xuất: 45.531,2 triệu đồng). Kết quả cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách tính đến đầu tháng 12/2024 như sau: Số đối tượng hiện đang được vay vốn là 112.079 khách hàng với tổng số dư nợ 5.048.265,81 triệu đồng. Trong đó, đối tượng hộ nghèo hiện được vay vốn ưu đãi theo Nghị định 78/2002 là 2.495 hộ, số dư nợ 180.826,71 triệu đồng; cho vay đối với hộ cận nghèo theo Quyết định 15/2013 là 4.969 hộ, số dư nợ 366.739,9 triệu đồng; cho vay hộ dân tộc thiểu số theo Quyết định 2085/2016 là 52 hộ, số dư nợ 3.286,7 triệu đồng. Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Tỉnh thực hiện tốt việc giải quyết chế độ chính sách đối với người có công và thân nhân người có công theo đúng quy trình về thủ tục hành chính. Hiện nay, tổng số đối tượng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng trên địa bàn tỉnh là trên 17 nghìn người; cả năm 2024, số tiền trợ cấp trong cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng là 534.419 triệu đồng (trong đó, trợ cấp hàng tháng: 474.621,5 triệu đồng, trợ cấp đột xuất: 59.797,5 triệu đồng). 3. Giáo dục, đào tạo Năm 2024, các cơ chế, chính sách đầu tư cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm, chỉ đạo hoàn thiện. Kỳ họp thứ 18 HĐND tỉnh Vĩnh Phúc khóa XVII đã thông qua nghị quyết hỗ trợ toàn bộ học phí cho trẻ mầm non đến học sinh THPT trong năm học 2024-2025, áp dụng cho cả cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập. Chính sách này không chỉ thể hiện sự quan tâm của tỉnh đối với an sinh xã hội, mà còn thúc đẩy ngành giáo dục và đào tạo phát triển theo hướng nhân văn và bền vững. Chất lượng giáo dục phổ thông và giáo dục mũi nhọn của tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục được nâng cao. Trong hai năm học liên tiếp, tỉnh dẫn đầu cả nước về điểm trung bình kỳ thi tốt nghiệp THPT. Năm học 2023-2024, tỷ lệ học sinh đạt giải kỳ thi học sinh giỏi quốc gia đạt 90,82%, mở rộng đối tượng học sinh có thành tích cao. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục cùng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học được đầu tư, đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập. Công tác đào tạo nghề cũng có nhiều chuyển biến tích cực, đáp ứng nhu cầu học nghề của người dân và yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Tỉnh chú trọng đào tạo ngành nghề chất lượng cao, đa dạng hóa lĩnh vực đào tạo. Trong năm, tổng số tuyển mới đạt 27.710 người, bao gồm 2.080 ở trình độ cao đẳng, 8.377 trung cấp, và 17.253 sơ cấp hoặc đào tạo ngắn hạn. Đặc biệt, đào tạo nghề cho lao động nông thôn và tuyển sinh theo đơn đặt hàng được triển khai hiệu quả, tạo cơ hội việc làm ổn định cho người lao động. 3. Y tế Năm 2024, hệ thống y tế trên địa bàn tỉnh tiếp tục được nâng cấp và phát triển, góp phần cải thiện chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh cho người dân. Nhiều bệnh viện và đơn vị y tế triển khai các kỹ thuật mới, trong đó một số bệnh viện tuyến tỉnh đã thực hiện kỹ thuật vượt tuyến và chuyên sâu. Việc cung ứng thuốc và vật tư y tế được đảm bảo, chất lượng thuốc được chú trọng. Các chỉ tiêu trong lĩnh vực y tế đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, cụ thể: tỷ lệ bác sĩ/vạn dân đạt 16,9 (so với kế hoạch 15 bác sĩ/vạn dân); tỷ lệ giường bệnh/vạn dân đạt 43,6 (so với kế hoạch 40 giường/vạn dân). Tình hình dịch bệnh truyền nhiễm cơ bản ổn định, số ca mắc hầu hết giảm so với năm 2023. Đặc biệt, các bệnh như nhiễm vi rút Adeno, cúm, sốt xuất huyết, thủy đậu, tiêu chảy, tay chân miệng và Covid-19 đều ghi nhận sự giảm đáng kể về số ca mắc. Công tác phòng chống ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm được triển khai chủ động, thường xuyên tại các tuyến thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, truyền thông, tập huấn và giám sát nguy cơ ô nhiễm. Từ đầu năm đến nay, tỉnh ghi nhận 04 vụ ngộ độc thực phẩm (03 vụ ở Vĩnh Yên vào tháng 5, 01 vụ ở Lập Thạch vào tháng 7), với 456 người mắc, không có ca tử vong. Nguyên nhân được xác định: 03 vụ do vi sinh vật trong thực phẩm chế biến hỗn hợp và 01 vụ do độc tố từ thịt cóc. Các đơn vị chuyên môn đã kịp thời triển khai biện pháp xử lý nhằm giảm thiểu tác hại của ngộ độc thực phẩm đối với cộng đồng. 4. Văn hóa, thể thao Trong năm 2024, tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức nhiều hoạt động văn hóa chào mừng các ngày lễ lớn và sự kiện quan trọng của đất nước, tỉnh. Công tác xây dựng “Làng văn hóa kiểu mẫu” được triển khai hiệu quả, các khu thiết chế văn hóa thể thao đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt, vui chơi của Nhân dân, góp phần nâng cao đời sống tinh thần. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục nhận được sự hưởng ứng tích cực. Trong năm, ngành Văn hóa, Thể thao đã dàn dựng 13 chương trình nghệ thuật mới và tổ chức 250 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, cộng đồng. Phong trào tập luyện và thi đấu thể thao phát triển mạnh mẽ, thu hút đông đảo quần chúng tham gia, góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng nguồn nhân lực. Tỉnh đã tổ chức thành công các sự kiện như Lễ phát động Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân 2024, Ngày Olympic trẻ em, và các giải thể thao quần chúng. Đặc biệt, Vĩnh Phúc đăng cai giải vô địch CLB vật cổ điển và vật tự do quốc gia năm 2024. Năm 2024, các vận động viên của tỉnh tham gia 39 giải thể thao quốc gia, quốc tế, đạt 246 huy chương (tăng 32,9%), gồm 89 huy chương Vàng, 60 huy chương Bạc, 97 huy chương Đồng. Đội bóng chuyền nữ xuất sắc vào vòng chung kết giải Bóng chuyền hạng A quốc gia năm 2024. 5. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy, nổ Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Năm 2024, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 808 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội làm chết 21 người, bị thương 190 người, thiệt hại tài sản 93,11 tỷ đồng, đã điều tra làm rõ 701 vụ (đạt 86,8%) với 1.446 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 10,3 tỷ đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/12/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 313 vụ tai nạn giao thông (310 vụ tai nạn đường bộ, 03 vụ tai nạn đường sắt) làm 141 người chết, 240 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn không tăng, không giảm, giảm 17 người chết, giảm 20 người bị thương. Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/12/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 134 vụ cháy, nổ (trong đó, 133 vụ cháy và 01 vụ nổ), làm chết 03 người và 10 người bị thương với số tiền thiệt hại trên 2.822,84 triệu đồng và 20,8 ha rừng. 6. Tình hình thiệt hại thiên tai và công tác bảo vệ môi trường Tình hình thiên tai: Trong năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ thiên tai, làm chết 06 người; bị thương 03 người; sập 27 nhà, 493 nhà bị hư hại từ 30% trở lên; ngập úng 10.162,7 ha lúa, 3.479,75 ha hoa màu; 562 con gia súc, 73.475 con gia cầm bị chết và lũ cuốn trôi. Tổng số tiền thiệt hại trên 857.328,96 triệu đồng (Riêng cơn bão số 3 đã gây thiệt hại trên 705.178 triệu đồng). Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/12/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 798 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 752 vụ với số tiền xử phạt là 8.432,29 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 435 vụ; số vụ xử lý tăng 389 vụ; số tiền xử phạt tăng 5.340,9 triệu đồng. Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp