Bức tranh kinh tế – xã hội tỉnh Phú Thọ năm 2025
- 03/01/2026 08:57
Năm 2025, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro do căng thẳng địa chính trị, lạm phát kéo dài và tăng trưởng toàn cầu có xu hướng chậm lại; trong nước đồng thời triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Phú Thọ vẫn duy trì được sự ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực trong phát triển kinh tế – xã hội.1. Tăng trưởng và cơ cấu kinh tếTổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025 theo giá so sánh năm 2010 ước tăng 10,52% so với năm 2024; thuộc nhóm tăng trưởng cao của cả nước và đứng đầu vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Trong đó, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 16,13% so với năm 2024, đóng góp 7,72 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Quy mô GRDP theo giá hiện hành ước đạt 412,4 nghìn tỷ đồng, tăng 55,5 nghìn tỷ đồng so với năm 2024. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa; tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm 48,8%, riêng công nghiệp chiếm 42,3% GRDP.2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông nghiệp năm 2025 nhìn chung ổn định, lâm nghiệp và thủy sản tăng khá so với năm 2024.Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 303,6 nghìn ha, giảm 0,7% so với năm 2024; trong đó diện tích lúa đạt 147,2 nghìn ha, giảm 0,9%; diện tích ngô đạt 55,9 nghìn ha, giảm 0,9%.Sản lượng lương thực có hạt đạt 1.138,9 nghìn tấn, tăng 2,5% so với năm 2024; trong đó thóc đạt 863,9 nghìn tấn (+2,7%), ngô đạt 275 nghìn tấn (+2,1%).Tổng đàn vật nuôi tại thời điểm 31/12/2025: trâu 162,1 nghìn con (-2,3% so với 31/12/2024); bò 247,2 nghìn con (-2,5%); lợn 1.557,2 nghìn con (-5,1%); gia cầm 37,6 triệu con (+3,9%).Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 471 nghìn tấn, tăng 1,1% so với năm 2024.Sản lượng thủy sản đạt 83,4 nghìn tấn, tăng 4,7% so với năm 2024.Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 19,9 nghìn ha, tăng 1,7% so với năm 2024; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.666,1 nghìn m³, tăng 9,8%.3. Sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2025 tăng 26,4% so với năm 2024. Trong đó: khai khoáng tăng 29,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 27,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 23,9%.Một số sản phẩm chủ lực tăng mạnh so với năm 2024: máy tính xách tay tăng 74,9%; xi măng tăng 36,1%; sắt thép tăng 35,5%; máy điều hòa không khí tăng 31,1%. Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp bình quân năm tăng 3,22% so với năm 2024.4. Thương mại, dịch vụ và vận tảiTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 đạt 198.940,2 tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2024.Doanh thu bán lẻ đạt 156.612 tỷ đồng, tăng 16,3%.Doanh thu lưu trú, ăn uống đạt 19.434,1 tỷ đồng, tăng 18,5%.Doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 984,1 tỷ đồng, tăng 37,3%.Hoạt động vận tải tăng khá so với năm 2024: vận chuyển hành khách đạt 73,6 triệu lượt, tăng 18,1%; luân chuyển đạt 4.310,6 triệu lượt.km, tăng 20,6%. Vận chuyển hàng hóa đạt 119,5 triệu tấn, tăng 6,3%; luân chuyển đạt 11.965,4 triệu tấn.km, tăng 5,2%.5. Ổn định kinh tế vĩ mô, tài chính – ngân sách và đầu tưChỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 tăng 2,84% so với năm 2024; CPI tháng 12/2025 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 3,0% so với tháng 12/2024.Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 58.501 tỷ đồng, tăng 24,5% so với năm 2024; chi ngân sách đạt 89.417 tỷ đồng, tăng 35%.Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện đạt 151,6 nghìn tỷ đồng, tăng 16,4% so với năm 2024; trong đó vốn ngoài Nhà nước tăng 12,6%, vốn FDI tăng 22,4%, vốn Nhà nước tăng 19,4%. Thu hút FDI đạt 57 dự án mới với tổng vốn đăng ký 749,4 triệu USD, tăng 57,8% so với năm 2024.6. Lĩnh vực xã hộiNăm 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 61.842 người, đạt 120,2% kế hoạch năm và tăng so với năm 2024. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT đạt 99,72%, xếp thứ 5/34 tỉnh, thành phố.Về y tế, đến hết tháng 11/2025 ghi nhận 983 trường hợp sốt phát ban nghi sởi (tăng so với cùng kỳ 2024), 232 trường hợp sốt xuất huyết (giảm so với cùng kỳ). Tai nạn giao thông trong kỳ ghi nhận 758 vụ, 408 người chết và 553 người bị thương, đều giảm so với cùng kỳ năm trước.Kết luậnBức tranh kinh tế – xã hội tỉnh Phú Thọ năm 2025 cho thấy xu hướng ổn định vĩ mô, tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực và an sinh xã hội được bảo đảm, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tiếp theo.
LUẬT THỐNG KÊ SỬA ĐỔI 2025: BƯỚC NGOẶT TRONG CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ TINH GỌN BỘ MÁY THỐNG KÊ NHÀ NƯỚC
- 24/12/2025 08:58
Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, sửa đổi 35 điều và bổ sung 02 điều mới nhằm hiện đại hóa hoạt động thống kê, đáp ứng yêu cầu quản lý trong kỷ nguyên số.1. Nội dung sửa đổi, hoàn thiện chính của LuậtLuật tập trung vào 04 nhóm nội dung cốt lõi nhằm kiện toàn hệ thống thống kê quốc gia:• Sắp xếp bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp: Luật điều chỉnh tên gọi các cơ quan để bảo đảm tính thống nhất với thực tiễn. Đáng chú ý, cụm từ “cấp huyện” được thay thế bằng “cấp xã” hoặc “cơ sở”; đồng thời chuyển đổi thẩm quyền từ “Bộ Kế hoạch và Đầu tư” sang “Bộ Tài chính” tại một số điều khoản để phù hợp với sự phân công mới của bộ máy nhà nước. Hệ thống thông tin thống kê cũng được chuyển đổi từ cấp huyện sang cấp xã để phù hợp với mô hình chính quyền 02 cấp.• Chuyển đổi từ “Thanh tra” sang “Kiểm tra”: Để thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy thanh tra, hoạt động “Thanh tra chuyên ngành thống kê” được đổi tên thành “Kiểm tra chuyên ngành thống kê”, phù hợp với Luật Thanh tra năm 2025.• Cải cách chuyên môn, nghiệp vụ: Luật rút ngắn thời hạn thẩm định các hệ thống chỉ tiêu và phương án điều tra từ 20 ngày xuống còn 10 ngày (trường hợp phức tạp không quá 20 ngày), giúp đẩy nhanh quá trình ra quyết định và nâng cao tính kịp thời của thông tin. Đồng thời, bổ sung các quy định về quyền và nghĩa vụ của điều tra viên để thích ứng với hình thức thu thập dữ liệu qua Webform.• Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số: Luật bổ sung quy định về Cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia, tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu dùng chung trong toàn hệ thống.2. Những điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng nhấtLuật sửa đổi 2025 mang đến 06 thay đổi mang tính đột phá mà người dân và cán bộ thống kê cần lưu ý:1. Hệ thống thông tin thông suốt 03 cấp: Hình thành dòng chảy thông tin đồng bộ từ Trung ương đến cấp xã; từ các Bộ, ngành đến Bộ Tài chính và từ các Sở, ngành địa phương đến Cục Thống kê tỉnh.2. Mở rộng chế độ báo cáo thống kê: Bổ sung chế độ báo cáo bộ, ngành để thu thập thông tin đa lĩnh vực, đa vùng. Đặc biệt, Chế độ báo cáo thống kê cấp tỉnh, cấp xã lần đầu tiên được quy định chính thức để phục vụ trực tiếp công tác điều hành tại địa phương.3. Tăng cường phân cấp, phân quyền: Luật đẩy mạnh phân quyền cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Thủ trưởng cơ quan thống kê trung ương trong việc quyết định các cuộc điều tra thống kê, giúp tăng tính chủ động cho các đơn vị.4. Thiết lập Cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia: Đây là nền tảng để xây dựng Chính phủ số, giúp kết nối và liên thông dữ liệu nhà nước. Việc khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu này sẽ giúp giảm bớt các cuộc điều tra thống kê mới, từ đó tiết kiệm ngân sách và giảm phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.5. Cập nhật hệ thống tư pháp: Bổ sung Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cấp khu vực vào hệ thống thống kê để thống nhất với Luật Tổ chức Tòa án và Viện kiểm sát mới.6. Hiện đại hóa phương thức thu thập: Thể chế hóa hình thức thu thập thông tin qua mạng (Webform), thay đổi cách tiếp cận truyền thống để phù hợp với xu thế công nghệ hiện nay.Luật Thống kê sửa đổi 2025 không chỉ là một văn bản pháp lý mà còn là "lộ trình" để ngành Thống kê chuyển mình. Việc tinh gọn từ "cấp huyện" xuống "cấp xã" và ưu tiên dữ liệu số giúp hệ thống thống kê trở nên nhạy bén hơn, trở thành "tai mắt" tin cậy cho công tác quản lý và điều hành phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Phòng Thống kê Tổng hợp - Thống kê tỉnh Phú Thọ
Chỉ số giá tiêu dùng và phương pháp đo lường tại Việt Nam
- 22/12/2025 09:58
Về khái niệm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ tiêu thống kê phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá chung qua thời gian của các loại hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng hàng ngày của người dân. Đây là các hàng hóa phục vụ tiêu dùng hàng ngày của người dân không bao gồm giá bán hàng hóa bất hợp pháp như ma túy, hàng hóa chợ đen, giá đất và hàng hóa bán cho sản xuất.Tại Việt Nam, CPI được Cục Thống kê tính toán và công bố từ năm 1998 dựa trên các hướng dẫn chuẩn quốc tế và dưới sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế đặc biệt là Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Phương pháp tính CPI tuân thủ chặt chẽ theo thông lệ thống kê quốc tế để đảm bảo tính so sánh giữa Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới.Để biên soạn chỉ tiêu CPI, có ba công việc trọng tâm như sau:Một là, Cục Thống kê xây dựng Danh mục hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng phổ biến của người dân, còn được gọi là “rổ” hàng hóa. Giai đoạn 2020-2025 “rổ” hàng hóa gồm 752 mặt hàng được sắp xếp theo cấu trúc chỉ số, được mô tả chi tiết về quy cách, phẩm cấp, nhãn mác cụ thể.Căn cứ vào Danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện của cả nước, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng danh mục riêng để thu thập giá cho địa phương. Do mỗi địa phương có mức sống và tập quán tiêu dùng khác nhau nên trừ một số mặt hàng phải thống nhất quy cách, phẩm cấp trên phạm vi cả nước đã được đưa ra trong Danh mục chuẩn, những mặt hàng và dịch vụ còn lại được chọn theo đặc điểm tiêu dùng của địa phương. Sau khi xây dựng xong Danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện, mỗi địa phương xây dựng một mạng lưới điều tra giá riêng biệt. Mạng lưới điều tra giá bao gồm các khu vực điều tra là các chợ, trung tâm thương mại, các siêu thị bán lẻ… có hoạt động buôn bán, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ để tiến hành điều tra thu thập giá. Số lượng khu vực điều tra căn cứ vào quy mô hành chính, địa lý, dân số của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tại mỗi khu vực điều tra có các điểm điều tra là các sạp hàng, quầy hàng, điểm bán hàng chuyên bán lẻ, cơ sở kinh doanh dịch vụ, đơn vị sự nghiệp, trường học, cơ sở khám chữa bệnh…Hai là, xác định cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình tương ứng với các nhóm trong Danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện-hay còn gọi là quyền số. Để tính quyền số phục vụ tính chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ 2020-2025, Cục Thống kê đã thực hiện thu thập thông tin tính quyền số chỉ số giá tiêu dùng từ cuộc “Khảo sát mức sống dân cư và Điều tra quyền số chỉ số giá tiêu dùng năm 2018” tại các địa phương trong 4 kỳ điều tra nhằm loại trừ yếu tố mùa vụ. Nội dung của cuộc Khảo sát này nhằm thu thập thông tin chi tiêu của hộ dân cư về các loại hàng hóa và dịch vụ phục vụ cuộc sống hàng ngày của người dân.Tỷ trọng các nhóm hàn hóa và dịch vụ trong CPI giai đoạn 2020-2025Ba là, hằng tháng, tất cả các địa phương tiến hành thu thập giá các mặt hàng thuộc Danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện từ ngày 01 đến ngày 21 hàng tháng với tổng cộng khoảng 40.000 điểm thu thập giá cố định trên cả nước. Đây là hệ thống điều tra giá lớn, phủ rộng và ổn định, đảm bảo dữ liệu thu thập có tính đại diện cao.Toàn bộ quá trình điều tra giá tiêu dùng được thực hiện bằng thiết bị điện tử CAPI tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giúp nâng cao chất lượng và minh bạch số liệu, rút ngắn thời gian xử lý và từng bước hội nhập với chuẩn thống kê quốc tế.Theo định kỳ, 5 năm/lần TCTK sẽ tiến hành chuyển đổi năm gốc, rà soát cập nhật danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện, cập nhật mạng lưới điều tra, quyền số tính chỉ số giá tiêu dùng. Năm 2025, TCTK sẽ thực hiện chuyển đổi từ năm gốc 2019 sang năm gốc 2024.Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, tại Việt Nam CPI được công bố hàng tháng theo các gốc so sánh khác nhau. Mỗi gốc so sánh có ý nghĩa và phản ánh sự biến động giá tiêu dùng theo các góc độ khác nhau và đáp ứng nhiều mục đích sử dụng thống kê. Các gốc so sánh chủ yếu bao gồm:(1) So với năm gốc cố định: Chỉ tiêu này phản ánh xu hướng và mức độ trượt giá trong thời gian dài, phục vụ nghiên cứu biến động giá qua nhiều năm. Đây là thước đo quan trọng để đánh giá sự thay đổi mặt bằng giá qua các chu kỳ kinh tế.(2) So với cùng kỳ năm trước: Phản ánh mức độ biến động giá sau một năm. Từ chuỗi số liệu CPI tháng so với cùng kỳ năm trước, cơ quan thống kê có thể tính được CPI bình quân theo từng quãng thời gian trong năm như theo quý hoặc theo 2, 4, 5, 6, 7 tháng…, cũng như CPI bình quân cả năm so với năm trước.(3) So với tháng 12 năm trước: Phản ánh mức độ trượt giá lũy kế từng tháng trong năm, giúp đánh giá xu hướng biến động giá qua từng tháng trong năm một cách liên tục.(4) So với tháng trước: Phản ánh biến động giá trong ngắn hạn, cho thấy thị trường trong tháng biến động hay ổn định. Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá các cú sốc giá, yếu tố mùa vụ hoặc các tác động chính sách tức thời.(5) So với bình quân cùng kỳ năm trước: Phản ánh mức độ biến động giá bình quân của các tháng trong năm hiện hành so với bình quân các tháng của năm trước. Chỉ tiêu này giúp đánh giá xu hướng giá trong cả năm nhưng ở góc độ bình quân, ít chịu biến động theo tháng.Theo thông lệ quốc tế, các nước đều sử dụng CPI bình quân năm so với năm trước làm thước đo lạm phát cả năm của nền kinh tế và điều hành các chính sách tiền tệ, lãi suất, tiền lương.CPI là chỉ tiêu quan trọng phản ánh mặt bằng giá cả của nền kinh tế, có tác động trực tiếp đến đời sống người dân và công tác điều hành của Nhà nước. Việc đo lường CPI theo chuẩn mực thống kê quốc tế, trên cơ sở dữ liệu đầy đủ và minh bạch, góp phần quan trọng vào việc đánh giá đúng diễn biến thị trường, kiểm soát lạm phát và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô./.Nguồn: Cục Thống kê
Hiểu hơn về GDP và GRDP
- 22/12/2025 09:51
Mỗi kỳ công bố số liệu kinh tế – xã hội, các chỉ tiêu GDP và GRDP luôn nhận được sự quan tâm lớn từ cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Được xem là thước đo sức khỏe nền kinh tế, các con số này giúp phác họa bức tranh sản xuất và định hướng đầu tư hiệu quả. Để đảm bảo tính chính xác, quy trình biên soạn GDP và GRDP phải tuân thủ hệ thống phương pháp luận khoa học cùng các quy định thống kê hiện hành.GDP và GRDP là tổng giá trị tăng thêm theo ngành kinh tế, tức là đo lường kết quả sản xuất cuối cùng sau khi đã trừ đi chi phí trung gian, chứ không phải doanh thu hay tổng giá trị sản xuất. Việc không nắm vững bản chất chỉ tiêu dễ dẫn đến những đánh giá chưa đầy đủ về tình hình kinh tế. Chẳng hạn, tăng trưởng GDP cao chưa đủ để phản ánh mức sống hay sự giàu có của người dân; hoặc biến động số liệu có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố phi sản xuất như thuế, trợ cấp hay sự thay đổi về giá. Thực tế cho thấy, việc thống nhất cách hiểu đúng và đầy đủ về phương pháp luận của các chỉ tiêu này là điều cần thiết đối với cả nhà hoạch định chính sách lẫn cộng đồng doanh nghiệp để đưa ra các quyết định chính xác.GDP, GRDP là gì và những hoạt động nào được tính vào GDP, GRDP?Về khái niệm, GDP và GRDP là giá trị thị trường của tất cả sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm hoặc một quý); trong đó GDP tính cho phạm vi cả nước, còn GRDP tính cho phạm vi một tỉnh, thành phố.Nguyên tắc quan trọng nhất của chỉ tiêu này là không tính trùng. Do đó, giá trị của các yếu tố đầu vào (chi phí trung gian) đã được sử dụng trong quá trình sản xuất sẽ bị loại trừ. Ví dụ: Nếu một doanh nghiệp bán sản phẩm với giá 100 nghìn đồng, nhưng đã chi 80 nghìn đồng để mua nguyên liệu, thì phần đóng góp vào GDP/GRDP chỉ là 20 nghìn đồng. Đây chính là phần giá trị tăng thêm thực tế mà nền kinh tế tạo ra.”.Chỉ những hoạt động thuộc phạm vi sản xuất mới được tính vào GDP, GRDP. Theo đó, các hoạt động sau sẽ được tính vào GDP, GRDP(1) Hoạt động sản xuất thị trường (nghĩa là sản phẩm vật chất và dịch vụ sản xuất ra được mua bán và định giá theo giá thị trường) bao gồm: hoạt động sản xuất, kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp (gồm cả doanh nghiệp FDI cho dù lợi nhuận có thể chuyển về nước hết), của các cơ sở kinh doanh cá thể và đơn vị sự nghiệp trong các ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ(2) Hoạt động sản xuất dùng cho mục đích tự sử dụng cuối cùng. Đây là các hoạt động sản xuất không qua trao đổi thị trường nhưng vẫn tạo ra tài sản hoặc thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cuối cùng, bao gồm: Giá trị nông sản, lâm sản, thủy sản mà hộ gia đình sản xuất ra và giữ lại để tự tiêu dùng (ví dụ: nông dân trồng lúa để ăn); Giá trị dịch vụ nhà ở do các hộ gia đình tự có nhà để ở tạo ra (còn gọi là giá trị cho thuê được quy đổi); hoạt động xây dựng, lắp đặt, chế tạo máy móc, thiết bị mới để sử dụng cho hoạt động sản xuất hoặc tiêu dùng lâu dài của chính đơn vị đó.(3) Hoạt động sản xuất phi thị trường là các hàng hóa và dịch vụ do Nhà nước và các tổ chức không vì lợi phục vụ hộ gia đình (NPISH) cung cấp miễn phí hoặc mức phí tượng trưng nhằm đảm bảo công bằng xã hội và khả năng tiếp cận cho mọi người dân, không nhằm mục đích lợi nhuận. Ví dụ: dịch vụ công công, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính Nhà nước, giáo dục công lập, y tế công lập, v.v.Tuy nhiên, các hoạt động sau KHÔNG thuộc phạm vi sản xuất và không tính vào GDP, GRDP:(1) Hoạt động dịch vụ do thành viên HGĐ tự sản xuất ra (trừ dịch vụ nhà tự có tự ở) như: Dọn dẹp, trang trí và bảo dưỡng nhà ở của hộ dân cư, bao gồm cả sửa chữa nhỏ do người thuê nhà cũng như người trong gia đình sở hữu nhà cho thuê làm; Làm sạch, chăm sóc và sửa chữa các đồ dùng lâu bền hoặc các sản phẩm vật chất khác, bao gồm cả xe cộ phục vụ cho hộ dân cư; Chuẩn bị và dọn bữa ăn; Chăm sóc, dạy dỗ và giáo dục con cái; Chăm sóc người ốm, người tàn tật hoặc người già là thành viên của hộ dân cư; Chuyên chở các thành viên của hộ dân cư hoặc hành lý, của cải của chính họ. Ví dụ: Bố chở con đi học không được tính vào GDP, GRDP nhưng nếu cho con thuê cho hàng xóm lại được tính vào GDP. Người mẹ nấu ăn cho gia đình mình không được tính vào GDP, GRDP nhưng nếu sang nấu thuê cho nhà hàng xong lại được tính vào GDP.(2) Hoạt động kinh tế bất hợp pháp gồm: Sản xuất các sản phẩm vật chất và dịch vụ mà việc bán, phân phối hay sở hữu chúng bị luật pháp nghiêm cấm; Các hoạt động sản xuất hợp pháp nhưng trở thành bất hợp pháp khi người sản xuất không có giấy phép, thí dụ các bác sỹ y khoa hành nghề không có giấy phép… Ở VN, các hoạt động bất hợp pháp như: hoạt động chế biến và phân phối ma túy; hoạt động buôn bán người; hoạt động mại dâm; hoạt động mê tín dị đoan, cho vay nặng lãi, đánh bạc … không thuộc phạm vi sản xuất và không tính vào GDP, GRDP(3) Các khoản chuyển nhượng, chuyển giao thu nhập như Trợ cấp xã hội, lương hưu (trả từ quỹ BHXH), học bổng, phong bì, tiền cho tặng, v.v…; hoặc các khoản thu nhập từ sở hữu tài sản như cổ tức, tiền lãi ngân hàng, lãi trái phiếu, thu cho thuê vùng trời, vùng biển, vùng phủ sóng radio, vệ tinh v.v…Ai là chủ thể tạo ra GDP, GRDP?GDP của Việt Nam phải do các đơn vị thường trú của Việt Nam tạo ra trên lãnh thổ kinh tế quốc gia và GRDP của các tỉnh, thành phố phải do các đơn vị thường trú của tỉnh tạo ra trên lãnh thổ hành chính của tỉnh, thành phố.Lãnh thổ kinh tế của một quốc gia bao gồm:(1) Vùng đất, vùng trời, vùng nước bao gồm các đảo, thềm lục địa nằm trong lãnh hải quốc gia và quốc tế mà quốc gia có quyền bất khả xâm phạm về chủ quyền, về khai thác hải sản và các tài nguyên, khoáng sản, khí đốt,…;(2) Vùng đất đặc quyền ngoại giao ở nước ngoài như: đại sứ quán, lãnh sự quán, khu quân sự, các trạm nghiên cứu khoa học, văn phòng nhập cư, văn phòng ngân hàng trung ương được miễn trừ ngoại giao… với sự thỏa thuận chính thức của Chính phủ nơi đặt trụ sở.Đơn vị thường trú của Việt Nam bao gồm:(1) Tổ chức kinh tế được thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam;(2) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của Việt Nam hoạt động tại Việt Nam;(3) Văn phòng đại diện tại nước ngoài của các tổ chức quy định tại các điểm 1 và 2;(4) Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự, cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế, đại diện quốc phòng, an ninh, trạm nghiên cứu của Việt Nam ở nước ngoài;(5) Công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam; công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thời hạn dưới 12 tháng; công dân Việt Nam làm việc tại các tổ chức quy định tại điểm 3 và điểm 4 và cá nhân đi theo họ;(6) Công dân Việt Nam đi du lịch, học tập, chữa bệnh và thăm viếng ở nước ngoài;(7) Người nước ngoài được phép cư trú tại Việt Nam với thời hạn từ 12 tháng trở lên; trừ trường hợp người nước ngoài học tập, chữa bệnh, du lịch, người nước ngoài làm việc cho cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam không kể thời hạn;(8) Chi nhánh tại Việt Nam của tổ chức kinh tế nước ngoài, các hình thức hiện diện tại Việt Nam của bên nước ngoài tham gia hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, văn phòng điều hành của nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam.Ngoài các đối tượng nêu trên, các đối tượng còn lại là “Đơn vị không thường trú” của Việt Nam.GDP chỉ phù hợp cho phạm vi quốc gia, còn GRDP là trường hợp vận dụng các nguyên tắc tính của quốc gia để áp dụng cho các tỉnh nên có sự khác nhau về khái niệm “lãnh thổ kinh tế” và “lãnh thổ hành chính” giữa GDP và GRDP. Lãnh thổ kinh tế chỉ có ở cấp quốc gia thuộc quản lý của chính quyền trung ương, không có ở cấp tỉnh, thành phố và thường rộng hơn lãnh thổ hành chính. Ngoài ra, xác định đơn vị thường trú ở cấp tỉnh, thành phố cũng chi tiết và phức tạp hơn so với cấp quốc gia vì lúc này ranh giới hành chính tỉnh xuất hiện thay vì ranh giới quốc gia như GDPPhương pháp tính GDP, GRDPGDP có thể được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau; mỗi góc nhìn cho thấy biểu hiện các mặt của GDP.– Từ góc độ sản xuất cho thấy kết quả sản xuất cuối cùng của các ngành kinh tế tạo raGDP = Tổng giá trị tăng thêm + Thuế sản phẩm – Trợ cấp sản phẩm.– Từ góc độ sử dụng (chi tiêu) phản ánh quá trình sử dụng kết quả sản xuất cuối cùng của các ngành kinh tế cho các mục đích tiêu dùng, tích lũy, xuất khẩuGDP = Tiêu dùng cuối cùng + Tích lũy tài sản + Xuất khẩu – Nhập khẩu– Từ góc độ thu nhập phản ánh thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất như lao động, vốn, đất đai, máy mócGDP = Thu nhập lao động + Thuế sản xuất (trừ trợ cấp) + Khấu hao tài sản cố định + Thặng dư sản xuất/thu nhập hỗn hợp.Ở Việt Nam, GDP được biên soạn chủ yếu theo phương pháp sản xuất, phương pháp sử dụng hằng quý, năm; còn phương pháp thu nhập chỉ biên soạn 5 năm/lần. nhưng tần suất công bố khác nhau. GRDP chỉ được biên soạn theo phương pháp sản xuất hằng quý, năm; không đủ thông tin để biên soạn theo phương pháp sử dụngHiểu GDP, GRDP thế nào cho đúng?GDP/GRDP là chỉ tiêu dùng để đo lường kết quả và năng lực sản xuất của nền kinh tế, không phải là thước đo trực tiếp và duy nhất phản ánh mức sống hay phúc lợi xã hội. GDP/GRDP tăng cao chưa chắc đã đi kèm với chất lượng môi trường tốt hơn, phân phối thu nhập công bằng hơn, hoặc mức sống người dân tăng tương ứng.Thu ngân sách cao chưa chắc là hệ quả của tăng trưởng. Thu Ngân sách bao gồm mọi loại thuế, phí và thu từ đất đai. Trong thu ngân sách, trừ thuế sản phẩm được tính vào GDP, còn lại đều KHÔNG được tính vào GDP. Ngoài ra, thu ngân sách luôn có độ trễ do các chính sách thuế như gia hạn nộp thuế, hoãn thuế, hoàn thuế… nên thuế cao chưa hẳn song trùng với sản xuất. Do đó, thu ngân sách cao nhất là thu từ đất đai hoặc từ thuế thu nhập không phản ánh tăng trưởng GDP.Hoạt động du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp được tính vào GDP không chỉ gồm thu từ hoạt động bán vé ở các điểm du lịch mà còn bao gồm các khoản chi tiêu của khách du lịch cho các hoạt động hỗ trợ du lịch như: bán lẻ, vận tải, lưu trú ăn uống, thể thao, vui chơi giải trí v.v… Trong GDP, không có ngành kinh tế du lịch độc lập mà chỉ có hoạt động du lịch lữ hành; các hoạt động phụ trợ du lịch đã được tính theo ngành kinh tế tương ứng.Tóm lại, để GDP và GRDP thực sự có giá trị rất cần sự hiểu biết đúng đắn của công chung về bản chất và các hạn chế của hai chỉ tiêu này. Hiểu đúng sẽ giúp cơ quan nhà nước và địa phương sẽ có cơ sở hoạch định chính sách dựa trên thực lực và đặc thù của từng vùng, tránh chạy theo thành tích. Đồng thời, người dân và doanh nghiệp sẽ tiếp cận thông tin kinh tế một cách khách quan và tỉnh táo, tránh các so sánh phiến diện. Hãy ghi nhớ là: GDP và GRDP là tăng trưởng nhưng không phải là tất cả . GDP và GRDP là thước đo không thể thiếu để đánh giá năng lực sản xuất của nền kinh tế. Tuy nhiên, chúng chỉ là một phần trong bức tranh toàn cảnh về sự phát triển. Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, các nhà hoạch định chính sách phải sử dụng GDP/GRDP một cách thận trọng, kết hợp với các chỉ số về môi trường, xã hội và phúc lợi để đánh giá đúng đắn chất lượng và khả năng bền vững của tăng trưởng. Nguồn: Trang thông tin điện tử Cục Thống kê
Bài 2: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê phù hợp với thực tiễn, xu thế phát triển
- 22/12/2025 09:42
Chiều 10/12, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê, với 440/440 tổng số ĐBQH có mặt tán thành, đạt 100%. TS. Nguyễn Hoàng Đan – Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có những chia sẻ với Tạp chí Kinh tế – Tài chính xoay quanh Luật Thống kê.Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê với 100% đại biểu có mặt tán thànhPhóng viên: Thưa Ông, Luật Thống kê được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 23/11/2015, tại kỳ họp thứ 10. Luật cũng đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2021 nhằm đáp ứng kịp thời các nội dung mới của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030 và nhiều chính sách phát triển mới. Xin Ông cho biết việc thực hiện Luật Thống kê tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường như thế nào. Ông có đánh giá gì về hiệu quả hoạt động thống kê nhà nước trong thời gian qua?TS. Nguyễn Hoàng Đan: Việc triển khai, thực hiện Luật Thống kê tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường có thể nói gọn lại là ngay sau khi Luật Thống kê được Quốc hội thông qua và có hiệu lực, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức thông tin, phổ biến các nội dung của Luật tới các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và trong ngành dưới nhiều hình thức khác nhau; ban hành Kế hoạch thực hiện cụ thể để phân công và chỉ đạo đồng bộ cả hệ thống cơ quan chuyên môn, quản lý và các đơn vị sự nghiệp liên quan thuộc ngành ở Trung ương và địa phương triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao; tích cực, chủ động tổ chức triển khai các nhiệm vụ về thống kê theo quy định của Luật, nổi bật là:TS. Nguyễn Hoàng ĐanPhó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.Tích cực tham gia xây dựng, hoàn thiện pháp luật về thống kê, thời gian qua Bộ Nông nghiệp và môi trường đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) và các Bộ, ngành khác có liên quan tham gia xây dựng, góp ý hoàn thiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật về thống kê; chủ động nghiên cứu xây dựng và ban hành 12 Thông tư và nhiều Quyết định quy định về công tác thống kê ngành nông nghiệp và môi trường, gồm: 7 Thông tư quy định về thống kê nông nghiệp và phát triển nông thôn và 5 Thông tư quy định về thống kê tài nguyên và môi trường, cùng nhiều quyết định của Bộ trưởng.Đẩy mạnh tổ chức thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu thống kê và thực hiện chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia (được giao) và ngành nông nghiệp và môi trường, trong đó đã đẩy mạnh thực hiện chế độ báo cáo và tăng cường điều tra thống kê; tích cực phổ biến thông tin thống kê theo quy định.Đầu tư nâng cấp trang thiết bị, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu thống kê; đổi mới nội dung, hình thức thu thập, tổng hợp số liệu, phát hành ấn phẩm thống kê; đưa vào vận hành hệ thống thông tin thống kê ngành và thực hiện chế độ báo cáo thống kê trực tuyến, hệ thống thư viện điển tử, phát hành Niên giám thống kê ngành hàng năm dưới dạng file điện tử, số hóa…Đến nay, có thể nói Bộ đã cơ bản hoàn thiện cơ sở pháp lý, quy định về công tác thống kê ngành nông nghiệp và môi trường, góp phần tích cực vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thống kê; chất lượng thông tin và hiệu quả công tác thống kê được nâng lên một bước; thông tin thống kê được công bố, chia sẻ đầy đủ, kịp thời, chính xác hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ và ngành.Về hiệu quả hoạt động thống kê nhà nước trong thời gian qua, Tôi cho rằng Luật Thống kê đã đem lại những hiệu quả rõ rệt, tạo ra hành lang pháp lý quan trọng, rõ ràng, đồng bộ cho hoạt động thống kê của Nhà nước, giúp khẳng định vị trí, vai trò của hoạt động thống kê trong công tác quản lý, điều hành kinh tế – xã hội.Qua thực hiện Luật Thống kê, hệ thống chỉ tiêu, chế độ báo cáo, các bảng phân loại và chương trình điều tra thống kê được xây dựng đồng bộ và từng bước được hoàn thiện, làm giảm sự trùng lặp trong thu thập, tổng hợp số liệu thống kê, tiết kiệm chi phí điều tra. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông vào hoạt động thống kê được tăng cường, hạ tầng thống kê được cải thiện giúp khai thác hiệu quả hơn các loại dữ liệu mới (như dữ liệu hành chính, dữ liệu không gian); từng bước nâng cao chất lượng thông tin và hiệu quả công tác thống kê; thông tin thống kê được công bố, chia sẻ đầy đủ, kịp thời, chính xác hơn; đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin phục vụ chỉ đạo điều hành của các cơ quan Nhà nước.Tuy vậy sau 10 năm thực hiện, Luật Thống kê 2015 cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Một số quy định của Luật không còn phù hợp với thực tiễn, xu thế phát triển (khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh) và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành rất đòi hỏi cần có điều chỉnh cho phù hợp. Do vậy, việc sửa đổi Luật Thống kê là rất cần thiết trong giai đoạn đổi mới hiện nay.Phóng viên: Thời gian qua, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê đã được Bộ Tài chính (trực tiếp là Cục Thống kê) xây dựng và hoàn thiện sau khi lấy ý kiến từ các bộ, ngành và các chuyên gia. Ông đánh giá như thế nào về quá trình xây dựng hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê?TS. Nguyễn Hoàng Đan: Với những gì tôi biết, tôi cho rằng quá trình xây dựng, hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê thời gian qua được tiến hành một cách bài bản, chặt chẽ, công phu, tuân thủ đúng các quy định về xây dựng Luật, cụ thể là: Bộ Tài chính (trực tiếp là Cục Thống kê) đã tiến hành tổng kết tình hình thực hiện Luật Thống kê năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều và Phụ lục Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia của Luật Thống kê năm 2021; tổ chức nghiên cứu, rà soát các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác thống kê; tham khảo Luật Thống kê của một số nước tiên tiến trên thế giới; tổ chức nhiều vòng lấy ý kiến đa chiều từ tổ chức hội thảo khoa học để lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Luật; đến đăng tải công khai dự thảo Luật trên các Cổng thông tin điện tử để lấy ý kiến nhân dân và gửi xin ý kiến bằng văn bản tới các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố; sau đó tổng hợp tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý và hoàn thiện dự thảo Luật, gửi Bộ Tư pháp thẩm định. Trên cơ sở ý kiến thẩm định, đã nghiên cứu tiếp thu, giải trình và tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến để hoàn thiện, trình Quốc hội.Phóng viên: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê vừa được Quốc hội thông qua tập trung vào sửa đổi, bổ sung những nội dung để phù hợp hơn với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay, ví dụ như bỏ hệ thống thông tin thống kê cấp huyện, bỏ hệ thống chỉ tiêu cấp huyện thay vào đó là hệ thống thông tin thống kê cấp xã, hệ thống chỉ tiêu cấp xã. Ông đánh giá như thế nào về những nội dung sửa đổi này?TS. Nguyễn Hoàng Đan: Tôi cho rằng, việc sửa đổi Luật Thống kê lần này là một bước quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác thống kê trong bối cảnh mới.Về nội dung: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê vừa được Quốc hội thông qua đã kế thừa các quy định còn giá trị trong Luật trước đó, khắc phục những bất cập, nâng cao vai trò của thống kê, đảm bảo phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đồng thời, đã cập nhật những nội dung mới về: sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước; mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; ứng dụng công nghệ thông tin – chuyển đổi số trong thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia.Những nội dung được sửa đổi, bổ sung nổi bật gồm: Điều chỉnh, bổ sung tên gọi, chức năng, tổ chức của các bộ, ngành mới, đơn vị thống kê, tổ chức thuộc chính quyền địa phương phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; bổ sung quy định về hệ thống thông tin thống kê cấp xã (cấp cơ sở) và chế độ báo cáo thống kê cấp tỉnh, cấp xã; điều chỉnh “thanh tra chuyên ngành thống kê” thành “kiểm tra chuyên ngành thống kê” cho phù hợp với Luật Thanh tra mới; cập nhật quy định về phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông, bổ sung quy định về chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia; lược bỏ các điều khoản không còn phù hợp (như hệ thống chỉ tiêu, hệ thống thông tin cấp huyện) để tương thích với việc tổ chức lại chính quyền địa phương hai cấpNội dung được sửa đổi, bổ sung lần này nhìn chung phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cụ thể là: Việc điều chỉnh cụm từ “cấp huyện” thành “cấp xã hoặc cấp cơ sở” trong các điều khoản liên quan đã phản ánh đúng thực tế tổ chức của chính quyền địa phương theo mô hình 2 cấp (cấp tỉnh và cấp cơ sở); bổ sung quy định về hệ thống thông tin thống kê ở cấp xã và chế độ báo cáo cấp tỉnh/cấp xã giúp nâng cao khả năng thu thập dữ liệu và cung cấp thông tin từ cơ sở; việc chuyển từ “thanh tra” sang “kiểm tra chuyên ngành thống kê” giúp thống nhất với quy định hiện hành, tránh chồng chéo. Cụ thể, Luật sửa đổi, bổ sung cũng phù hợp với xu thế phát triển và đổi mới hoạt động thống kê nhà nước trong bối cảnh mới, cụ thể: Việc bổ sung quy định về công nghệ thông tin, chuyển đổi số và cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia là phù hợp với xu hướng hiện nay: chuyển đổi số, quản trị dựa trên dữ liệu và cải cách hành chính.Tuy nhiên, để Luật đi vào cuộc sống, đem lại hiệu lực, hiệu quả cao, cần triển khai đồng bộ: việc phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, đặc biệt ở cấp cơ sở, làm rõ nhiệm vụ, trách nhiệm và nguồn lực đi kèm; việc giao thêm nhiệm vụ cho cấp xã (qua chế độ báo cáo, hệ thống thông tin thống kê cấp xã) đặt ra yêu cầu mới về nhân lực, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật – cần được bố trí kịp thời, đồng bộ, nếu không có thể ảnh hưởng đến chất lượng thông tin thống kê và tính khả thi trong thực hiện các quy định của Luật.Phóng viên: Từ những điểm mới trên, Ông kỳ vọng điều gì từ Luật Thống kê sửa đổi, bổ sung lần này?TS. Nguyễn Hoàng Đan: Như tôi đã trao đổi ở trên, mong muốn lớn nhất của tôi là không còn khó khăn, vướng mắc, bất cập trong tổ chức triển khai thực hiện các quy định của Luật, nâng cao được chất lượng thông tin thống kê và hiệu quả công tác thống kê.Điều này, tôi nghĩ là khả thi vì Luật mới đã điều chỉnh bổ sung các quy định để phù hợp với việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước và mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Hơn nữa, việc điều chỉnh, bổ sung quy định về Hệ thống chỉ tiêu thống kê bộ, ngành theo hướng làm rõ nội hàm hệ thống chỉ tiêu và bổ sung quy định về hệ thống chỉ tiêu thống kê đa ngành, đa lĩnh vực, có tính chất tổng hợp, liên kết vùng… sẽ giúp thể chế hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho các Bộ, ngành thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu thống kê đa ngành, đa lĩnh vực, có tính chất tổng hợp phục giám sát, đánh giá thực hiện pháp luật chuyên ngành, chiến lược, chính sách, chương trình, mục tiêu quốc gia được phân công quản lý; việc bổ sung quy định về Hệ thống chỉ tiêu, Chế độ báo cáo thống kê cấp xã sẽ giúp cho việc cung cấp thông tin từ cơ sở được nề nếp, thông tin thống kê có cơ sở và sát thực tiễn hơn; đặc biệt là việc bổ sung các quy định về Phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, trong đó có Cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia, Cơ sở dữ liệu thống kê của bộ, ngành… sẽ giúp cho việc khai thác các loại dữ liệu mới được hiệu quả hơn, nâng cao được chất lượng thông tin và hiệu quả công tác thống kê.Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Ông!Nguồn: Tạp chí Kinh tế – Tài chính
Bài 1: Thông qua sửa Luật Thống kê: Xây dựng hệ thống thông tin thông suốt từ trung ương đến tận cấp xã
- 22/12/2025 09:39
Với 100% đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng hệ thống thông tin thống kê nhà nước thông suốt, đồng bộ từ trung ương đến cấp xã. Luật mới nhấn mạnh chuẩn hóa số liệu, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong hoạt động thống kê. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026.100% đại biểu tham gia biểu quyết thông qua dự án Luật.Luật quy định, cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia là cơ sở dữ liệu thống kê tổng hợp từ các dữ liệu thống kê, các cơ sở dữ liệu liên quan trên phạm vi toàn quốc, được kết nối, tích hợp, chuẩn hóa, lưu trữ, cập nhật, quản lý tập trung và vận hành thống nhất. Cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia do Cơ quan thống kê trung ương chủ trì xây dựng, quản lý và cập nhật; bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm cung cấp, cập nhật dữ liệu thống kê được phân công.Cơ sở này được cập nhật định kỳ từ các nguồn: Điều tra thống kê, chế độ báo cáo thống kê, dữ liệu hành chính, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, địa phương và các nguồn dữ liệu hợp pháp khác; bảo đảm tính chuẩn hóa, thống nhất, đầy đủ, chính xác và kịp thời. Đồng thời, được kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định của pháp luậtBáo cáo tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật trước khi Quốc hội biểu quyết, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết, Chính phủ đề xuất nội dung sửa đổi tập trung vào 4 nhóm vấn đề cấp thiết gồm: nhóm các quy định liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và tổ chức thống kê nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; nhóm các quy định liên quan đến thanh tra chuyên ngành thống kê, kiểm tra chuyên ngành thống kê; nhóm các quy định liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ thống kê phát sinh trong thực tiễn; Nhóm các quy định liên quan đến ứng dụng phương pháp thống kê, công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động thống kê nhà nước. “Đối với các nội dung sửa đổi bổ sung, Chính phủ đã rà soát và bảo đảm thống nhất với các quy định của pháp luật hiện hành”, Bộ trưởng khẳng định.Về tính thống nhất của thông tin số liệu thống kê, Bộ trưởng cho hay, Luật Thống kê hiện hành đã có những quy định bảo đảm số liệu thống kê thống nhất, bảo đảm so sánh quốc tế như: tuân thủ thực hiện theo các chuẩn mực thống kê quốc tế về nguyên tắc thống kê chính thức, các hướng dẫn nghiệp vụ của Thống kê Liên hợp quốc trong biên soạn số liệu tài khoản thống kê, số liệu thống kê chuyên ngành bao gồm có thống kê thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ, giá… Đồng thời, áp dụng các bảng phân loại chuẩn để bảo đảm bóc tách, phân chia số liệu theo chuẩn và bảo đảm và so sánh quốc tế; ban hành các tiêu chuẩn chuẩn mực chung áp dụng trên phạm vi toàn quốc, tiến hành thẩm định các chương trình thống kê theo quy định..Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng báo cáo tại phiên họp.Thực tế còn xuất hiện tình trạng chênh lệch số liệu giữa các bộ ngành và địa phương xuất phát từ sự khác nhau về khái niệm, phạm vi số liệu, phương pháp tính toán biên soạn, thời kỳ, thời điểm của các số liệu khác nhau, mục đích biên soạn… Bộ trưởng nhấn mạnh, Chính phủ sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số để kết nối, khai thác, chia sẻ thống nhất số liệu giữa các bộ, ngành, địa phương.Liên quan đến hệ thống thông tin, hệ thống chỉ tiêu thống kê, chế độ báo cáo thống kê, dự thảo Luật đã quy định việc hình thành hệ thống thông tin thống kê nhà nước thông suốt đồng bộ từ trung ương đến cấp xã, từ Bộ ngành đến Bộ Tài chính và từ Sở Ngành đến Thống kê tỉnh, thành phố. Theo thẩm quyền, Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh cấp xã, chế độ báo cáo thống kê cấp tỉnh cấp xã, trong đó phân công cụ thể cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp số liệu của từng chỉ tiêu với các biểu mẫu tương ứng áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc.Đối với các chỉ tiêu thống kê mới phát sinh, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế số, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững, xanh, tuần hoàn, Bộ trưởng cho biết, Chính phủ sẽ liên tục rà soát, cập nhật và cụ thể hóa tại các văn bản hướng dẫn thi hành. Về trách nhiệm phạm vi thẩm quyền phân công thu thập, tổng hợp số liệu, Chính phủ sẽ tiếp thu và sẽ quy định cụ thể trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật đối với từng số liệu, từng chỉ tiêu cụ thể.Liên quan đến việc triển khai chế độ báo cáo cấp xã, Bộ trưởng nêu rõ, việc triển khai này không làm tăng biên chế cấp xã, không làm tăng khối lượng công việc cho cấp xã vì Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ là đơn vị thực hiện thu thập một số chỉ tiêu cấp xã. Ngoài ra còn có các cơ quan như thống kê cơ sở, thuế cơ sở, kho bạc cơ sở, tòa án khu vực, kiểm sát khu vực thực hiện. Chính phủ cũng tiếp thu ý kiến về điều tra thống kê theo hướng tăng cường khai thác sử dụng dữ liệu hành chính, dữ liệu từ hệ thống thông tin. Các thông tin có thể tự động tích hợp từ hệ thống thông tin hiện có sẽ không tổ chức điều tra để giảm chi phí, hạn chế trùng lắp và nâng cao hiệu quả hoạt động thống kê.Nguồn: Tạp chí Kinh tế – Tài chính
Thống kê tỉnh Phú Thọ tổ chức tập huấn cấp tỉnh điều tra phiếu cá thể, tổ hợp tác, tôn giáo tín ngưỡng Tổng điều tra Kinh tế năm 2026
- 16/12/2025 10:02
Nhằm chuẩn bị tốt các điều kiện triển khai Tổng điều tra Kinh tế năm 2026 theo đúng phương án, tiến độ và yêu cầu của Ban Chỉ đạo Trung ương, trong hai ngày 10/12/2025 và 12/12/2025, Thống kê tỉnh Phú Thọ đã tổ chức Hội nghị tập huấn cấp tỉnh điều tra phiếu cá thể, tổ hợp tác, tôn giáo – tín ngưỡng thuộc Tổng điều tra Kinh tế năm 2026.Hội nghị được tổ chức với sự tham gia của lãnh đạo Thống kê tỉnh; cùng đại diện lãnh đạo và công chức phụ trách công tác điều tra thống kê của các phòng chuyên môn, các Thống kê cơ sở thuộc Thống kê tỉnh. Đây là công tác quan trọng, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho lực lượng tham gia Tổng điều tra, bảo đảm thu thập thông tin đầy đủ, chính xác, khách quan.Trưởng Thống kê tỉnh Phú Thọ Trần Văn Thạch, chủ trì Hội nghịPhát biểu khai mạc hội nghị, lãnh đạo Thống kê tỉnh Phú Thọ nhấn mạnh: Tổng điều tra Kinh tế năm 2026 là một trong những cuộc tổng điều tra lớn, có phạm vi rộng, nội dung phức tạp, cung cấp nguồn thông tin thống kê quan trọng phục vụ đánh giá thực trạng phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của tỉnh và cả nước trong giai đoạn tới. Do đó, công tác chuẩn bị, đặc biệt là khâu tập huấn nghiệp vụ cho lực lượng điều tra, đóng vai trò then chốt quyết định chất lượng và thành công của cuộc Tổng điều tra.Trong khuôn khổ hội nghị, các học viên đã được báo cáo viên truyền đạt những nội dung cốt lõi của Tổng điều tra Kinh tế năm 2026, bao gồm: mục đích, yêu cầu, đối tượng, phạm vi điều tra; thời điểm điều tra; trách nhiệm của các cấp, các ngành và lực lượng tham gia điều tra. Trọng tâm tập huấn tập trung vào phiếu điều tra cá thể, tổ hợp tác, cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng, là những đối tượng có đặc thù riêng, đòi hỏi điều tra viên phải nắm chắc khái niệm, phương pháp tiếp cận và kỹ năng thu thập thông tin phù hợp.Các nội dung chi tiết của từng loại phiếu điều tra được giới thiệu, phân tích cụ thể, làm rõ từng chỉ tiêu, từng câu hỏi trong phiếu; hướng dẫn cách ghi phiếu đúng quy định; cách xử lý các tình huống phát sinh trong thực tế điều tra. Đồng thời, hội nghị cũng dành thời gian hướng dẫn quy trình điều tra trên thiết bị điện tử, cách sử dụng phần mềm thu thập thông tin, truyền nhận dữ liệu, kiểm tra, rà soát và hiệu chỉnh thông tin nhằm hạn chế tối đa sai sót.Toàn cảnh Hội nghịBên cạnh phần lý thuyết, hội nghị tập huấn được tổ chức theo hướng tăng cường trao đổi, thảo luận và giải đáp thắc mắc, giúp học viên hiểu sâu, nắm chắc nội dung. Nhiều câu hỏi, tình huống thực tế liên quan đến hoạt động của cá thể kinh doanh, tổ hợp tác hay cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng đã được đưa ra trao đổi, làm rõ, qua đó giúp thống nhất cách hiểu và cách thực hiện trong toàn tỉnh.Thông qua hội nghị tập huấn, đội ngũ cán bộ làm công tác điều tra thống kê trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã được cập nhật đầy đủ kiến thức, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ, sẵn sàng triển khai công tác điều tra ở cơ sở. Đây cũng là lực lượng nòng cốt để tiếp tục tổ chức tập huấn, hướng dẫn cho điều tra viên ở cấp xã trong thời gian tới, bảo đảm việc triển khai Tổng điều tra Kinh tế năm 2026 được thực hiện đồng bộ, thống nhất.Kết thúc hội nghị, lãnh đạo Thống kê tỉnh Phú Thọ đề nghị các đơn vị, cá nhân tham dự tập huấn nghiêm túc nghiên cứu tài liệu, chủ động rà soát kế hoạch, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để tổ chức điều tra tại địa phương; đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, phối hợp với chính quyền cơ sở nhằm tạo sự đồng thuận, hợp tác của các đối tượng điều tra.Hội nghị tập huấn cấp tỉnh điều tra phiếu cá thể, tổ hợp tác, tôn giáo – tín ngưỡng Tổng điều tra Kinh tế năm 2026 diễn ra thành công tốt đẹp, là bước chuẩn bị quan trọng góp phần bảo đảm Tổng điều tra Kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đạt chất lượng cao, đúng tiến độ, đáp ứng yêu cầu đề ra, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới. Chi đoàn Thống kê tỉnh Phú Thọ
TÓM TẮT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ THÁNG 11 NĂM 2025
- 04/12/2025 14:03
Tháng 11/2025, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh duy trì ổn định, các ngành tiếp tục triển khai nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm. Sản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng cây vụ đông và phòng chống dịch bệnh; công nghiệp tăng trưởng khá ở nhóm ngành chủ lực; thương mại, dịch vụ sôi động theo nhu cầu mua sắm dịp cuối năm. Công tác đầu tư công, thu hút doanh nghiệp, quản lý thu – chi ngân sách và các lĩnh vực xã hội được triển khai tích cực.1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnTiến độ gieo trồng vụ đông chịu ảnh hưởng của thời tiết, một số diện tích giảm so cùng kỳ: ngô đạt 13,4 nghìn ha (96,1%), rau các loại 12,3 nghìn ha (97,6%), khoai lang 2.213 ha (93%). Chăn nuôi cơ bản ổn định, riêng đàn lợn tiếp tục phục hồi sau ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi. Đến cuối tháng 11, đàn trâu, bò và lợn đều giảm so cùng kỳ, trong khi đàn gia cầm tăng 3,8%.Lâm nghiệp thực hiện đúng tiến độ, diện tích rừng trồng mới 11 tháng đạt 19.409,6 ha, tăng 2,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.574,1 nghìn m³, tăng 10,1%. Thủy sản phục hồi mạnh: tháng 11/2025 đạt 8,1 nghìn tấn, tăng 15,9%; lũy kế 11 tháng đạt 69,5 nghìn tấn, tăng 5%, chủ yếu do khắc phục thiệt hại bão Yagi của năm trước.2. Sản xuất công nghiệpSản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng, nhất là khối chế biến, chế tạo. Chỉ số IIP tháng 11 tăng 1,67% so tháng trước và tăng 27,15% so cùng kỳ. Nhiều ngành tăng mạnh như sản xuất hóa chất, thiết bị điện, kim loại, điện tử, máy vi tính. Một số ngành giảm do nhu cầu thị trường yếu: sản xuất ô tô, thiết bị điện, đồ uống, dệt may.Lũy kế 11 tháng, IIP toàn ngành tăng 27,39%; riêng chế biến, chế tạo tăng 28,79%. Các sản phẩm chủ lực tăng cao: laptop tăng 78,5%, điều hòa tăng 40,9%, thép tăng 37,1%, xi măng tăng 34,6%, linh kiện điện tử tăng 30,2%. Lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tháng 11 tăng 8,5% so cùng kỳ.3. Đầu tưTiến độ giải ngân được các đơn vị tập trung đẩy mạnh. Vốn đầu tư công 11 tháng ước đạt 75,7% kế hoạch năm, tăng 14,1% so cùng kỳ; trong đó cấp tỉnh tăng 19,4%.Nhiều dự án trọng điểm ghi nhận giá trị thực hiện khá: cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu, các dự án kết nối vùng, cải tạo hạ tầng giao thông, các tuyến đường liên huyện và dự án khu đô thị.Công tác thu hút đầu tư đạt kết quả tích cực. Đến 20/11/2025, tỉnh thu hút 180 dự án DDI với tổng vốn 51,3 nghìn tỷ đồng (gấp 4,7 lần cùng kỳ). Khu vực FDI có 54 dự án mới với tổng vốn 732,1 triệu USD (gấp 2,6 lần), chủ yếu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan.4. Tình hình doanh nghiệp11 tháng năm 2025 có 4.323 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 53,3%), vốn đăng ký 39.463 tỷ đồng (tăng 40,6%). Một số ngành tăng mạnh như vận tải kho bãi, kinh doanh bất động sản, bán lẻ ô tô – xe máy, tài chính – ngân hàng.918 doanh nghiệp quay lại hoạt động (tăng 23,6%), trong khi số doanh nghiệp tạm ngừng và giải thể đều tăng, cho thấy môi trường kinh doanh vẫn còn khó khăn.5. Thu, chi ngân sách và hoạt động ngân hàngThu ngân sách đạt 51.280 tỷ đồng, tăng 34,3%; thu nội địa tăng 40%, đóng góp lớn từ đất đai và khối doanh nghiệp FDI.Chi ngân sách đạt 83.254 tỷ đồng, tăng 39,1%; trong đó chi thường xuyên tăng mạnh 50,7%, tập trung cho giáo dục – đào tạo, quản lý hành chính và quốc phòng.Hoạt động ngân hàng ổn định, tín dụng tăng trưởng tích cực. Huy động vốn đạt 312.764 tỷ đồng (tăng 12,4%); dư nợ cho vay đạt 355.857 tỷ đồng (tăng 17,8%). Nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,44%.6. Thương mại, dịch vụ và giá cảTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 11 tháng đạt 177.443 tỷ đồng, tăng 15,3%. Riêng tháng 11 tăng 19,4%, với nhiều nhóm hàng tăng mạnh như gỗ – VLXD, đồ dùng gia đình, may mặc, phương tiện đi lại, vàng.Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng nhẹ 0,03%; tăng 2,9% so tháng 12/2024 và tăng 3,13% so cùng kỳ. CPI được kiểm soát tốt; giá xăng dầu và thực phẩm tăng, song giá điện, gas và nhóm nhà ở giảm.Vận tải tiếp tục khởi sắc: doanh thu tháng 11 đạt 1.760 tỷ đồng, tăng 11,7%; sản lượng hành khách tăng 24,6%.7. Một số lĩnh vực xã hộiGiáo dục: tổ chức nhiều hoạt động tri ân Ngày Nhà giáo Việt Nam; ngành Giáo dục tỉnh được nhận nhiều phần thưởng cấp Trung ương và của tỉnh.Y tế: ghi nhận 854 ca sốt phát ban nghi sởi, 560 ca tay chân miệng; 198 ca sốt xuất huyết giảm so cùng kỳ. Tỷ lệ tiêm chủng duy trì khá; 96,7% cơ sở đạt chuẩn an toàn thực phẩm.Văn hóa – thể thao: tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn; thể thao thành tích cao đạt 29 huy chương tại 8 giải quốc gia.An toàn giao thông: từ 15/10–14/11 xảy ra 77 vụ tai nạn, làm 44 người chết và 47 người bị thương; giảm so cùng kỳ 11 tháng.Cháy nổ và môi trường: tháng 11 ghi nhận 29 vụ cháy; lực lượng chức năng xử lý 104 vụ vi phạm môi trường./.
Thống kê tỉnh Phú Thọ tổ chức hội nghị triển khai biên soạn chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm cấp xã năm 2025
- 15/11/2025 09:47
Thực hiện Kế hoạch của UBND tỉnh Phú Thọ về biên soạn chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã năm 2025, từ ngày 12-14/11/2025, Thống kê tỉnh Phú Thọ đã tổ chức hội nghị triển khai, hướng dẫn thu thập, biên soạn chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm cấp xã, với sự tham dự của đại diện các sở, ban, ngành; lãnh đạo UBND các xã, phường trên địa bàn tỉnh.Tại hội nghị, các đại biểu đã được triển khai nội dung Kế hoạch số 7579/KH-UBND của UBND tỉnh Phú Thọ về biên soạn chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã năm 2025. Đồng thời, hội nghị phổ biến những quy định chung, nguyên tắc biên soạn, và quy trình tính toán chỉ tiêu theo hướng dẫn nghiệp vụ của ngành Thống kê.Báo cáo viên triển khai một số quy định chung trong biên soạn chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã năm 2025Các học viên được tập huấn kỹ năng nghiệp vụ theo từng khu vực kinh tế (nông – lâm – thủy sản; công nghiệp – xây dựng; thương mại – dịch vụ), hướng dẫn chi tiết về phương pháp thu thập thông tin, cách ghi phiếu khảo sát, xử lý số liệu và cách tổng hợp kết quả đầu ra.Tổng giá trị sản phẩm cấp xã là một trong những chỉ tiêu thống kê quan trọng, phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở và lãnh đạo, chỉ đạo của UBND tỉnh. Bên cạnh đó, chỉ tiêu này cũng đóng vai trò là căn cứ để đánh giá tình hình kinh tế - xã hội năm 2025, phục vụ xây dựng chương trình hành động, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2025 – 2030.Thông qua hội nghị, các đại biểu và đội ngũ cán bộ làm công tác thống kê tại địa phương đã nắm vững phương pháp, quy trình và kỹ năng nghiệp vụ trong công tác biên soạn chỉ tiêu. Việc triển khai hiệu quả hoạt động thu thập, xử lý và tổng hợp số liệu sẽ đảm bảo tính đầy đủ, chính xác, khách quan và kịp thời của kết quả biên soạn chỉ tiêu năm 2025.Các đại biểu tham dự hội nghịKết thúc hội nghị, ban tổ chức đã dành thời gian để trả lời các câu hỏi, giải đáp thắc mắc của học viên, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực tế, nhằm thống nhất phương pháp và nâng cao chất lượng công tác biên soạn chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã năm 2025.Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp