Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2024 tỉnh Vĩnh Phúc
- 02/12/2024 10:44
Trong 11 tháng năm 2024, thị trường hàng hóa thế giới có nhiều biến động do ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia. Xung đột quân sự, biến động chính trị, bất ổn tiếp tục leo thang tại một số nước, kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, thiếu vững chắc. Thị trường tài chính, tiền tệ, giá vàng, xăng dầu, hàng hóa, vận tải thế giới biến động liên tục… Trong nước, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, giúp giá hàng hóa và dịch vụ ổn định. Tại tỉnh Vĩnh Phúc, do ảnh hưởng của cơn bão Yagi gây ra tình trạng khan hiếm các mặt hàng như rau, củ quả, thực phẩm dẫn đến tăng giá cục bộ. Các Sở, ngành, địa phương tăng cường công tác cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ nhân dân bị ảnh hưởng bởi bão lũ, khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai, đẩy mạnh khôi phục sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo đó, giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường nhìn chung không có biến động bất thường, lạm phát trong tầm kiểm soát. CPI tháng 11/2024 giảm 0,69% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,88%. Bình quân mười một tháng năm 2024, CPI tăng 2,77% so với bình quân cùng kỳ. So với tháng trước, CPI tháng 11/2024 giảm 0,69% (khu vực thành thị giảm 0,41%; khu vực nông thôn giảm 0,81%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 07 nhóm hàng tăng giá; 04 nhóm hàng giảm giá. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 11/2024 tăng 2,88%. Một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có sự biến động về giá và đóng góp vào mức tăng CPI chung như sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,16%, tác động làm CPI chung tăng 1,72 điểm phần trăm, trong đó nhóm lương thực tăng 8,22% chủ yếu ở mặt hàng gạo tăng 10,58% do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu; Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,68% tác động làm CPI chung tăng 0,69 điểm phần trăm chủ yếu do giá nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 5,44%; Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 6,17% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI chung tăng 0,44 điểm phần trăm do tỉnh áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT ngày 17/11/2023 của Bộ Y tế đã tác động làm cho nhóm dịch vụ y tế tăng 7,78%. Ở chiều ngược lại, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 3,88%, tác động làm CPI chung giảm 0,27 điểm phần trăm do nhiều cửa hàng mở các chương trình khuyến mãi để kích cầu tiêu dùng; Nhóm giao thông giảm 2,74% tác động làm CPI giảm 0,26 điểm phần trăm do sự điều chỉnh của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam đã làm cho nhóm nhiên liệu giảm 11,48%; Nhóm giáo dục giảm 0,88% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI giảm 0,06 điểm phần trăm do tỉnh được miễn học phí theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh đã tác động tới nhóm dịch vụ giáo dục giảm 1,46%. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 11/2024 so với cùng kỳ năm trước (%) Tính chung 11 tháng đầu năm nay, CPI tăng 2,77% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng cao theo nhu cầu của người dân; giá học phí của các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh được điều chỉnh tăng trong năm học 2024-2025; giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT của Bộ Y tế; bảo hiểm y tế tăng theo lương cơ sở và giá điện sinh hoạt tăng. Ảnh minh họa. Nguồn: Internet Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ: Tháng 11/2024, chỉ số giá vàng tăng 2,70% so với tháng trước, tăng 42,73% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,13% so với tháng trước; tăng 4,09% % so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 11 tháng năm 2024, chỉ số giá vàng tăng 32,69%; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 5,62% so với cùng kỳ. Tác giả: Bùi Thục Anh
Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội 10 tháng đầu năm 2024
- 04/11/2024 15:51
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ Tháng 10/2024, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định. Các địa phương hoàn thành thu hoạch cây trồng vụ mùa và triển khai gieo trồng vụ đông 2024-2025 đúng khung thời vụ. Trong chăn nuôi, người dân tập trung tái đàn và chăm sóc gia súc, gia cầm nhằm đảm bảo nguồn cung cho nhu cầu cuối năm và các dịp lễ, tết; tổng số lượng và sản lượng gia súc, gia cầm tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt: Diện tích trồng lúa vụ mùa toàn tỉnh đạt 23.430,81 ha, giảm 112,7 ha (chiếm 73,30% tổng diện tích gieo trồng vụ mùa); trong đó, có hơn 9.000 ha lúa bị ngập úng và mất trắng. Năng suất lúa thu hoạch đạt 53,05 tạ/ha, giảm 3,51 tạ/ha; sản lượng đạt 114.218,6 tấn, giảm 18.954,1 tấn. Các loại cây hoa màu khác cũng giảm về năng suất và sản lượng: Cây ngô, năng suất thu hoạch đạt 44,28 tạ/ha (giảm 1,1 tạ/ha), sản lượng 5.598,6 tấn (giảm 22,42%); Khoai lang: 94,31 tạ/ha (giảm 2,84 tạ/ha), sản lượng 1.698,8 tấn; Đậu tương: 18,50 tạ/ha, sản lượng 227,8 tấn (tăng 25,9 tấn); Cây lạc: 20,90 tạ/ha (tăng 0,17 tạ/ha), sản lượng 1.061,9 tấn (giảm 22,3 tấn); Rau các loại: 196,41 tạ/ha (giảm 7,79 tạ/ha), sản lượng 42.948,2 tấn (giảm 6.973,8 tấn). - Tiến độ gieo trồng vụ đông năm 2024-2025: Tính đến 15/10/2024, toàn tỉnh đã gieo trồng được 11.074,1 ha, đạt 76,37% kế hoạch, giảm 6,22% tương ứng giảm 734,6 ha so với cùng kỳ. b. Chăn nuôi: Tính chung 10 tháng đầu năm, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 4,51% (trong đó thịt lợn hơi tăng 8,27%; gia cầm hơi giảm 1,90%); sản lượng trứng tăng 9,80%; sản lượng sữa tươi tăng 2,93% so cùng kỳ. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Tính đến đầu tháng 10/2024, toàn tỉnh đã trồng được 600 ha rừng tập trung, hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2024. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán toàn tỉnh trong tháng Mười ước đạt 56,8 nghìn cây, lũy kế 10 tháng đầu năm đạt 770 nghìn cây, vượt 16 nghìn cây so với kế hoạch năm (754 nghìn cây). Sản lượng gỗ khai thác trong tháng đạt 5.077,0 m³, tăng 10,17% (468,7 m³); lũy kế 10 tháng đạt 41.018,1 m³, tăng 4,01% (1.579,8 m³). Sản lượng củi khai thác trong tháng đạt 4.101,0 ste, giảm 0,49% (20,3 ste); lũy kế 10 tháng đạt 40.534,4 ste, tăng 0,59% (237,1 ste). 1.3. Sản xuất thuỷ sản Tính chung 10 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản đạt 20.428,0 tấn, tăng 134,6 tấn so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 18.834,4 tấn (tăng 116,5 tấn); sản lượng khai thác 1.593,6 tấn (tăng 18,1 tấn); sản lượng con giống đạt 3.107,3 triệu con, tăng 1,74% so với cùng kỳ. 2. Sản xuất công nghiệp Tính chung 10 tháng đầu năm, chỉ số IIP toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc ước tính tăng 11,15% so với cùng kỳ. Tình hình một số ngành công nghiệp chủ lực trong tháng như sau: - Ngành sản xuất linh kiện điện tử chỉ số sản xuất tháng 10/2024 tăng 5,12% so với tháng trước và 3,89% so với cùng kỳ. - Ngành sản xuất ô tô tăng 8,77% so với tháng trước và giảm 6,10% so với cùng kỳ; ngành sản xuất xe máy tăng 12,85% so với tháng trước và giảm 6,23% so với cùng kỳ. - Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 4,45% so với tháng trước và tăng 14,54% so với cùng kỳ; ngành sản xuất kim loại tăng 22,50% so với tháng trước và tăng 5,95% so với cùng kỳ. Nhu cầu xây dựng cuối năm gia tăng thúc đẩy sản xuất, tuy nhiên ngành sản xuất khoáng phi kim loại giảm so tháng trước do lượng hàng tồn kho cao. - Ngành sản xuất trang phục tăng 6,33% so với tháng trước và tăng 2,28% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 10/2024, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 3,12% so với tháng trước và tăng 2,53% so với cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ: Tháng 10/2024, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 6,04% so với tháng trước và giảm 2,33% so với cùng kỳ. Chỉ số tồn kho: Tháng 10/2024, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tồn kho giảm 2,62% so với tháng trước và giảm 25,78% so với cùng kỳ. 3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Lũy kế đến 15/10/2024, toàn tỉnh có 1.226 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 10.137 tỷ đồng và 9.487 lao động. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giảm 1,61%, vốn đăng ký tăng 7,79% và số lao động tăng 18,09%. 4. Đầu tư 4.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước Lũy kế 10 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư từ nguồn Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 6.504,9 tỷ đồng, giảm 13,91% so với cùng kỳ và bằng 67,53% kế hoạch giao. So với kế hoạch năm, kết quả thực hiện vốn ngân sách nhà nước đạt tỷ lệ cao nhất ở cấp xã, với 1.576,2 tỷ đồng, bằng 79,93% kế hoạch; vốn ngân sách cấp tỉnh ước đạt 3.224,9 tỷ đồng, đạt 68,81%; ngân sách cấp huyện đạt 1.703,8 tỷ đồng, bằng 57,30%. 4.2. Tình hình thu hút đầu tư: Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/10/2024, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 69 dự án FDI, gồm 30 dự án cấp mới và 39 dự án điều chỉnh vốn, với tổng vốn đăng ký đạt 581,4 triệu USD. So với cùng kỳ, số dự án FDI thu hút trong năm tăng 6,15%, vốn đăng ký tăng 4,25%, vượt 45,35% so với kế hoạch đầu năm (400 triệu USD). Kết quả thu hút DDI đạt 23 dự án (15 dự án cấp mới, 08 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 4.968,5 tỷ đồng, bằng 90,34% kế hoạch giao đầu năm (5.500 tỷ đồng). 5. Thương mại, dịch vụ Tháng 10/2024, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tiếp tục đà tăng trưởng. Các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh bước vào giai đoạn cao điểm kinh doanh cuối năm nhằm tăng doanh thu và hoàn thành mục tiêu cả năm. Công tác bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu và các giải pháp kích cầu tiêu dùng nội địa được triển khai hiệu quả với nhiều chương trình khuyến mại từ các trung tâm thương mại, siêu thị bán lẻ, cửa hàng và chợ địa phương. 5.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 10/2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.326,2 tỷ đồng, tăng 1,59% so với tháng trước và 16,49% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm, tổng mức ước đạt 65.906,6 tỷ đồng, tăng 10,29% so với cùng kỳ. Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 10 đạt 6.074,5 tỷ đồng, chiếm 82,91% tổng mức, tăng 1,86% so với tháng trước và 17,81% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống: Ước đạt 589,9 tỷ đồng, tăng 3,02% so với tháng trước và tăng 11,32% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu lưu trú đạt 60 tỷ đồng, giảm 1,85% so với tháng trước; doanh thu dịch vụ ăn uống tăng 3,6%, đạt 529,9 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng, doanh thu lưu trú và ăn uống đạt 5.666,3 tỷ đồng, tăng 8,97% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành: Tháng 10/2024 đạt 24,5 tỷ đồng, giảm 46,87% so với tháng trước nhưng tăng 13,49% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm, doanh thu du lịch lữ hành đạt 462,8 tỷ đồng, tăng 109,73% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác đạt 637,3 tỷ đồng, tăng 1,27% so với tháng trước và tăng 9,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ khác đạt 6.079,4 tỷ đồng, tăng 12,11% so với cùng kỳ. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Lũy kế 10 tháng đầu năm, doanh thu ngành vận tải ước đạt 6.893,4 tỷ đồng, tăng 25,78% so với cùng kỳ. Hoạt động của từng loại hình vận tải trong tháng 10/2024 như sau: Vận tải hành khách: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 119,2 tỷ đồng, tăng 10,53% so với tháng trước và tăng 51,68% so với cùng kỳ. Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 532,2 tỷ đồng, tăng mạnh 28,64% so với tháng trước và tăng 6,89% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt hơn 3,1 triệu tấn, luân chuyển đạt 331,9 triệu tấn.km. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: Doanh thu ước đạt 95 tỷ đồng, tăng 16,77% so với tháng trước và tăng 78,52% so với cùng kỳ. 6. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 6.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 15/10/2024, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 21.320 tỷ đồng, tăng 10,44% so với cùng kỳ, bằng 67,12% dự toán giao đầu năm. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/10/2024 đạt 18.576 tỷ đồng, giảm 6,63% so với cùng kỳ nhưng vẫn đảm bảo tiến độ chi theo kế hoạch, đạt 89,58% dự toán năm. 6.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng Mặt bằng lãi suất trên địa bàn có xu hướng tăng lãi suất tiền gửi, giảm lãi suất cho vay, chủ yếu áp dụng cho các giao dịch phát sinh mới trong kỳ, cụ thể: Lãi suất của những khoản tiền gửi mới có xu hướng tăng, bình quân ở mức 3,8%/năm, tăng 0,28%; Lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,21%; giảm 0,88% so với cuối năm 2023. Tính chung, mặt bằng lãi suất huy động bằng VNĐ phổ biến từ 0,2-6%/năm đối với từng kỳ hạn; lãi suất cho vay trên địa bàn phổ biến từ 3,5-10,5%/năm đối với từng kỳ hạn và đối tượng. Tổng nguồn vốn huy động tại thời điểm 31/10/2024 dự kiến đạt 131 nghìn tỷ đồng, tăng 3,79% so với cuối năm 2023 Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 31/10/2024 đạt 138,5 nghìn tỷ đồng, tăng 8,07% so với cuối năm 2023. Tỷ lệ nợ xấu: Tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn <2%, ước tính tại thời điểm 31/10/2024 đạt 1.450 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,05%. 6.3. Bảo hiểm Ước tính đến 31/10/2024, toàn tỉnh có 1.185.853 người tham gia bảo hiểm các loại. Trong đó, có 262.029 người tham gia BHXH, chiếm 43,3% lực lượng lao động, tăng 5,75% so với cùng kỳ (bao gồm: BHXH bắt buộc: 237.390 người; BHXH tự nguyện: 24.639 người); tham gia BH thất nghiệp có 228.065 người; tham gia BHYT có 1.161.214 người; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95.86% dân số. Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại đến hết tháng 10 năm 2024 ước đạt 5.804 tỷ đồng, đạt 82,76% kế hoạch giao và tăng 15,73% so với cùng kỳ năm 2023. Trong 10 tháng đầu năm BHXH tỉnh đã giải quyết hưởng BHXH hàng tháng cho 645 người; giải quyết hưởng BHXH một lần cho 12.820 người; giải quyết ốm đau, thai sản, dưỡng sức cho 109.468 lượt người; lập danh sách chi trả cho 9.768 lượt người hưởng bảo hiểm thất nghiệp. 7. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2024 tăng 0,33% so với tháng trước, so với năm trước tăng 2,23%. Bình quân 10 tháng năm 2024, CPI tăng 2,76% so với bình quân cùng kỳ. - Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 10/2024, Chỉ số giá vàng tăng 6,63% so với tháng trước; tăng 44,10% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,40% so với tháng trước, tăng 5,78% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng so cùng kỳ, chỉ số giá vàng tăng 31,73%, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 5,78%. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Công tác giải quyết việc làm duy trì ổn định. Tính đến ngày 15/10/2024, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 19.604 lao động, tăng 8,83% so cùng kỳ, vượt 15,32% kế hoạch năm 2024. Trong đó: giải quyết 4.055 việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 8.803 việc làm trong khu vực công nghiệp - xây dựng; 5.929 việc làm khu vực dịch vụ; 817 người đi xuất khẩu lao động. 2. Giáo dục, đào tạo Kỳ họp thứ 18 HĐND tỉnh Vĩnh Phúc khóa XVII, nhiệm kỳ 2021-2026 đã thông qua nghị quyết hỗ trợ học phí cho trẻ mầm non đến học sinh trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh trong năm học 2024-2025. Với ngân sách cấp tỉnh dự kiến khoảng 142 tỷ đồng, tỉnh sẽ hỗ trợ toàn bộ học phí cho học sinh tại các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập, bao gồm cả học sinh theo chương trình giáo dục thường xuyên. Chính sách này không chỉ thể hiện sự quan tâm của tỉnh đối với an sinh xã hội mà còn thúc đẩy ngành giáo dục và đào tạo phát triển theo hướng nhân văn và bền vững. 3. Y tế Trong tháng, các ca bệnh truyền nhiễm ghi nhận gồm: 12 ca mắc tay chân miệng (cộng dồn từ đầu năm là 222 ca); 4 ca nhiễm Covid-19 (cộng dồn 543 ca); 31 ca bệnh sốt xuất huyết (cộng dồn 133 ca); 8 ca bệnh thủy đậu (cộng dồn 152 ca); 282 ca mắc cúm (cộng dồn 3.584 ca); 2 ca mắc ho gà (cộng dồn 25 ca). Tất cả các ca bệnh truyền nhiễm trong tháng không có trường hợp tử vong. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Trong kỳ, đã có 647 lượt cơ sở đã được kiểm tra, trong đó: số cơ sở đạt 582 cơ sở (chiếm tỷ lệ 89,95%), số cơ sở không đạt 65 cơ sở (chiếm 10,04%). 4. Văn hóa, thể thao Trong tháng 10/2024, tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức thành công 15 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân nông thôn, miền núi và công nhân các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh; chào mừng diễn đàn và Đại hội Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh Vĩnh Phúc, lần thứ VI, nhiệm kỳ 2024 – 2029. Hoạt động thể thao trong tháng 10/2024: Tỉnh đã cử các đoàn vận động viên tham gia thi đấu tại 8 giải thể thao quốc gia, khu vực và châu lục, đạt tổng cộng 17 huy chương, gồm 5 Huy chương Vàng, 7 Huy chương Bạc và 5 Huy chương Đồng. 5. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy nổ và bảo vệ môi trường. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Tính đến 15/10/2024, toàn tỉnh xảy ra 53 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (giảm 09 vụ so với tháng trước) làm 02 người chết và 07 người bị thương, thiệt hại tài sản 5.986,0 triệu đồng, đã điều tra làm rõ 45/53 vụ (đạt 84,9%), bắt giữ 94 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 1.821,57 triệu đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/10/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 259 vụ tai nạn giao thông (256 vụ tai nạn đường bộ, 03 vụ tai nạn đường sắt) làm 117 người chết, 196 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước tăng 80 vụ, tăng 18 người chết, tăng 62 người bị thương. Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/10/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 107 vụ cháy, nổ (trong đó, 106 vụ cháy và 01 vụ nổ), làm chết 03 người và 10 người bị thương với số tiền thiệt hại là trên 2.713 triệu đồng. Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/10/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 780 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 727 vụ với số tiền xử phạt là 4.519,7 triệu đồng./. Tin bài: Phòng Thống kê Tổng hợp
Xu hướng tích cực trong hoạt động đăng ký doanh nghiệp 10 tháng đầu năm 2024
- 04/11/2024 15:16
Trong 10 tháng đầu năm 2024, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục có nhiều tín hiệu tích cực. Mặc dù đối mặt với những thách thức từ sự biến động của thị trường toàn cầu, hoạt động đăng ký doanh nghiệp tại tỉnh vẫn duy trì sự ổn định. Nhiều ngành kinh tế chủ lực, như công nghiệp chế tạo, thương mại và dịch vụ, đã thể hiện sự hồi phục rõ rệt, giúp đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế của tỉnh. Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra một môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập và hoạt động, đặc biệt trong bối cảnh phục hồi kinh tế sau khó khăn. Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới: Theo số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 15/10/2024 có 1.226 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm nhẹ 1,61%, nhưng tăng về số vốn và số lao động đăng ký với mức tăng lần lượt là 7,79% và 18,09% so với cùng kỳ năm trước. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy sự mở rộng quy mô của các doanh nghiệp tại Vĩnh Phúc. Các ngành kinh tế chủ lực của tỉnh tiếp tục ghi nhận sự gia tăng trong số lượng và quy mô vốn đăng ký doanh nghiệp thành lập mới. Trong 17 ngành kinh tế chính, có 11 ngành có số doanh nghiệp mới tăng, và 14 ngành có tăng trưởng về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2023, một số ngành nổi bật như: Ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác có 475 doanh nghiệp, tăng 10,47%, với vốn đăng ký đạt 2.417 tỷ đồng, tăng 104,47%. Người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn cho phương tiện giao thông và các sản phẩm thiết yếu, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng quy mô đầu tư vào cơ sở vật chất và hệ thống phân phối. Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 43 doanh nghiệp, tăng 22,86%, với vốn đăng ký 648 tỷ đồng, tăng 187,36%. Nhu cầu du lịch nội địa phục hồi mạnh, đặc biệt là các loại hình lưu trú đa dạng từ khách sạn đến homestay. Doanh nghiệp trong ngành không ngừng mở rộng quy mô đầu tư vào hạ tầng và nâng cấp dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch.Homestay Tam Đảo Ngành thông tin và truyền thông có 19 doanh nghiệp, tăng 35,71%, vốn đăng ký tăng tới 839,81%, đạt 308 tỷ đồng. Sự bùng nổ của các dịch vụ trực tuyến, từ thương mại điện tử đến giải trí số, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư lớn vào hạ tầng kỹ thuật số, phần mềm và dịch vụ trực tuyến, đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao. Ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí có 12 doanh nghiệp, tăng 9,09%, với vốn đăng ký đạt 28 tỷ đồng, tăng 121,07%. Đời sống văn hóa và giải trí ngày càng phát triển, tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong ngành này mở rộng quy mô và đầu tư vào các hoạt động giải trí, nghệ thuật và sự kiện lớn. Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động Bên cạnh sự gia tăng số lượng doanh nghiệp mới, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng kinh doanh cũng ghi nhận những dấu hiệu tích cực. Trong 10 tháng đầu năm, có 318 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp mới thành lập và quay trở lại lên 1.544 doanh nghiệp. Tính riêng trong tháng 10 có tới 163 doanh nghiệp tham gia vào thị trường, trong đó, có 133 doanh nghiệp thành lập mới và 30 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Đây là tín hiệu lạc quan cho thấy niềm tin của doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanh tại tỉnh Vĩnh Phúc. Tình hình doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường Mặc dù có nhiều dấu hiệu tích cực, nhưng vẫn có 992 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 10 tháng đầu năm, trong đó, 836 doanh nghiệp lựa chọn tạm ngừng kinh doanh ngắn hạn, chiếm tỷ lệ 84,27%. Số doanh nghiệp giải thể trong cùng kỳ là 156 doanh nghiệp, tăng 36,84% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy vẫn còn những khó khăn và thách thức đối với một số ngành kinh doanh, đòi hỏi tỉnh cần tiếp tục hỗ trợ và cải thiện môi trường kinh doanh.Tình hình doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động 10 tháng đầu năm giai đoạn 2020-2024 Nhìn chung, hoạt động đăng ký doanh nghiệp tại Vĩnh Phúc trong 10 tháng đầu năm 2024 đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, góp phần gia tăng số lượng và quy mô các doanh nghiệp tham gia thị trường. Tính chung, có 552 doanh nghiệp mới được bổ sung vào nền kinh tế của tỉnh, bình quân mỗi tháng thêm 55 doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường tiếp tục chiếm ưu thế, với trung bình 154 doanh nghiệp/tháng, cao hơn 1,5 lần so với số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (99 doanh nghiệp/tháng). Để tiếp tục thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, tỉnh cần triển khai đồng bộ các biện pháp hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp, nhà đầu tư đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng. Đặc biệt, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch, và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, tạo niềm tin và ổn định môi trường kinh doanh. Tác giả: Nguyễn Thị Thu Thảo
Tình hình đời sống dân cư tỉnh Vĩnh Phúc 9 tháng đầu năm 2024
- 10/10/2024 15:07
Trong 9 tháng đầu năm 2024, đời sống dân cư tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều cải thiện tích cực nhờ phát triển kinh tế và thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội. Dù gặp khó khăn từ thiên tai và biến động kinh tế toàn cầu, tỉnh vẫn nỗ lực vượt qua thách thức, tạo việc làm, ổn định thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Tăng trưởng kinh tế và việc làm Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vĩnh Phúc đạt 7,95% trong 9 tháng đầu năm, nhờ sự phục hồi của ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Các ngành sản xuất chủ lực như linh kiện điện tử, ô tô, xe máy ghi nhận mức tăng trưởng đáng khích lệ. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này không chỉ duy trì sản xuất ổn định mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới, giúp cải thiện thu nhập cho người dân, đặc biệt là ở khu vực thành thị. Số lao động có việc làm trong tỉnh đạt 582,6 nghìn người, tương đương 97% lực lượng lao động, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 1,74%, thấp hơn 0,02% so với cùng kỳ năm trước.Sản xuất linh kiện điện tử: Nền tảng cho mọi thiết bị điện tử Đặc biệt, thị trường lao động có dấu hiệu tích cực khi 73,8% doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp duy trì ổn định số lượng lao động, và 17,5% doanh nghiệp có kế hoạch tuyển dụng thêm. Đã có 18.660 lao động được giải quyết việc làm trong 9 tháng qua, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2023 và vượt 9,8% kế hoạch năm 2024. Điều này phản ánh sự nỗ lực của tỉnh trong việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao đời sống người dân. Tình hình tiêu dùng và giá cả Sự khởi sắc của thị trường lao động kéo theo mức tiêu dùng tăng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 9 tháng đầu năm 2024 tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sức mua của người dân tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, khu vực nông thôn vẫn đối mặt với nhiều khó khăn do thiên tai, đặc biệt là cơn bão số 3, đã gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp. Hơn 1.700 ha lúa và hàng nghìn tấn thủy sản bị ngập úng, làm giảm đáng kể sản lượng. Các diện tích trồng cây hoa màu như ngô, lạc và rau cũng chịu tác động, ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ nông dân. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong 9 tháng đầu năm 2024 tăng 2,66% so với cùng kỳ, mức tăng này vẫn nằm trong tầm kiểm soát nhờ các biện pháp điều hành giá cả linh hoạt của tỉnh. Mặc dù giá lương thực tăng mạnh, với mức tăng 15,61%, nguyên nhân chủ yếu là do biến động của thị trường thế giới, nhưng các chính sách bình ổn đã giúp kiềm chế mức độ tăng giá, tránh tình trạng lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực đến chi phí sinh hoạt. Đây là nỗ lực đáng ghi nhận trong bối cảnh giá cả các mặt hàng thiết yếu trên thị trường quốc tế có nhiều biến động. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng đầu năm 2024 Chính sách an sinh xã hội và bảo hiểm Để giảm thiểu tác động của khó khăn kinh tế, tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai nhiều chính sách an sinh xã hội nhằm hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương. Tính đến tháng 9 năm 2024, Tỉnh đã trợ cấp cho 17.140 người có công với tổng số tiền 407,068 tỷ đồng, bao gồm trợ cấp hàng tháng và đột xuất, đảm bảo chế độ ưu đãi được giải quyết kịp thời, đúng quy trình. Công tác bảo trợ xã hội đạt nhiều kết quả tích cực với 44.364 người hưởng trợ cấp, tổng kinh phí 250,051 tỷ đồng. Các chương trình hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo, và người khó khăn cũng được triển khai, với chi phí 50,357 tỷ đồng. Ngoài ra, tỉnh đã cấp miễn phí 363.744 thẻ bảo hiểm y tế, mở rộng quyền tiếp cận chăm sóc sức khỏe. Về hỗ trợ tài chính, 107.697 đối tượng chính sách đã vay vốn với tổng dư nợ 4.499,870 tỷ đồng, giúp nâng cao thu nhập và tạo cơ hội thoát nghèo bền vững. Sau cơn bão số 3, tỉnh huy động trên 17 tỷ đồng từ các nguồn lực để hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng. Trong dịp Tết, đã có 34,2 tấn gạo được phân phát cho các hộ nghèo. Người dân Vĩnh Phúc cùng chung tay chia sẻ, ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do bão lũ gây ra Chính sách mở rộng bảo hiểm y tế giúp tỷ lệ bao phủ đạt 96,08% dân số, tương đương hơn 1,16 triệu người tham gia, đảm bảo quyền lợi chăm sóc sức khỏe cho người dân. Số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội cũng tăng lên đáng kể, với hơn 260.000 người, chiếm 43% lực lượng lao động, trong đó có 24.000 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Ngành y tế, giáo dục, các hoạt động, văn hóa thể thao Trong 9 tháng đầu năm, ngành y tế Vĩnh Phúc đã nỗ lực kiểm soát các dịch bệnh phổ biến, đặc biệt trong mùa mưa lũ, như sốt xuất huyết và tiêu chảy. Nhờ sự chủ động triển khai các biện pháp phòng chống, tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, không để bùng phát trên diện rộng. Bên cạnh đó, công tác giám sát an toàn thực phẩm được thực hiện chặt chẽ, giúp nâng cao chất lượng sức khỏe cộng đồng. Các chương trình tiêm chủng mở rộng cũng được duy trì thường xuyên, đảm bảo tiêm phòng đầy đủ cho trẻ em và người dân. Lĩnh vực giáo dục cũng đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 2024, Vĩnh Phúc có 89/98 học sinh dự thi đạt giải, xếp thứ 5 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải, trong đó có 9 học sinh lọt vào vòng 2 để chọn đội tuyển quốc gia dự thi quốc tế. Để hỗ trợ học sinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, tỉnh đã áp dụng chính sách giảm 50% học phí từ năm học 2024-2025, góp phần giảm gánh nặng tài chính cho các gia đình khó khăn. Công tác đào tạo nghề cũng được đẩy mạnh với gần 20.000 người tham gia các khóa đào tạo, đạt 88,7% kế hoạch năm. Việc tăng cường đào tạo nghề đã góp phần cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho các ngành kinh tế chủ lực, nâng cao năng suất lao động và cải thiện cơ hội việc làm cho người dân, nhất là lao động trẻ. Các hoạt động văn hóa, thể thao tại Vĩnh Phúc trong 9 tháng đầu năm diễn ra sôi nổi, thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng. Những sự kiện văn hóa như lễ hội truyền thống, các giải đấu thể thao thường xuyên được tổ chức đã tạo không khí phấn khởi, góp phần nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của người dân. Trong 9 tháng đầu năm 2024, tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế và nâng cao đời sống dân cư, mặc dù vẫn còn nhiều thách thức. Sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ đã tạo điều kiện cải thiện thu nhập và giảm tỷ lệ thất nghiệp. Các chính sách an sinh xã hội và hỗ trợ y tế được triển khai kịp thời, giúp bảo vệ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương, trong khi lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề tiếp tục phát huy hiệu quả, tạo nền tảng phát triển bền vững cho tỉnh. Tuy nhiên, tỉnh cần tiếp tục tăng cường hỗ trợ nông nghiệp, khắc phục hậu quả thiên tai và tìm kiếm các giải pháp lâu dài để nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, góp phần phát triển toàn diện và bền vững. Tác giả: Nguyễn Thị Huyền Trang
Chi bộ Cục Thống kê tổ chức Lễ kết nạp Đảng viên mới
- 10/10/2024 13:22
Ngày 09/10/2024 Chi bộ Cục Thống kê tổ chức lễ kết nạp Đảng viên cho quần chúng ưu tú Bùi Thục Anh theo Quyết định số 2474-QĐ/ĐUK ngày 16/9/2024 của Ban thường vụ Đảng uỷ Khối cơ quan tỉnh.Tham dự và chỉ đạo buổi lễ có đồng chí Nguyễn Hồng Phong - Bí thư Chi bộ cùng toàn thể các đồng chí đảng viên Chi bộ Cục Thống kê.Sau một thời gian dài phấn đấu, chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, rèn luyện đạo đức lối sống, trau dồi nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quần chúng ưu tú Bùi Thục Anh đã được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng.Đ/c Nguyễn Hồng Phong - Bí thư Chi bộ, Cục trưởng CTK trao quyết định kết nạp Đảng viên mớiLễ kết nạp đảng viên diễn ra trong không khí trang nghiêm, đúng trình tự, thủ tục Điều lệ Đảng. Tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Hồng Phong - Bí thư Chi bộ đã trao quyết định kết nạp, phân công nhiệm vụ cho đảng viên mới, đồng thời phân công đồng chí đảng viên chính thức trong Chi bộ tiếp tục giúp đỡ, đồng chí Bùi Thục Anh trong thời gian 12 tháng dự bị.Dưới cờ tổ quốc, cờ đảng và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng sự chứng kiến của các đảng viên trong Chi bộ, đồng chí Bùi Thục Anh đã tuyên thệ, hứa sẽ tiếp tục phấn đấu để luôn xứng đáng là người đảng viên gương mẫu, đóng góp sức mình thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị của Chi bộ, góp phần xây dựng Chi bộ ngày càng vững mạnh.Tại buổi lễ, Chi bộ đã trao quyết định chuyển đảng chính thức có đảng viên dự bị Trần Đại Thành theo Quyết định số 2469-QĐ/ĐUK ngày 16/9/2024 của Ban Thường vụ Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh. Đ/c Nguyễn Hồng Phong - Bí thư Chi bộ, Cục trưởng CTK trao quyết định chuyển Đảng chính thứcLễ kết nạp đảng viên là sinh hoạt chính trị trong Chi bộ, góp phần rèn luyện tư tưởng, phẩm chất đạo đức cho từng Đảng viên. Qua Lễ kết nạp, Chi bộ Cục Thống kê đã bổ sung đảng viên có trình độ, năng lực đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, tăng cường sức mạnh lãnh đạo của Đảng./.Bùi Thị Thùy
Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2024
- 03/10/2024 14:05
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)Quý III năm 2024, sản xuất công nghiệp có nhiều khởi sắc, giúp kinh tế Vĩnh Phúc tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và phát triển. Tốc độ tăng GRDP ước tăng 10,62% so với cùng kỳ, trong đó khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 16,09%, đóng góp 7,67 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP quý III. Tính chung 9 tháng đầu năm, GRDP tỉnh Vĩnh Phúc tăng 7,95% (đứng thứ 20/63 cả nước; đứng 8/11 vùng Đồng bằng sông Hồng). Trong đó, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,16%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,69%; khu vực dịch vụ tăng 7,21%; thuế sản phẩm (trừ trợ cấp sản phẩm) tăng 2,41%. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 2.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt: Diện tích gieo trồng lúa mùa năm 2024 ước đạt 23.434,2 ha, giảm 0,46% so cùng kỳ. Tính đến nay, tỉnh đã thu hoạch gần 56% diện tích lúa mùa, năng suất ước đạt 50,69 tạ/ha, giảm 5,88 tạ/ha so với năm trước; sản lượng ước đạt 118.778,9 tấn, giảm 14.393,8 tấn. b. Chăn nuôi: Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm đạt 102.848 tăng 4,45% (trong đó thịt lợn hơi tăng 8,35%; gia cầm hơi giảm 2,27%); sản lượng trứng tăng 9,87% so cùng kỳ. 2.2. Sản xuất lâm nghiệpTrong 9 tháng đầu năm 2024, tỉnh Vĩnh Phúc đã trồng 600 ha rừng tập trung, đạt 100% kế hoạch, giảm 9,31% so với năm trước do diện tích rừng khai thác giảm. 2.3. Sản xuất thuỷ sảnDo ảnh hưởng của mưa bão, nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản bị ngập, ảnh hưởng đến kết quả sản xuất thủy sản. Sản lượng thu hoạch thủy sản tháng 9/2024 đạt 2.520,2 tấn, giảm 7,40% so với cùng kỳ năm trước. 9 tháng đầu năm 2024, sản lượng thủy sản ước đạt 18.846 tấn, tăng 1,75% so cùng kỳ. 3. Sản xuất công nghiệpTháng 9/2024, chỉ số IIP ước tính giảm 0,97% so với tháng trước và tăng 16,56% so với cùng kỳ. Tình hình một số ngành công nghiệp chủ lực như sau:- Ngành sản xuất linh kiện điện tử tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của ngành công nghiệp tỉnh, chỉ số sản xuất tháng 9/2024 tăng 23,18% so với cùng kỳ. - Ngành sản xuất ô tô có IIP giảm 5,7% trong tháng 9 và chỉ tăng 0,37% trong 9 tháng đầu năm, do trong bối cảnh kinh tế khó khăn, người dân hạn chế mua sắm các sản phẩm có giá trị cao trong đó có sản phẩm ô tô.- Ngành sản xuất xe máy có chỉ số IIP tăng nhẹ 0,23% trong tháng 9 và tăng 8,28% trong 9 tháng đầu năm.- Ngành sản xuất kim loại và sản phẩm từ khoáng phi kim loại đều tăng trưởng tích cực: Chỉ số IIP ngành sản xuất kim loại tháng 9 tăng 4,34% so với cùng kỳ và trong 9 tháng đầu năm tăng 7,89%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng mạnh 38,70% trong tháng 9 và tăng 17,84% trong 9 tháng đầu năm. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp: Tháng 9/2024, thị trường lao động trong ngành công nghiệp ổn định và có sự tăng trưởng nhẹ, đặc biệt ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tăng 4,93% so với tháng trước và 4,71% so với cùng kỳ.Chỉ số tiêu thụ: Tháng 9/2024, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 3,92% so với tháng trước và 7,51% so với cùng kỳ. Chỉ số tồn kho: Tháng 9/2024, chỉ số tồn kho ngành chế biến, chế tạo giảm 6,55% so với tháng trước và 11,75% so với cùng kỳ, cho thấy sự cải thiện về tiêu thụ. 4. Hoạt động của doanh nghiệp 4.1. Tình hình đăng ký doanh nghiệpTính đến ngày 15/9/2024, toàn tỉnh có 1.093 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 9.482 tỷ đồng, giảm 1,53% về số doanh nghiệp, tăng 7,80% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp quay lại hoạt động là 288 doanh nghiệp, giảm 2,70% so cùng kỳ, trong khi số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 794 doanh nghiệp, tăng 25,04% so cùng kỳ, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể 144 doanh nghiệp, tăng 35,85%. 4.2. Xu hướng SXKD ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Theo đánh giá từ các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) trong quý III/2024 đã có sự khởi sắc so với quý II/2024, với 76,7% doanh nghiệp cho rằng hoạt động của họ đang tiến triển tốt hơn hoặc duy trì ổn định (38,4% tốt hơn và 38,3% ổn định). Ngược lại, 23,3% doanh nghiệp cảm thấy gặp khó khăn hơn. Dự báo cho quý IV/2024 có xu hướng tích cực, khi 39,2% dự đoán tình hình sẽ cải thiện, 41,2% tin rằng sẽ duy trì ổn định và 19,6% lo ngại về khó khăn trong sản xuất kinh doanh sắp tới. 5. Thương mại, dịch vụ 5.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (tổng mức) trên địa bàn trong tháng Chín đạt 6.919,7 tỷ đồng, tăng nhẹ 1,84% so với tháng trước và tăng 12,36% so với cùng kỳ. Quý III/2023, tổng mức ước đạt 20.609,3 tỷ đồng, tăng 7,23% so với quý trước và tăng 13,23% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2024, tổng mức ước đạt 58.288,5 tỷ đồng, tăng 9,01% so với cùng kỳ. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hoá Trong 9 tháng đầu năm 2024, hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục phát triển, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh, mặc dù chịu ảnh hưởng từ cơn bão số 03 trong tháng 9, gây gián đoạn một phần hoạt động vận tải. Lũy kế doanh thu 9 tháng đầu năm 2024 ước đạt 6.156,5 tỷ đồng, tăng 26,92% so với cùng kỳ năm trước. II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ 1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nướcTheo số liệu của Kho bạc Nhà nước, tính đến 15/9/2024 thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 19.950,6 tỷ đồng, tăng 9,67% so với cùng kỳ, đạt 62,81% dự toán giao đầu năm. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/9/2024 đạt 16.987,5 tỷ đồng, giảm 5,88% so với cùng kỳ, bằng 81,92% dự toán giao đầu năm. 2. Hoạt động ngân hàng, tín dụngTổng nguồn vốn huy động dự kiến tại thời điểm 30/9/2024 đạt 130,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,15% so với cuối năm 2023. Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm 30/9/2024, đạt 136,5 nghìn tỷ đồng, tăng 6,51% so với cuối năm 2023. Tỷ lệ nợ xấu: Mặc dù được kiểm soát ở mức an toàn <2%, ước tính tại thời điểm 30/9/2024 đạt 1.450 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,06%. 3. Bảo hiểmƯớc tính đến 30/9/2024, toàn tỉnh có 1.187.845 người tham gia bảo hiểm các loại. Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại đến hết tháng 9 năm 2024 ước đạt 5.166,2 tỷ đồng, đạt 72,9% kế hoạch giao và tăng 19,56% so với cùng kỳ năm 2023. 4. Hoạt động đầu tư Quý III/2024, hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn phát triển ổn định đã thu hút không nhỏ lượng vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước, trong khi đó, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước giảm do thời tiết mưa nhiều, ngập úng ảnh hưởng tiến độ thi công các công trình. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn ước đạt 14.263,8 tỷ đồng, tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2024, tổng vốn đầu tư phát triển ước đạt 37.344,8 tỷ đồng, tăng 5,02% so với cùng kỳ, tăng ở cả 3 khu vực. Tình hình thu hút đầu tư: Chín tháng đầu năm 2024, tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực trong công tác thu hút đầu tư. Theo số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, đến ngày 15/9/2024, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 58 dự án FDI (28 dự án cấp mới, 30 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 507,94 triệu USD, tăng 3,44% so với cùng kỳ, vượt 26,99% kế hoạch giao đầu năm (400 triệu USD). Lũy kế 9 tháng đầu năm toàn tỉnh đã thu hút được 20 dự án DDI (13 dự án cấp mới, 07 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 4.640,18 tỷ đồng, bằng 84,37% kế hoạch giao đầu năm (5.500 tỷ đồng). 5. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa Chín tháng đầu năm, hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn đạt tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp chủ yếu từ nhóm ngành máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện và nhóm máy móc, thiết bị và phụ tùng.Theo số liệu báo cáo của Chi cục Hải quan tỉnh Vĩnh Phúc[1], tính đến ngày 15/9/2024 kim ngạch xuất khẩu ước đạt 13.049 triệu USD, tăng 12,58% so với cùng kỳ. Số liệu xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp thực hiện các thủ tục thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Vĩnh Phúc. 6. Chỉ số giá 6.1. Chỉ số giá tiêu dùng: Tháng 9/2024, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 2,93% so với cùng kỳ năm trước. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 9/2024 tăng 2,93%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, có 9 nhóm tăng giá và 2 nhóm giảm giá.Bình quân 9 tháng đầu năm 2024, CPI tăng 2,66% so với cùng kỳ năm trước. 6.2. Chỉ số giá sản xuất- Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2024 tăng 6,26% so với quý trước và tăng 10,97% so với cùng kỳ năm 2023. Tính chung 9 tháng đầu năm, chỉ số giá của nhóm này tăng 11,98%.- Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý III/2024 giảm 1,54% so với quý trước, tính chung 9 tháng giảm 0,82% so với cùng kỳ. 6.3. Chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất Trong quý III và 9 tháng đầu năm 2024, thị trường hàng hóa và dịch vụ phục vụ sản xuất tiếp tục chịu ảnh hưởng của biến động giá cả hàng hóa và dịch vụ thế giới. Nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản ghi nhận mức tăng mạnh với chỉ số giá quý III tăng 4,52%, trong đó giá lợn giống tăng tới 22,38%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá của nhóm này tăng 10,34%, cho thấy sự phục hồi của ngành chăn nuôi sau khi dịch bệnh được kiểm soát. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có xu hướng ổn định, với chỉ số giá giảm 0,25% trong quý III, do giá dầu mỏ và nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi giảm. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng, chỉ số giá tăng 0,84%.Ngành xây dựng bị ảnh hưởng bởi thời tiết xấu và các công trình khởi công ít, khiến chỉ số giá quý III giảm 1,08%. Trong 9 tháng đầu năm, chỉ số giá của ngành vẫn tăng 1,62% nhờ nhu cầu về dây điện và thiết bị điện tăng trưởng III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội Lực lượng lao động, lao động có việc làm: Trong quý III năm 2024, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh ước đạt 600,6 ngàn người, tăng 0,05% so với quý trước nhưng giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2023.Giải quyết việc làm: 9 tháng đầu năm, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 18.660 lao động, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2023; vượt 9,8% kế hoạch năm 2024Công tác giảm nghèo, an sinh xã hội: Tỉnh đã thực hiện tốt công tác hỗ trợ cho người có công, bảo trợ xã hội và các đối tượng khó khăn. Hiện có 17.140 người có công và thân nhân nhận trợ cấp với tổng số tiền 407.068 triệu đồng, bao gồm trợ cấp hàng tháng và trợ cấp đột xuất. Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Hiện nay, tổng số đối tượng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng trên địa bàn tỉnh là 17.140 người, số tiền trợ cấp trong 9 tháng cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng là 407.068 triệu đồng (trong đó, trợ cấp hàng tháng: 357.270,5 triệu đồng, trợ cấp đột xuất 49.797,5 triệu đồng). 2. Giáo dục, đào tạoNăm học 2023-2024, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc đạt nhiều thành tựu quan trọng. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, tỉnh có 89/98 học sinh đạt giải, xếp thứ 5 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải và số lượng giải Nhất. Ngoài ra, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-HĐND quy định mức thu học phí cho các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh từ năm học 2024-2025, có hiệu lực từ ngày 01/8/2024. Mức học phí này giảm đến 50% so với năm học 2023-2024, nhằm hỗ trợ học sinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng khó khăn khác. 3. Y tếNgành Y tế tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai sâu rộng công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, tập trung vào các dịch bệnh phổ biến trong mùa mưa lũ như sốt xuất huyết, tả, thương hàn, và tiêu chảy. Về vệ sinh an toàn thực phẩm, ngành Y tế đã đẩy mạnh tuyên truyền phòng chống ngộ độc thực phẩm thông qua các hoạt động truyền thông, giám sát và thanh tra. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, với tổng số 456 người mắc nhưng không có ca tử vong. 4. Văn hóa, thể thaoCác hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày kỷ niệm, ngày lễ lớn được tỉnh tổ chức long trọng với nội dung đa dạng, phong phú. Cùng với đó, phong trào văn hóa - văn nghệ quần chúng trên địa bàn tỉnh cũng phát triển mạnh mẽ, thu hút sự tham gia của đông đảo người dân thuộc mọi lứa tuổi, đáp ứng nhu cầu giải trí, nâng cao sức khỏe, đời sống văn hóa tinh thần cho người dân. 9 tháng đầu năm 2024, tỉnh đã tổ chức 68 buổi chiếu phim lưu động tại nông thôn, 110 buổi tại miền núi và 15 buổi tại khu công nghiệp, cùng với 202 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị và cộng đồng. 5. Tình hình trật tự an toàn xã hội và tai nạn giao thông Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội: Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 506 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội. làm chết 15 người, bị thương 64 người, thiệt hại tài sản 77,2 tỷ đồng, đã điều tra làm rõ 443 vụ (đạt 87,54%) với 1.082 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 5,9 tỷ đồng. Tình hình tai nạn giao thông: Tính đến 15/9/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 230 vụ tai nạn giao thông (228 vụ tai nạn đường bộ, 03 vụ tai nạn đường sắt) làm 103 người chết, 180 người bị thương, tài sản thiệt hại khoảng 3.134,7 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 51 vụ, giảm 04 người chết, tăng 46 người bị thương. Tình hình cháy, nổ: Tính đến 15/9/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 103 vụ cháy, nổ (trong đó, 102 vụ cháy và 01 vụ nổ), làm chết 03 người và 10 người bị thương với số tiền thiệt hại là trên 2.299,9 triệu đồng 6. Tình hình thiệt hại thiên tai và công tác bảo vệ môi trường Tình hình thiên tai: Trong 9 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ thiên tai, làm chết 06 người; bị thương 03 người; sập 25 nhà, 460 nhà bị hư hại từ 30% trở lên; ngập úng 2.188,92 ha lúa, 1.017,26 ha hoa màu; 600 con gia súc và 25.559 con gia cầm bị chết và lũ cuốn trôi. Ước tính thiệt hại khoảng 322.439,62 triệu đồng. Trong đó, thiệt hại do cơn bão số 3 (Yagi) gây ra: ước tính 170.288,7 triệu đồng; làm 2 người chết, 2 người bị thương, sập 11 nhà và hư hại 96 nhà khác; 1.782,04 ha lúa và 657,72 ha hoa màu bị ngập úng, 600 con gia súc và 17.917 con gia cầm bị chết hoặc cuốn trôi. Công tác bảo vệ môi trường: Tính đến ngày 15/9/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 768 vụ vi phạm môi trường, số vụ đã xử lý là 705 vụ với số tiền xử phạt là 6.327,5 triệu đồng./. Phòng Thống kê Tổng hợp
Hội thảo khoa học quốc gia: Phát triển Logistics trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 tại Vĩnh Phúc
- 27/09/2024 09:58
Sáng ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Vĩnh Phúc, Cục Thống kê tỉnh phối hợp với Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Phát triển Logistics trong bối cảnh hội nhập cách mạng công nghiệp 4.0”. Hội thảo thu hút sự tham gia của đại diện các sở, ngành trên địa bàn tỉnh, lãnh đạo, công chức Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, cùng đại diện Trung tâm nghiên cứu, tư vấn kinh tế và kinh doanh Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và một số doanh nghiệp logistics hoạt động tại địa phương.TS. Vũ Tuấn Anh - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Tư vấn Kinh tế và Kinh doanh Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hội thảo lần này nằm trong khuôn khổ đề tài khoa học “Đánh giá năng lực cung ứng dịch vụ của các doanh nghiệp logistics trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”. Đây là đề tài quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2021-2025, đồng thời giúp các cấp, ngành chức năng xây dựng chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động logistics trên địa bàn. Trong khuôn khổ hội thảo, các đại biểu đã nghe 04 bài tham luận chuyên sâu về các chủ đề: Logistics Thương mại điện tử; Tiềm năng phát triển cảng cạn ICD tỉnh Vĩnh Phúc; Thực trạng xuất nhập khẩu tại tỉnh Vĩnh Phúc; và Năng lực cung ứng dịch vụ E-logistics – Điển hình từ tỉnh Vĩnh Phúc. Các bài tham luận do đại diện Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê tỉnh, nhóm nghiên cứu và đại diện doanh nghiệp trình bày, cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng cũng như tiềm năng phát triển logistics trong tương lai của tỉnh. Diễn giả: TS. Bùi Thị Lành, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Diễn giả: Nguyễn Thị Ngọc Mai, Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc Phần thảo luận tại hội thảo diễn ra sôi nổi với nhiều ý kiến trao đổi từ đại diện các doanh nghiệp về những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động logistics tại địa phương. Đồng thời, các sở ngành cũng đưa ra những quan điểm và kinh nghiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực phụ trách. Những đóng góp ý kiến này sẽ giúpnhóm nghiên cứu hoàn thiện đề án, đưa ra những giải pháp cụ thể và hiệu quả hơn. Diễn giả: Trần Huyền Trang, Trưởng phòng Kinh tế Đối ngoại, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc Ông: Nguyễn Văn Luân, giám đốc công ty TNHH XNK & TM Trường Giang Vĩnh Phúc Hội thảo kết thúc với sự đồng thuận cao về việc cần phối hợp chặt chẽ giữa các bên để thực hiện hiệu quả các giải pháp phát triển logistics tại Vĩnh Phúc. Các đại biểu nhấn mạnh, hoàn thiện đề án chỉ là bước đầu, quan trọng là thực hiện quyết liệt và điều chỉnh kịp thời để đạt được mục tiêu đề ra. Với lộ trình rõ ràng và nỗ lực chung, ngành logistics của tỉnh sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội trong giai đoạn hội nhập và cách mạng công nghiệp 4.0./.Toàn thể Đại biểu tham dự Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Mai
Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tháng Tám và 8 tháng năm 2024
- 05/09/2024 14:00
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sảnSản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung hoàn thành công tác gieo trồng cây vụ mùa và chăm sóc cây lúa đang độ làm đòng. Chăn nuôi lợn phát triển so với cùng kỳ cả về số lượng đầu con và sản lượng thịt hơi xuất chuồng; chăn nuôi gia cầm tiếp tục xu hướng chuyển dịch từ gà thịt sang gà đẻ do giá bán gà thịt còn biến động. Sản xuất lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục duy trì, với sản lượng gỗ khai thác và thủy sản đều tăng so cùng kỳ. 1.1. Sản xuất nông nghiệpa. Trồng trọtTiến độ gieo trồng vụ mùa năm 2024: Tính đến 15/8, toàn tỉnh đã gieo trồng được 31.754,6 ha, đạt 99,23% kế hoạch, giảm 0,80% tương ứng giảm 257,3 ha so với cùng kỳ. b. Chăn nuôiTình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn trong tháng Tám phát triển tốt. Tính chung 8 tháng đầu năm, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 4,50% (trong đó thịt lợn hơi tăng 8,56%; gia cầm hơi giảm 2,71%); sản lượng trứng tăng 9,77% so cùng kỳ.1.2. Sản xuất lâm nghiệpKết quả sản xuất lâm nghiệp tháng 8/2024: Diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 40,6 ha, giảm 24,11% so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác đạt 4.477,0 m3, tăng 6,19%; sản lượng củi khai thác đạt 3.980,0 ste, giảm 0,85%.Tính chung 8 tháng, toàn tỉnh trồng mới 565,8 ha rừng tập trung, giảm 8,21%; sản lượng gỗ khai thác đạt 31.652,1 m3, tăng 4,36%; sản lượng củi khai thác đạt 32.911,4 ste, tăng 1,48% so với cùng kỳ năm trước.1.3. Sản xuất thuỷ sảnSản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh trong tháng ổn định. Tính chung 8 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 16.325,4 tấn, tăng 3,32%, tương ứng tăng 524,8 tấn; trong đó, sản lượng nuôi trồng ước đạt 15.099,7 tấn, tăng 3,51%; sản lượng khai thác 1.225,8 tấn, tăng 1,08%; sản lượng con giống ước đạt 2.843,0 triệu con, tăng 2,04% so với cùng kỳ.2. Sản xuất công nghiệpTừ đầu năm đến nay, sản xuất công nghiệp của tỉnh có sự phục hồi và duy trì đà tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp trên địa bàn (IIP) ghi nhận chuỗi tăng 6 tháng liên tiếp (sau sự sụt giảm vào tháng Hai[1]). Trong tháng, các doanh nghiệp/cơ sở sản xuất công nghiệp nhận được nhiều đơn hàng, mở rộng sản xuất, tuyển dụng thêm lao động, nhất là các doanh nghiệp trong lĩnh vực điện tử, dệt may, da giày... Tháng 8/2024, IIP ước tính tăng 0,08% so với tháng trước và tăng 15,94% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng đầu năm 2024, IIP toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 12,31% so với cùng kỳ năm 2023. Sản phẩm sản xuất: Tính chung 8 tháng đầu năm nay, ước tính sản lượng sản xuất của một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đều tăng so với cùng kỳ, trừ sản lượng giày thể thao và xe ô tô các loại giảm nhưng mức giảm không đáng kể.Chỉ số sử dụng lao động: Tháng 8/2024, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 2,49% so với tháng trước và tăng 4,55% so với cùng kỳ. So với cùng kỳ, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,62%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 2,66% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,63% so với cùng kỳ.Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tháng 8/2024, chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước giảm 5,73% so với tháng trước và tăng 16,44% so với cùng kỳ; chỉ số tồn kho tăng 6,85% so với tháng trước và tăng 1,11% so với cùng kỳ.3. Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp3.1. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nướcVốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước tiếp tục được các đơn vị đẩy mạnh thực hiện. Kết quả thực hiện vốn đầu tư nguồn ngân sách Nhà nước tháng 8/2024 ước đạt 731,8 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý thực hiện ước đạt 4.829,5 tỷ đồng, giảm 4,79% so với cùng kỳ.So với kế hoạch năm, kết quả thực hiện vốn ngân sách nhà nước 8 tháng đầu năm do địa phương quản lý đạt cấp xã đạt tỷ lệ cao nhất với 1.181,3 tỷ đồng, đạt 95,16%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 1.530,3 tỷ đồng, bằng 69,35%; vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.117,9 tỷ đồng, bằng 45,19%.3.2. Thu hút đầu tư trực tiếpKết quả thu hút đầu tư 8 tháng đầu năm đạt khá: Tính đến ngày 15/8/2024, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 53 dự án FDI, gồm 26 dự án cấp mới và 27 dự án điều chỉnh vốn, với tổng vốn đăng ký đạt 498,13 triệu USD, tăng 3,92% về số dự án và tăng 6,38% về tổng vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước, vượt 24,53% kế hoạch giao. Kết quả thu hút vốn DDI: Tính đến ngày 15/8/2024, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 18 dự án DDI với tổng vốn đăng ký đạt 3.601,53 tỷ đồng, bằng 65,48% kế hoạch giao.3.3. Tình hình đăng ký doanh nghiệpTính đến ngày 15/8/2024, toàn tỉnh có 990 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 8.784 tỷ đồng, giảm 1,69% về số doanh nghiệp, tăng 8,58% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 8 tháng đầu năm là 271 doanh nghiệp, giảm 0,73% so với cùng kỳ. Số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể trong kỳ là 907 doanh nghiệp, tăng 28,84% so với cùng kỳ.4. Thương mại, dịch vụ và giá cảTháng 8/2024, hoạt động lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ trên địa bàn tiếp tục ổn định và duy trì được sự tăng trưởng so với tháng trước, giá các mặt hàng thiết yếu nhìn chung ổn định, không có biến động lớn, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Trong tháng, các sự kiện như Lễ hội đường phố LaLa Town Đại Lải tại Phúc Yên và giải bóng chuyền nữ SEA V.League 2024 tại Vĩnh Yên đã thu hút sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước. Đồng thời, chuẩn bị bước vào năm học mới, nhu cầu mua sắm hoặc tổ chức các chuyến tham quan và liên hoan gia đình có xu hướng tăng so với cùng kỳ đã góp phần tăng doanh thu thương mại, dịch vụ trên địa bàn.4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùngTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tháng 8/2024 ước đạt 6.913,0 tỷ đồng tăng 0,27% so với tháng trước và tăng 15,19% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 51.486,9 tỷ đồng tăng 8,82% so với cùng kỳ. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hoáTháng 8/2024, hoạt động giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh ổn định, tổng doanh thu ngành vận tải ước đạt 751,6 tỷ đồng, tăng 1,47% so với tháng trước và tăng 27,32% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng đầu năm, doanh thu ngành vận tải ước đạt 5.550,9 tỷ đồng, tăng 30,97% so với cùng kỳ. 4.3. Chỉ số giáTháng 8/2024, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn tỉnh tăng 0,72% so với tháng trước, tăng 2,97% so với cùng kỳ. CPI tháng 8/2024 tăng 0,72% so với tháng trước và tăng 2,97% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 8 tháng đầu năm 2024, CPI tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 8/2024, chỉ số giá vàng tăng 1,27% so với tháng trước, tăng 35,69% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,69% so với tháng trước, tăng 6,69% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 8 tháng đầu năm, chỉ số giá vàng tăng 29,61%, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 6,58% so với cùng kỳ.5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm5.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nướcTính từ 16/7-15/8/2024 thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 2.775 tỷ đồng, tăng 78,99% so với tháng trước và tăng 69,21% so với cùng kỳ. Lũy kế đến hết 15/8/2024, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 18.776 tỷ đồng, tăng 10,02% so với cùng kỳ, bằng 59,11% dự toán giao đầu năm. Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/8/2024 đạt 15.556 tỷ đồng, giảm 4,78% so với cùng kỳ, bằng 75,01% dự toán giao đầu năm.5.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụngDự kiến tại thời điểm 31/8/2024, tổng nguồn vốn huy động đạt 130 nghìn tỷ đồng, tăng 2,99% so với cuối năm 2023. Ước tính tại thời điểm 31/8/2024, tổng dư nợ cho vay đạt 136 nghìn tỷ đồng, tăng 6,12% so với cuối năm 2023. Dư nợ các chương trình tín dụng chính sách ước đạt 4,6 nghìn tỷ đồng; tăng 1% so với cuối năm 2023, với hơn 109 ngàn khách hàng đang vay vốn. 5.3. Bảo hiểmƯớc tính đến 31/8/2024, toàn tỉnh có 1.179.308 người tham gia bảo hiểm các loại. Tổng số tiền thu bảo hiểm các loại đến hết tháng 8 năm 2024 ước đạt 4.431,7 tỷ đồng, đạt 63,19% kế hoạch giao và tăng 3,04% so với cùng kỳ năm 2023. Tám tháng đầu năm 2024, BHXH tỉnh đã giải quyết hưởng BHXH hàng tháng cho 473 người; giải quyết hưởng BHXH một lần cho 10.217 người; giải quyết ốm đau, thai sản, dưỡng sức cho 89.120 lượt người; lập danh sách chi trả cho 8.294 lượt người hưởng bảo hiểm thất nghiệp.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động, giải quyết việc làmTính từ 15/7/2024 đến 14/8/2024, số lao động nghỉ giãn việc là 255 lao động, tăng 167 người so với tháng 7/2024; lao động thôi việc, mất việc là 2.705 lao động, giảm 459 người.Công tác giải quyết việc làm duy trì ổn định. Tính đến ngày 15/8/2024, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 16.668 lao động. 2. Y tế- Tình hình dịch bệnh: Trong tháng, ngành Y tế tỉnh đã triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch; điều tra dịch tễ và giám sát các trường hợp mắc, nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm nhằm phát hiện sớm và kiểm soát dịch kịp thời, hạn chế tối đa tỷ lệ mắc và tử vong. Đồng thời, toàn ngành luôn chuẩn bị sẵn sàng thuốc, hóa chất, vắc xin, vật tư và nhân lực để ứng phó khi dịch xảy ra; đảm bảo an toàn trong tiêm chủng, duy trì loại trừ bệnh Phong, thanh toán Bại liệt và loại trừ Uốn ván sơ sinh.- Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm và ngộ độc thực phẩm: Trong tháng, ngành Y tế và UBND các cấp đã kiểm tra, giám sát 148 cơ sở, trong đó 135 cơ sở đạt tiêu chuẩn (91,2%), 13 cơ sở không đạt. Các cơ sở có vi phạm nhỏ đã được nhắc nhở. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chưa phát hiện xảy ra ngộ độc thực phẩm.3. Văn hóa, thể dục & thể thao- Về văn hóa: Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2024) và Quốc khánh Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2024), nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật đã được tổ chức trên toàn tỉnh. Bên cạnh đó, kỷ niệm 77 năm Ngày Độc lập của Ấn Độ (15/8/1947 - 15/8/2024), UBND tỉnh phối hợp Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam tổ chức chương trình Múa cổ điển Ấn Độ ngày 13/8, với sự chủ trì của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Sở Ngoại vụ, chương trình nhận được sự yêu thích từ công chúng.- Về thể dục, thể thao: Trong tháng, tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức thành công Giải Bóng chuyền nữ Đông Nam Á năm 2024 (SEA V. League), diễn ra từ ngày 02 - 04/8/2024 tại Nhà thi đấu Thể dục Thể thao tỉnh Vĩnh Phúc. 4. Giáo dục và đào tạoNgày 14/8/2023, UBND tỉnh Vĩnh Phúc có Quyết định số 1161/QĐ-CT về việc ban hành Khung kế hoạch thời gian năm học 2024-2025 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Theo đó, các cơ sở giáo dục sẽ tổ chức khai giảng vào ngày 5/9. Hiện nay, các cấp học trên địa bàn tỉnh đang khẩn trương hoàn thiện việc bổ sung, sửa chữa cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tu sửa cảnh quan trường lớp để chào đón năm học mới.5. Tình hình an ninh, trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ- Tình hình trật tự an toàn xã hội: Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 44 vụ vi phạm trật tự an toàn xã hội (tăng 07 vụ so với tháng trước) làm 07 người bị thương, thiệt hại tài sản 10.608,77 triệu đồng, đã điều tra làm rõ 34 vụ (đạt 77,27%), bắt giữ 61 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá 428,99 triệu đồng.- Tình hình an toàn giao thông: Trong kỳ, trên địa bàn tỉnh xảy ra 24 vụ tai nạn giao thông làm 11 người chết, 17 người bị thương. Lũy kế từ đầu năm đến 15/8/2024, toàn tỉnh xảy ra 204 vụ tai nạn, 90 người chết và 164 người bị thương.- Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/7/2024 đến ngày 15/8/2024, toàn tỉnh xảy ra 12 vụ cháy số tiền thiệt hại của 10/12 vụ là 512,6 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến 15/8/2024, toàn tỉnh xảy ra 94 vụ cháy, nổ, làm chết 03 người, bị thương 02 người, thiệt hại được thống kê là 970,7 triệu đồng.6. Tình hình thiên tai, bảo vệ môi trường- Tình hình thiên tai: Tháng 8/2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 đợt mưa lớn diện rộng ở huyện Lập Thạch và huyện Tam Đảo và 01 vụ sạt lở đất tại huyện Sông Lô gây thiệt hại nghiêm trọng, làm 04 người tử vong, 01 nhà cấp 4 bị đổ, 01 nhà xưởng cấp 4 bị vùi lấp, ước tính thiệt hại khoảng 610 triệu đồng..- Công tác bảo vệ môi trường: Trong kỳ, trên địa bàn tỉnh phát hiện 81 vụ vi phạm môi trường (gồm: 32 vụ vi phạm về lĩnh vực khoáng sản, 49 vụ vi phạm về lĩnh vực môi trường), số vụ đã xử lý là 71 vụ với số tiền xử phạt là 639,74 triệu đồng. Lũy kế 8 tháng, phát hiện 680 vụ, 632 vụ đã xử lý với tổng số tiền xử phạt 5.868 triệu đồng./. Phòng Thống kê Tổng hợp
Công chức Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc vinh dự được trao giải thưởng “Cán bộ, công chức, viên chức trẻ giỏi toàn quốc lần thứ X”
- 05/09/2024 10:34
Tối ngày 30/8, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã tổ chức Chương trình trao Giải thưởng “Cán bộ, công chức, viên chức trẻ giỏi” toàn quốc lần thứ X, năm 2024. Từ 262 hồ sơ đề cử của 65/67 tỉnh, thành Đoàn và Đoàn trực thuộc. Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã thành lập Hội đồng bình chọn và lựa chọn 85 cán bộ, công chức, viên chức trẻ giỏi, tiêu biểu nhất năm 2024. Trong số đó, Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc vinh dự có một gương mặt được trao giải thưởng cao quý này.Chuyên viên Trần Đại Thành, thuộc Phòng Thống kê tổng hợp, Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, đã xuất sắc được vinh danh tại Giải thưởng “Cán bộ, công chức, viên chức trẻ giỏi” toàn quốc lần thứ X, năm 2024 với hai sáng kiến nổi bật: “Số hóa dữ liệu niên giám thống kê cấp huyện, đồng thời ứng dụng công cụ Hyperlink vào tra cứu số liệu trong niên giám thống kê cấp tỉnh và cấp huyện” và “Cải tiến phương pháp phân tích dữ liệu trong biên soạn báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng, quý, năm bằng công cụ Power Pivot”. Những sáng kiến này không chỉ nâng cao hiệu quả công tác chuyên môn mà còn cải thiện đáng kể việc phổ biến thông tin thống kê, giúp người dùng dễ dàng truy cập và khai thác dữ liệu hơn. Việc số hóa dữ liệu và ứng dụng công cụ Hyperlink đã rút ngắn thời gian tra cứu, giảm thiểu sai sót, và tăng cường tính chính xác trong quá trình sử dụng thông tin thống kê. Đồng thời, phương pháp phân tích dữ liệu cải tiến với công cụ Power Pivot giúp đơn giản hóa quá trình biên soạn báo cáo, tăng tốc độ xử lý và phân tích thông tin, góp phần nâng cao chất lượng và độ tin cậy của các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ. Những hiệu quả này đã mang lại sự thuận tiện cho người dùng và tối ưu hóa công tác thống kê tại đơn vị.Tham dự chương trình có các đồng chí: Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương Nguyễn Văn Thể; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Phan Văn Mãi; Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn Bùi Quang Huy; Phó Trưởng Ban Dân vận Trung ương Đỗ Văn Phớn; Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Thái Thu Xương... Sự kiện này đã góp phần khẳng định vai trò và tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trẻ trong công cuộc phát triển đất nước.Giải thưởng “Cán bộ, công chức, viên chức trẻ giỏi” toàn quốc là hoạt động nhằm đẩy mạnh công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong khối cán bộ, công chức, viên chức trẻ; tôn vinh, khen thưởng những gương mặt tiêu biểu với các giải pháp, mô hình và sáng kiến thiết thực, mang lại hiệu quả cao trong công tác chuyên môn. Đồng thời, giải thưởng cũng tạo ra môi trường và động lực để đoàn viên, thanh niên tích cực học tập, rèn luyện đạo đức, nâng cao kỹ năng chuyên môn, cống hiến cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.Chuyên viên Trần Đại Thành đã khẳng định vai trò tiên phong của mình khi luôn thể hiện tinh thần chủ động, sáng tạo trong công việc, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động Đoàn và phong trào thanh niên của Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và Đoàn Khối các cơ quan tỉnh nói chung. Với những đóng góp đáng kể trong công tác chuyên môn và hoạt động Đoàn, đồng chí Thành đã trở thành tấm gương sáng cho đồng nghiệp, xứng đáng với danh hiệu được vinh danh lần này./. Nguyễn Thị Thu Thảo